Bước tới nội dung

Âm nhạc

Bộ sưu tập danh ngôn mở Wikiquote
Không có âm nhạc, cuộc đời chỉ là một sai lầm. ~ Friedrich Nietzsche[1]

Âm nhạc (chữ Hán: 音樂 hay nhạc là bộ môn nghệ thuật dùng âm thanh để diễn đạt cảm xúc người hát hoặc người nghe, nằm trong 7 loại hình nghệ thuật cơ bản.

Trích dẫn

[sửa]

Tiếng Việt

[sửa]
  • Thế kỷ 15, Lê Thánh Tông, Giới quan liêu
    Tiệc vây la ỷ người sum họp,
    Nhạc vỡ cầm tranh tiếng dõi ca.
    Phú quý nhìn xem yêu hết tấc,
    Máy nghèo sao khéo hãm người ta.
  • Thế kỷ 16, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Thơ vô đề, 21
    Thỏ dãi, ô vần hay ý nhiệm,
    Thước bay, nhảy, thấy cơ mầu.
    Đêm qua sơn tự chuông còn gióng,
    Mường tượng quân thiên khúc nhạc tâu.
  • 1547?, Nguyễn Dữ, Truyền kỳ mạn lục, 7 (Ngô Văn Triện dịch)
    名逃
    頂禮梵王
    Danh đào nhạc tịch
    Đính lễ Phạm vương
    Sổ ca-nhạc rút tên ra khỏi,
    Cửa Phạm-vương núp bóng tìm vào.
Hát cô đầu
  • Thế kỷ 18, Nguyễn Du, Truyện Kiều, câu 2285-6
    席排賞將󰍁軍
    喑󰝂𤿰陣習情楽軍
    Tiệc bày thưởng tướng khao quân,
    Om thòm trống trận, rập rình nhạc quân.
  • Thế kỷ 18, Ngô gia văn phái, Hoàng Lê nhất thống chí, VIII (Ngô Tất Tố dịch)
    Lúc ngài làm vua, chẳng qua khoanh tay rủ áo, tìm trò mua vui, không có việc gì phải lo. Ngài lại sính về các món kỹ-xảo lặt-vặt. Bao nhiêu cung điệu nhạc-phủ, ngài đều chế ra bài mới, tiếng bậc cực-kỳ du-dương.
  • ~, Phạm Đình Hổ, Vũ trung tùy bút, Bàn về âm nhạc (Nguyễn Hữu Tiến dịch)
    Đại lược các thứ âm nhạc không giống bên Trung Hoa, nhưng cũng có tiếng cao, tiếng trầm, tiếng trong, tiếng đục, đủ cả năm cung bảy thanh, không giỏi âm luật và hiểu chỗ khác nhau về tập quán của phương Nam phương Bắc, sự hạn chế về phong khí của núi sông, thì không thể biết hết được. Xem đó đủ biết thời xưa cũng đã nghiên cứu về được nhạc lắm.
  • 1800, Phạm Thái, Chiến tụng Tây Hồ phú
    Nhạc tiêu thiều còn lõm bõm khúc xưa, tiếng thanh điểu gọi người đi kẻ lại;
    Sắc chương phủ hãy lờ mờ dấu cũ, ngọn kim phong lay lá rụng chồi khô.
Chăn trâu thổi sáo
  • 1889, Trương Minh Ký, Như Tây nhựt trình
    Chỗ đàng thẳng người lanh quanh ngó,
    Coi đánh lăn tại đó đông dầy.
    Đàng kia tiếng nhạc êm tai,
    Mỗi tuần chiều có tại đây hai lần.
  • Thế kỷ 19, Nguyễn Đình Chiểu, Tự thuật
    Xe ngựa lao-xao giữa cõi trần.
    Biết ai thiên-tử, biết ai thần?
    Nhạc thiều tiếng dứt khôn trông phụng
    Sử Lỗ biên rồi khó thấy lân
  • ~, Khuyết danh, Nữ tú tài
    Bỗng nghe tiếng nhạc vang trời,
    Giục lòng thiếu nữ viễn hoài nhớ mong.
  • 1914, Lê Văn Phúc & Phan Kế Bính, Hưng Đạo vương, Hồi 18
    Trên bệ ngọc long nhan hớn hở,
    Nhạc Thiều tâu tiệc mở thưởng công.
    Vương, công, hầu, tướng vinh phong,
    Nổi danh hai nước anh-hùng nộp uy.
    Hải nhạc đã thu về chính khí,
    Đền Dược-sơn tụ tụy tinh anh.
Đàn gảy tai trâu
  • 1915, Phan Kế Bính, Việt Nam phong tục, Hát tuồng
    Thiết tưởng muốn theo cách văn minh thì chẳng những qui củ rạp hát, cùng là âm nhạc phải chỉnh đốn lại, mà đến những bài tuồng cũng nên sửa sang theo lối mới, mới bỏ những điều hoang đường, bớt những câu nhảm nhí, mà nhất là diễn theo sự tích của ta thì lại càng hay.
