Câu đối Việt Nam
Từ Wikiquote
Thơ Tục Cổ Kim - Thi Thơ Đối Đáp Việt Nam Câu Đố - Câu đối Việt Nam - Chơi Chử
Trang này biên tập chủ để câu đối Việt Nam
Vợ cả, vợ hai, hai vợ đều là vợ cả.
Chồng tất, chồng vớ, hai chồng đều là chồng tất.
Con nuôi, con để, để nuôi (há) cậy con nuôi.(không rõ)
- "Ai công hầu, ai khanh tướng, trong trần ai, ai dễ biết ai" -- (Đặng Trần Thường - Tướng của Chúa Nguyễn Ánh)
- Thế Chiến quốc, Thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế --(Ngô Thì Nhậm - Tướng của Chúa Nguyễn Huệ)
- "Da trắng vỗ bì bạch" -- (Đoàn Thị Điểm)
- Rừng sâu mưa lâm thâm -- (Không rõ)
- "Sinh Sự, Sự Sinh" -- (Vô Danh)
- Tán Gái, Gái Tán -- (Không Tên)
- "Quá quan trì, quan quan bế, nguyện quá khách quá quan"
- Qua cửa ải trễ, cửa quan đóng, mời khách qua đường qua cửa quan. --(Đây là vế ra câu đối của quan giữ ải Phong Luỹ, Trung Quốc)
- "Xuất đối dị, đối đối nan, thỉnh tiên sinh tiên đối
- Ra câu đối dễ, đối câu đối khó, mời tiên sinh đối trước. --(Đây là câu đối lại của sứ thần Việt, trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi)
- "Đồng trụ chí kim đài dĩ lục
- Cột đồng đến nay rêu đã xanh. -- (vua Sùng Trinh nhà Minh)
- "Đằng giang tự cổ huyết do hồng
- Sông Đằng từ xưa máu còn đỏ. -- (Giang Văn Minh: sứ thần Đại Việt)
- "Mỹ nhân như ngọc, hành vũ, hành phong, anh linh mặc trắc.
- Tế thế kỳ âm, hộ dân, hộ quốc, thướng lai vô cùng." Nguyễn Khuyến --(Vế đối đề tại Đền thờ Thánh Mẫu Làng Cổ Ngựa, Xã Hiền Khánh, Huyện Vụ Bản, Nam Định)
- "Tứ thời bát tiết canh chung thủy" - (Bốn mùa, tám tiết luôn chung thủy)
- "Ngạn liễu đôi bồ dục điểm trang" - (Dặm liễu, gò bồ muốn điểm trang). -- Câu đối viết cho góa phụ bán thịt lợn)Nguyễn Khuyến
- Chí khí quán sơn hà, Việt Nam anh hùng duy hửu nhất
- Minh Tinh quang vũ trụ, Á Âu hào kiệt thị vô song -- (Câu đối do Mao Trạch Đông tặng chủ tịch Hồ Chí Minh)
- Chiều ba mươi, nợ hỏi tít mù, co cẳng đạp thằng Bần ra cửa.
- Sáng mồng một, rượu say tuý luý, giơ tay bồng ông Phúc vào nhà. -- (Nguyễn Công Trứ, câu đối làm vào dịp tết lúc còn hàn vi.)
- Tùng thanh, trúc thanh, chung khánh thanh, thanh thanh tự tại.
- Sơn sắc, thủy sắc, yên hà sắc, sắc sắc giai không. -- (Câu đối khắc ở chùa Diệu Đức, Huế).
- Tự (字) là chữ, cất giằng đầu, chữ tử (子) là con, con ai con nấy?
- Vu (于) là chưng, bỏ ngang lưng, chữ đinh (丁) là đứa, đứa nào đứa này? -- (Câu đối khắc ở chùa Diệu Đức, Huế).
- Cung kiếm ra tay, thiên hạ đổ dồn hai mắt lại.
- Rồng mây gặp hội, anh hùng chỉ có một ngươi thôi . -- (Câu đối tặng một người chột mắt mới đỗ khoa thi võ)
- Con cóc leo cây vọng cách, nó rơi xuống cọc, nó cạch đến già
- Con công đi qua chùa kênh, nó nghe tiếng cồng nó kềnh cổ lại . -- (Câu đối có bốn chữ : cóc cách cọc cạch đối với bốn chữ công kênh cồng kềnh)
- Chị em ơi! ba mươi sáu tuổi rồi, khắp đông, tây, nam, bắc bốn phương trời, đâu cũng lừng danh công tử xác.
- Trời đất nhẻ! gắng một phen này nữa, xếp cung, kiếm, cầm thư vào một gánh, làm cho nổi tiếng trượng phu . -- (Nguyễn Công Trứ, câu đối tự thuật)
- "Miệng nhà quan có gang có thép
- Đồ nhà khó vừa lọ lại vừa thâm
- Xuân, Hạ, Thu, Đông đủ bốn mùa
- Mai, Lan, Cúc, Trúc đủ bốn hoa
Thầy giáo tháo giày, tháo cả ủng, thủng cả áo, lấy giáo án dán áo ; Nhà trường nhường trà, nhường cả hoa, nhoà cả hương, đem lương hưu lưu hương. ( 1 vế của Văn Như Cương)
- Vũ vô kiềm tỏa, năng lưu khách
- Sắc bất ba đào, dị nịch nhân --(Không biết tác giả)
(Mưa, dù không xích không khóa, cũng có thể giữ chân khách ở lại
- Sắc đẹp, dù chẳng phải sóng gió, cũng dễ làm cho người ta chìm đắm)
- An Nam nhất thốn thổ, bất tri kỷ nhân canh -Sứ thần Trung Quốc
(An Nam có một tấc đất, không biết bao nhiêu người cày)
- Bắc quốc chư đại phu, giai do thử đồ xuất -Bà Đoàn thị Điểm
(Các đại phu nước phương Bắc, đều do từ chỗ ấy mà ra)