  • 1923, Nguyễn An Ninh, Cao vọng của bọn thanh niên An Nam
    Phải chăng những lời nói như vậy rất xa lạ với lỗ tai các bạn, là những phím nhạc hoàn toàn xa lạ, mới mẻ cho đến ngày nay? Và những mơ ước đó đối với các bạn thật xa vời biết bao nhiêu, và cũng rất khó mà chấp nhận ngay được.
Xướng ca vô loài
  • 1930, Tân Dân Tử, Gia Long tẩu quốc, Lời tựa của tác-giả
    Còn lịch-sử tiểu-thuyết thì tỏa đủ các nhơn vật sơn xuyên, tánh tình ngôn ngử, tỏa tới hỉ, nộ, ái, ố, trí nảo tinh thần, tỏa tới phong cãnh cỏ-hoa, cửa nhà đài các, nhành chim lá gió, nhạc suối kèn-ve, làm cho các độc giã ngồi xem quyển sách, miệng đọc câu văn, mà dường như mình đã hóa thân đi du lịch một phong-cãnh nào kia, xem thấy một nhơn-vật nào đó, khiến cho kẽ đọc ấy dễ cãm xúc vào lòng, dễ quan niệm vào trí.
  • 1932, Phan Bội Châu, Vấn đề giáo dục - Công dụng và giá trị... văn chương, 2
    Người đời xưa bàn âm-nhạc đã có câu nói rằng: tiếng của nước thịnh trị thì vui vẻ và hòa-bình, tiếng của nước suy vong thì dâm đãng và sầu thảm. Nghe âm-nhạc mà đoán được vận-mạng nước nhà, có một lý do như thế, văn-chương cũng vậy; văn-chương chẳng phải là một thứ âm-nhạc hay sao? Chẳng qua âm-nhạc thì gởi tính tình ở nơi đàn địch sinh tiêu, mà văn-chương thì gởi tính tình ở nơi câu thơ bản sách.
Người ơi, người ở đừng về
  • 1936, Thúc Tề, Trăng mơ
    Mây xám xây thành trên núi Bắc
    Nhạc mềm chới với giữa sương êm
    Trăng mờ mơ ngủ lim dim gật
    Ẻo lả nằm trên ngọn trúc mềm.
  • 1937, Thạch Lam, Tiếng chim kêu
    Tiếng mưa reo to và gió thổi như một thứ âm nhạc vui vui, ru ngủ người ta dần dần.
  • 1937, Chế Lan Viên, Điệu nhạc điên cuồng
    Hầu ran nóng, lửa hồng bừng cháy mắt
    Máu hồng tươi lay vỡ cả thành tim
    Đâu điệu nhạc điên cuồng ta khao khát
    Chẳng vang lên tràn ngập suối träng êm?[2]
Máy hát đĩa
  • 1939, Bích Khê, Nhạc
    Nàng ơi! Đừng động... có nhạc trong giây,
    Nhạc gây hoa mộng, nhạc ngát trong mây;
    Nhạc lên cung hường, nhạc vô đào động,
    Ô nàng tiên nương! - Hớp nhạc đầy hương.
  • 1939, Nam Trân, Giận khúc Nam ai
    Hãy đứng dậy! Vứt chiếc cầm ảo não!
    Tôi cần nghe những khúc nhạc rất hùng
    - Thét ngựa lòng phi mãi chẳng chồn chân -
    Sáng như gươm tuốt, mạnh như luồng bão.
  • 1939, Lan Khai, Tiếng gọi của rừng thẳm, XIX
    Bên ngoài, tiếng động đạc đã nhiều. Tỉnh thành thức giấc. Những hàng rong rao ời ợi. Xe ngựa chạy rầm rầm, rung cả cửa kính. Tiếng búa lò rèn nện chí chát. Tiếng còi ô tô bóp inh ỏi. Tiếng thùng sắt va lồng cồng... cuộc hòa nhạc của nơi đô hội bắt đầu!
  • 1940, Hàn Mặc Tử, Nhạc
    Nhạc vàng tỏ rõ
    Như sao trên trời
    Đem nguyền ra phơi
    Đem phần ra phơi
    Ân tình tri ngộ
    Trước đời trăng lên
    Em hãy làm duyên
  • 1940, Thâm Tâm, Dang dở
    Và thành chúc đời em luôn tươi sáng,
    Như mộng kiều đầm ấm tuổi xuân xanh,
    Như hương trinh bát ngát ý dịu lành,
    Hòa nhạc mới chiều dâng tơ hạnh phúc.
Cồng chiêng Tây Nguyên
  • 1940, Hồ Biểu Chánh, Đoạn tình, Chương II
    Bàn khiêng đi rồi, bồi chưa kịp quét, mà họ đã đốc nhạc đánh lên, rồi có ông thì cặp đàn bà, có ông thì cặp anh em bạn mà nhảy.
  • 1940, Huy Cận, Nhạc sầu
    Ai chết đó? Nhạc buồn chi lắm thế?
    Kèn đám ma hay ấy tiếng đau thương
    Của cuộc đời? Ai rút tự trong xương
    Tiếng nức nở gởi gió đường quạnh quẽ!
    Sầu chi lắm trời ơi! chiều tận thế![3]
  • ~, Nam Cao, Điếu văn
    Đã có người vợ trẻ của anh quăn người lại như một chiếc vỏ bào, và khóc nỉ non như một bản âm nhạc mới.
Cây đàn bỏ quên ~ Phạm Duy
  • ~, Phạm Hầu, Dạ nhạc
    Sắc người êm đềm câm như hoa
    Duyên người thầm kín, duyên thướt tha
    Nàng ôi! Tay măng gầy xinh đẹp
    Đẹp nhờ âm nhạc hay nhờ ma
  • 1949, Đông Hồ, Quán dương liễu
    Vườn thơ đôi cánh hồng mơn mởn,
    Đôi đoá đào non nhúng nhính cười.
    Giếng ngọc nước ngâm lòng mát rượi,
    Lời vàng nhạc nổi khúc chơi vơi.
  • 1961, Đinh Hùng, Sâm Thương sầu nhạc
    Người gái ngồi kia cất tiếng ngâm
    Một thiên ai oán, mấy câu trầm
    Thoáng nghe, chợt tưởng hồn sơn cước
    Cảm nỗi tiêu vong, đến khóc thầm[4]
  • 1964, Trường Hải, ca khúc Em yêu nhạc Brahms?
    Em yêu 'nhạc BRAHMS?
    cung tơ du dương dắt ta vào mộng
    đường mây chung bước tới.
    Chốn hoa lá không bao giờ phai.
Hát với đàn bầu
  • 1969, Bế Kiến Quốc, Đêm âm nhạc
    Anh nhìn vào đôi mắt em nâu
    Nhạc như vọng từ trong thăm thẳm ấy…
    Ước mơ ở trong lòng, nhạc vào khơi dậy
    Bàn tay mình đặt mát tay ta.[5]
  • 1975, Xuân Diệu, Nghe nhạc Nam
    Em ở Sài Gòn nghe thấu chăng,
    Hồn anh lưới nhạc tới giăng giăng...
    Đêm nay thức mãi cùng thương nhớ
    Không có mà như có bóng trăng...[6]
  • 1988, Phạm Thiên Thư, Hồn nhạc
    Tóc em dòng sông nhung
    Tay em mười cánh bạc
    Bắc con cầu thơ nhạc
    Đưa hồn ta năm cung[7]
  • 1991, Nguyễn Quang Thiều, Âm nhạc
    Con yêu những chiếc kèn, những chiếc trống và những chiếc nhị kia thổn thức
    Tất cả cũng yêu con buồn bã, lo âu
    Giai điệu cuối cùng của tình yêu này ngân lên và khẽ khàng đặt con vào mặt đất
    Rồi dắt con theo con đường hoa cỏ may nở trắng
    Trở về nhà mẹ rửa mặt cho con[8]
  • 1994, Lê Đạt, Dạo nhạc
    Mình nước đập ngà sông vỗ trắng
    Nhựa nhạc phồng con nốt khuông xuân[9]
Ban nhạc
  • ~, Kim Tuấn, Nghe nhạc ban đêm
    tiếng hát nào xa vắng
    tiếng hát nào đê mê
    sầu em sầu ở lại
    sầu anh sầu lê thê
    mưa trắng đường phố cũ
    ai đưa em trở về?[10]
  • 2007, Hoàng Nhuận Cầm, Năm nốt bâng quơ trên một cây đàn
    Trời ơi! Âm nhạc
    Sao-giống em-anh ngước lên-Mẹ em
    Im ắng-nhớ lại khi...
    Lá trên thềm, Xuân còn đi
    Bàn chân-lê bước lên-thang gác em
    Đây đời anh-không còn riêng.[11]
  • ~, Dương Kỳ Anh, Dàn nhạc mùa hè
    Khép cánh màn nhung
    Đỏ trời hoa phượng
    Ve là nhạc trưởng
    Dàn nhạc mùa hè[12]

Tiếng Anh

[sửa]
  • 1817, Byron, Manfred, hồi 1 cảnh 2
    —Oh, that I were
    The viewless spirit of a lovely sound,
    A living voice, a breathing harmony,
    A bodiless enjoyment—born and dying
    With the blessed tone which made me!
    Ôi, giá như ta là
    tâm linh âm thanh trác tuyệt chẳng thấy
    giọng ca sống động, giai điệu du dương,
    niềm hân hoan không thân xác—sinh ra và chết đi
    cùng âm điệu thánh tạo nên ta!
Nếu âm nhạc là thức ăn của tình yêu, thì hãy tiếp tục diễn tấu đi. ~ Shakespeare[14]
  • 1831, Letitia Elizabeth Landon, Romance and Reality, Chapter 8
    We would liken music to Aladdin's lamp—worthless in itself, not so for the spirits which obey its call. We love it for the buried hopes, the garnered memories, the tender feelings, it can summon with a touch.
    Chúng ta có thể ví âm nhạc như chiếc đèn thần, tự bản thân cái đèn thì chẳng giá trị gì nhưng ông thần tuân lệnh thì lại khác. Chúng ta yêu âm nhạc vì hy vọng bị chôn vùi, ký ức được tích lũy, cảm xúc dịu dàng mà nó có thể khơi gợi chỉ bằng cái chạm nhẹ.
  • 1884, Robert G. Ingersoll, Orthodoxy
    It fills the world with melody — for music is the voice of love.[15]
    Tình yêu lấp đầy thế giới bằng giai điệu vì âm nhạc là tiếng nói của tình yêu.
  • Thế kỷ 19, Percy Bysshe Shelley, To ——. 'Music, when soft voices die'
    Music, when soft voices die,
    Vibrates in the memory—
    Odours, when sweet violets sicken,
    Live within the sense they quicken.
    (Đỗ Tư Nghĩa dịch)
    Âm nhạc –
    Khi những giọng hát mềm tắt nghỉ –
    còn ngân hoài trong trí nhớ ta.
    Mùi hương –
    Khi hoa violet phai đi –
    vẫn còn mãi ngát thơm
    nơi cảm giác.
    (Trần Đức Phổ dịch)
    Âm nhạc,
    Khi lời thì thầm lịm đi
    Rung động trong trái tim thì vẫn ngân
    Mùi hương,
    Khi bông hoa Tím úa tàn
    Vẫn còn thoang thoảng mơ màng đâu đây
    [16]
  • Thế kỷ 19, Gerard Manley Hopkins, The Habit of Perfection
    Elected Silence, sing to me
    And beat upon my whorlèd ear,
    Pipe me to pastures still and be
    The music that I care to hear.
    Hỡi sự im lặng được bầu, hãy hát ta nghe
    Đập vào tai xoắn ốc ta,
    Đưa ta đến đồng cỏ xanh tươi cùng...
    Âm nhạc ta muốn nghe.
  • 1893, Antonín Dvořák, trả lời phỏng vấn của James Creelman trên tờ New York Herald:
    I am now satisfied that the future music of this country must be founded upon what are called negro melodies. This must be the real foundation of any serious and original school of composition to be developed in the United States.[17]
    Tôi tin chắc rằng âm nhạc tương lai của đất nước này phải được hình thành trên cái gọi là những giai điệu da đen. Chúng có thể làm nền tảng cho một trường phái sáng tác nghiêm túc và độc đáo được phát triển ở Mĩ.[18]
Nếu bạn nhìn đủ sâu, bạn sẽ thấy âm nhạc; trái tim của thiên nhiên là âm nhạc ở khắp nơi. ~ Thomas Carlyle[19]
  • 1909, G. K. Chesterton, George Bernard Shaw, The Critic
    Music is mere beauty; it is beauty in the abstract, beauty in solution. It is a shapeless and liquid element of beauty, in which a man may really float, not indeed affirming the truth, but not denying it.
    Âm nhạc chỉ đơn thuần là vẻ đẹp; vẻ đẹp trừu tượng, vẻ đẹp hòa quyện. Đó là một yếu tố vô hình và chảy lỏng của vẻ đẹp, trong đó con người có thể thực sự trôi nổi, không hẳn xác nhận hay phủ định chân lý.
  • 1952, Paul Hindemith, A Composer's World
    A chord is by no means an agglomeration of intervals. It is a new unit which, although dependent on the formative power of the single interval, is felt as being self-existent and as giving to the constituent intervals meanings and functions which they otherwise would not have.[20]
    Hợp âm không chỉ đơn thuần là tập hợp các quãng. Nó là đơn vị mới, dù phụ thuộc vào năng lực định hình từng quãng riêng lẻ, nhưng lại được cảm nhận đứng độc lập và mang lại cho những quãng cấu thành ý nghĩa và chức năng mà không có khi đứng riêng.
  • 1958, Chuck Berry, ca khúc Johnny B. Goode
    Someday you will be a man,
    And you will be the leader of a big old band.
    Many people coming from miles around
    To hear you play your music when the sun go down
    Maybe someday your name will be in lights
    Saying Johnny B. Goode tonight.[22]
    Ngày mai đó con nên người,
    dẫn dắt cả ban nhạc lớn.
    Nhiều người từ khắp nơi
    nghe con chơi nhạc khi mặt trời lặn
    Một ngày nào đó sân khấu tỏa sáng tên con
    rằng Johnny B. Goode tối nay.
  • 1960, Howard Hanson, Harmonic Materials of Modern Music
    The most complete knowledge of tonal material cannot create a composer any more than the memorizing of Webster's dictionary can produce a dramatist or poet. Music is, or should be, a means of communication, a vehicle for the expression of the inspiration of the composer. Without that inspiration, without the need to communicate, without— in other words— the creative spirit itself, the greatest knowledge will avail nothing.[23]
    Kiến thức âm nhạc uyên thâm nhất cũng không thể tạo ra một nhà soạn nhạc, cũng giống như việc học thuộc lòng từ điển Webster không thể tạo ra nhà viết kịch hay nhà thơ. Âm nhạc là hoặc nên là phương tiện giao tiếp, công cụ để thể hiện nguồn cảm hứng cho nhà soạn nhạc. Nếu thiếu nguồn cảm hứng đó, thiếu nhu cầu giao tiếp, nói cách khác, thiếu chính tinh thần sáng tạo, thì kiến ​​thức uyên thâm nhất cũng chẳng ích gì.
Trong tất cả mọi tiếng ồn, tôi nghĩ âm nhạc là thứ ít khó chịu nhất. ~ Samuel Johnson[24]
  • 1961, Ursula K. Le Guin, An die Musik
    He sat still a long time. Music will not save us, Otto Egorin had said. Not you, or me, or her, the big golden-voiced woman who had no children and wanted none; not Lehmann who sang the song; not Schubert who had written it and was a hundred years dead. What good is music? None, Gaye thought, and that is the point. To the world and its states and armies and factories and Leaders, music says, “you are irrelevant”; and, arrogant and gentle as a god, to the suffering man it says only, “Listen.” For being saved is not the point. Music saves nothing. Merciful, uncaring, it denies and breaks down all the shelters, the houses men build for themselves, that they may see the sky.[25]
    Ông ngồi im một lúc lâu. Âm nhạc sẽ không cứu rỗi chúng ta, Otto Egorin đã nói. Không phải anh, hay tôi, hay người phụ nữ có giọng hát vàng óng ả không có con và cũng không muốn có con; không phải Lehmann người hát ca khúc đó; không phải Schubert người đã viết nó và chết cách đây cả trăm năm. Âm nhạc có ích gì? Chẳng ích gì cả, Gaye nghĩ, và đó mới là vấn đề. Đối với thế giới, các quốc gia, quân đội, nhà máy và các nhà lãnh đạo, âm nhạc nói rằng “các ngươi không quan trọng”; hay kiêu ngạo và dịu dàng như thần linh, nó chỉ nói “Hãy lắng nghe” với người đau khổ. Vì được cứu rỗi không phải vấn đề. Âm nhạc không cứu rỗi được gì cả. Nhân từ, vô tâm, nó phủ nhận và phá hủy tất cả những nơi trú ẩn, những ngôi nhà mà con người xây dựng cho chính mình để họ nhìn thấy được bầu trời.
  • 1966, Robert Dozier, kịch bản phần The Joker Is Wild trong loạt phim truyền hình Batman
    Bruce Wayne: All music is important, Dick. It's the universal language. One of our best hopes for the eventual realization of the brotherhood of man.[26]
    Bruce Wayne: Tất cả âm nhạc đều quan trọng, Dick à. Đó là ngôn ngữ toàn cầu. Một trong những hy vọng tốt đẹp nhất để hiện thực hóa tình huynh đệ nhân loại mai này.
  • 1967, Louis Armstrong, thư gửi một người hâm mộ đang tham chiến tại Việt Nam[27]
    ‘Music is ‘life it’self. What would this ‘world be without ‘good music? No matter ‘what kind it is.
    Âm nhạc chính là cuộc sống. Thế giới này sẽ ra sao nếu không có âm nhạc hay? Không cần biết nó là loại nào.[28]
  • 1968, The Beatles, ca khúc Hey Jude
    Hey Jude, don't make it bad
    Take a sad song and make it better
    Remember to let her into your heart
    Then you can start to make it better[29]
    Jude này, đừng làm cho điều đó xấu thêm đi nữa,
    Hãy lấy một bài hát buồn
    và làm cho nó trở thành vui hơn
    Hãy nhớ rằng khi hình bóng nàng có trong tim anh,
    Là anh có thể làm cho điều đó tốt hơn lên rồi đó.
    [30]
  • 1968, Joan Baez, ca khúc No Man Is an Island
    I saw the people gather
    I heard the music start
    The song that they were singing
    Is ringing in my heart[31]
    Tôi thấy mọi người tụ họp,
    Tôi nghe tiếng nhạc bắt đầu.
    Ca khúc đang được cất lên
    Vẫn vang vọng trong lòng tôi.
Âm nhạc là sự khuây khỏa tốt nhất cho người đang tuyệt vọng. ~ Martin Luther King[32]
  • ~1970, Igor Fyodorovich Stravinsky
    The phenomenon of music is given to us with the sole purpose of establishing an order in things, including, and particularly, the co-ordination between man [sic] and time.[33]
    Âm nhạc đến với chúng ta chỉ với một mục đích duy nhất, thiết lập trật tự, bao gồm và đặc biệt bao gồm mối liên hệ giữa con người và thời gian.[34]
  • 1974, Elvis Presley
    In this day and time you can't even get sick. You are strung out. By god I'll tell you something, I have never been strung out in my life, except on music.[35]
    Ngày nay người ta thậm chí không thể ốm mà chỉ toàn bị nghiện thôi! Nhưng thề với Chúa, tôi sẽ nói cho bạn biết điều này: Tôi chưa bao giờ bị nghiện trong đời, ngoại trừ nghiện âm nhạc!
  • ~, Morton Feldman
    It appears to me that the subject of music, from Machaut to Boulez, has always been its construction. Melodies of 12-tone rows just don't happen. They must be constructed. … To demonstrate any formal idea in music, whether structure or stricture, is a matter of construction, in which the methodology is the controlling metaphor of the composition... Only by 'unfixing' the elements traditionally used to construct a piece of music could the sounds exist in themselves—not as symbols, or memories which were memories of other music to begin with.[36]
    Theo tôi thấy, chủ đề âm nhạc từ Machaut đến Boulez luôn là cấu trúc của nó. Giai điệu chuỗi 12 nốt không tự nhiên mà có. Chúng phải được xây dựng. … Để thể hiện bất kỳ ý tưởng hình thức nào trong âm nhạc, dù là cấu trúc hay kết cấu đều là vấn đề của sự xây dựng, trong đó phương pháp luận là ẩn dụ chi phối của tác phẩm… Chỉ bằng cách “phá vỡ” các yếu tố truyền thống dùng để xây nên một tác phẩm âm nhạc, âm thanh mới có thể tồn tại độc lập – không phải như những biểu tượng hay ký ức vốn dĩ về những bản nhạc khác ngay từ đầu.
  • 1981, Marvin Minsky, Music, Mind, and Meaning
    Music makes things in our minds, but afterward most of them fade away. What remains? In one old story about Mozart, the wonder child hears a lengthy contrapuntal mass and then writes down the entire score. I do not believe such tales, for history documents so few of them that they seem to be mere legend, though by that argument Mozart also would seem to be legend. Most people do not even remember the themes of an evening's concert. Yet, when the tunes are played again, they are recognized. Something must remain in the mind to cause this, and perhaps what we learn is not the music itself but a way of hearing it.[37]
    Âm nhạc tạo ra nhiều cảm xúc trong tâm trí chúng ta, nhưng sau đó hầu hết chúng đều phai nhạt dần. Vậy điều gì còn lại? Trong chuyện cũ về Mozart, thần đồng nghe được bài thánh ca đối âm dài và rồi viết lại toàn bộ bản nhạc. Tôi không tin những câu chuyện như vậy, vì lịch sử ghi chép rất ít khiến chúng dường như chỉ là truyền thuyết, mặc dù theo lập luận đó thì Mozart cũng có vẻ là một huyền thoại. Hầu hết mọi người thậm chí không nhớ được chủ đề một buổi hòa nhạc tối hôm đó. Tuy nhiên, khi giai điệu chơi lại cất lên, họ lại nhận ra chúng. Phải có điều gì đó còn đọng lại trong tâm trí để gây ra điều này, và có lẽ điều chúng ta học được không phải là chính âm nhạc mà là cách nghe nó.
  • 1991, Samuel Adler
    To me, the wonderful thing about music is a love affair between the performer and the composer, and between the composer and his audience. This love affair is a tripartite thing.[38]
    Với tôi, điều tuyệt vời nhất của âm nhạc chính là mối tình giữa người biểu diễn và nhà soạn nhạc, cũng như giữa nhà soạn nhạc và khán giả. Mối tình này là một mối quan hệ tay ba.
Cuộc sống và tình yêu tiếp tục trôi, hãy để nhạc vang lên. ~ Johnny Cash[39]
  • 2002, Eminem, ca khúc Sing For The Moment
    But music is reflection of self, we just explain it, and then we get our checks in the mail[40]
    nhưng âm nhạc là sự phản chiếu của tâm hồn, chúng tôi chỉ có thể giảng giải thế thôi, vì chúng tôi chỉ được đọc nó qua một bức thư.[41]
  • 2002, Susan McClary
    Most people have music in the center of their lives. I believe my work sheds light on how music affects us and why it is so influential.[42]
    Âm nhạc đóng vai trò trung tâm trong cuộc sống hầu hết mọi người. Tôi tin rằng tác phẩm của mình làm sáng tỏ cách âm nhạc ảnh hưởng đến chúng ta và tại sao nó lại có sức ảnh hưởng lớn đến vậy.
  • 2003, Lucy Green, Why ‘Ideology’ is Still Relevant for Critical Thinking in Music Education
    The focus of study on a particular aspect of music already contains implications about the music's value. As I have suggested, musical value has been seen to arise from properties such as universality, eternality, complexity, originality or autonomy.[43]
    Tập trung nghiên cứu một khía cạnh cụ thể của âm nhạc đã hàm chứa những hàm ý về giá trị âm nhạc đó. Như tôi đã gợi ý, giá trị âm nhạc được cho là xuất phát từ các thuộc tính như tính phổ quát, tính vĩnh cửu, tính phức tạp, tính độc đáo hoặc tính tự chủ.
  • 2004, Daniel Barenboim
    Despite the fact that as an art, music cannot compromise its principles, and politics, on the other hand, is the art of compromise, when politics transcends the limits of the present existence and ascents to the higher sphere of the possible, it can be joined there by music. Music is the art of the imaginary par excellence, an art free of all limits imposed by words, an art that touches the depth of human existence, and art of sounds that crosses all borders. As such, music can take the feelings and imagination of Israelis and Palestinians to new unimaginable spheres.[44]
    Mặc dù mang tư cách là một loại hình nghệ thuật, âm nhạc không thể thỏa hiệp dựa trên nguyên tắc của nó, còn chính trị là nghệ thuật thỏa hiệp, nhưng khi chính trị vượt qua giới hạn hiện thực và vươn lên đến tầm cao khả thi hơn, âm nhạc lại có thể đồng hành. Âm nhạc là nghệ thuật của trí tưởng tượng tuyệt vời nhất, một nghệ thuật không bị giới hạn bởi ngôn từ, một nghệ thuật chạm đến chiều sâu tồn tại loài người, và là nghệ thuật âm thanh vượt qua mọi ranh giới. Như vậy, âm nhạc có thể đưa cảm xúc và trí tưởng tượng người Israel và người Palestine đến những cõi mới không nghĩ ra nổi.
  • 2005, Enya
    Music is like a mirror in front of you. You're exposing everything, but surely that's better than suppressing.
    You have to dig deep and that can be hard for anybody, no matter what profession. I feel that I need to actually push myself to the limit to feel happy with the end result.[45]
    Âm nhạc giống như tấm gương phản chiếu trước mặt bạn. Bạn đang phơi bày mọi thứ, nhưng chắc chắn điều đó tốt hơn là kìm nén.
    Bạn phải đào sâu vào bên trong và với bất kỳ ai làm nghề gì thì điều đó cũng khó khăn. Tôi cảm thấy mình cần phải thực sự nỗ lực hết sức để hài lòng với kết quả cuối cùng.
Âm nhạc là câu trả lời của chim muông đối với tiếng ồn và sự nặng nề của ngôn từ. Nó đặt tâm trí vào trạng thái không nói nên lời đầy phấn khích. ~ Yann Martel[46]
  • 2006, Daniel Levitin, This is Your Brain on Music
    Music, or any art form for that matter, has to strike the right balance between simplicity and complexity in order for us to like it.[47]
    Âm nhạc hay bất kỳ loại hình nghệ thuật nào khác đều phải đạt được cân bằng hợp lý giữa sự đơn giản và phức tạp để chúng ta yêu thích nó.
  • 2010, Stuart Heritage, Why use Metallica as a military weapon when Glee is available?
    If there's one thing the US military enjoys more than keeping our womenfolk in silk stockings during the second world war, it's bombarding its enemies with objectively terrible music. Just last week a report crept out about a group of special psychological operations officers who drive around Afghanistan in an armoured vehicle and blast the locals with Taliban-peeving music like Metallica, Thin Lizzy and the Offspring at earth-shaking volume.
    The technique is called acoustic bombardment and – along with sensory deprivation and good old-fashioned sexual humiliation – is one of the military's favourite non-lethal coercion techniques. The music itself tends to be exactly the type of aggressively macho fare you'd expect. Metallica are always near the top of the pile, along with Eminem, Dr. Dre, Bruce Springsteen's Born In The USA – presumably because officers are experimenting with torture by profound lyrical sarcasm – and nonsense like Fuck Your God by gormless death metal quartet Deicide. David Gray's Babylon used to be on the playlist but it's fallen out of favour, either because Gray expressed his outrage, or because top brass realised that no crime is serious enough to warrant being made to listen to it more than once within a single lifetime.[48]
    Nếu có một điều mà quân đội Mỹ thích hơn cả việc giữ phụ nữ Mỹ trong những chiếc tất lụa trong Thế chiến thứ hai, đó là dội bom kẻ thù bằng những bản nhạc tệ hại. Mới tuần trước rò rỉ báo cáo về một nhóm sĩ quan đặc nhiệm tâm lý chiến lái xe bọc thép vòng quanh Afghanistan và dội vào người dân địa phương những bản nhạc khiến Taliban khó chịu như Metallica , Thin Lizzy và The Offspring với âm lượng rung chuyển mặt đất.
    Kỹ thuật này được gọi là dội bom âm thanh và cùng với việc hành hạ giác quan và làm nhục tình dục kiểu cũ, đâylà một trong những kỹ thuật cưỡng chế phi sát thương ưa thích của quân đội. Âm nhạc được dùng thường là loại nam tính hung hăng mà bạn có thể tưởng tượng. Metallica luôn nằm trong số những cái tên hàng đầu, cùng với Eminem, Dr. Dre, Born In The USA của Bruce Springsteen – có lẽ vì các sĩ quan đang thử nghiệm tra tấn bằng sự châm biếm sâu cay trong lời bài hát, kiểu những thứ vô nghĩa như Fuck Your God của nhóm death metal Deicide cuồng dại. Album Babylon của David Gray từng nằm trong danh sách phát nhưng giờ đã bị loại bỏ, có thể do Gray phản ứng sự phẫn nộ, hoặc vì cấp lãnh đạo nhận ra không có tội ác nào đủ nghiêm trọng để phải nghe nó hơn một lần trong đời.
  • 2011, John D. Barrow, The Artful Universe Expanded
    Ancient belief in a cosmos composed of spheres, producing music as angels guided them through the heavens, was still flourishing in Elizabethan times. ...There is a good deal more to Pythagorean musical theory than celestial harmony. Besides the music of the celestial spheres (musica mundana), two other varieties of music were distinguished: the sound of instruments...(musica instrumentalis), and the continuous unheard music that emanated from the human body (musica humana), which arises from a resonance between the body and the soul. ...In the medieval world, the status of music is revealed by its position within the Quadrivium—the fourfold curriculum—alongside arithmetic, geometry, and astronomy. Medieval students... believed all forms of harmony to derive from a common source. Before Boethius' studies in the ninth century, the idea of musical harmony was not considered independently of wider matters of celestial or ethical harmony.[49]
    Niềm tin cổ xưa về vũ trụ gồm những tầng trời, phát ra âm nhạc khi thiên sứ đưa chúng xuyên qua thiên đường, đến thời Elizabeth vẫn còn thịnh hành. ...Lý thuyết âm nhạc Pythagoras còn nhiều điều hơn là chỉ hài hòa thiên thượng. Bên cạnh âm nhạc tầng trời (musica mundana), người ta phân biệt hai loại khác: âm thanh nhạc cụ (musica instrumentalis) và âm nhạc vô hình liên tục phát ra từ cơ thể người (musica humana) xuất phát từ sự cộng hưởng thể xác và linh hồn. ...Thời trung cổ, vị thế âm nhạc được thể hiện qua vị trí của nó trong Quadrivium —chương trình học bốn môn—cùng với số học, hình họcthiên văn học. Môn sinh trung cổ... tin rằng tất cả hình thức hài hòa đều bắt nguồn từ một nguồn chung. Trước các nghiên cứu của Boethius thế kỷ 9, ý tưởng về hài hòa âm nhạc không được xem xét độc lập trong hài hòa thiên giới hoặc đạo đức.
  • 2011, Joe Karaganis, Media Piracy in Emerging Economies
    Our study adds relatively little to the volumes that have been written about the digital transition in the music industry - often held up as the "canary in the coal mine" for other media markets.[50]
    Nghiên cứu bổ sung tương đối ít vào những tài liệu sẵn có về quá trình chuyển đổi kỹ thuật số trong ngành công nghiệp âm nhạc - thường được coi là "chim hoàng yến trong mỏ than" đối với các thị trường truyền thông khác.
  • 2013, Amy Novotney, Music as medicine
    The researchers found that listening to and playing music increase the body's production of the antibody immunoglobulin A and natural killer cells — the cells that attack invading viruses and boost the immune system's effectiveness. Music also reduces levels of the stress hormone cortisol.[51]
    Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng việc nghe và chơi nhạc làm tăng sản xuất kháng thể immunoglobulin A và tế bào sát thủ tự nhiên trong cơ thể - những tế bào tấn công virus xâm nhập và tăng cường hiệu quả của hệ miễn dịch. Âm nhạc cũng làm giảm mức độ hormone căng thẳng cortisol.
Âm nhạc chẳng là gì khác ngoài những âm thanh hoang dã được văn minh hóa vào thời gian và giai điệu. ~ Thomas Fuller[52]
  • 2016, Barack Obama, Remarks in Address to the People of Vietnam (Bài phát biểu trước người dân Việt Nam)
    I think of all the Americans and Vietnamese who have crossed a wide ocean -- some reuniting with families for the first time in decades -- and who, like Trinh Cong Son said in his song, have joined hands, and opening their hearts and seeing our common humanity in each other.
    Tôi nghĩ đến tất cả những người Mỹ và người Việt Nam đã vượt qua biển cả mênh mông – trong đó có một số người lần đầu tiên được đoàn tụ với gia đình sau nhiều thập niên – và những người như nhạc sỹ Trịnh Công Sơn đã viết trong ca khúc của mình, đã nối vòng tay lớn để mở tấm lòng của mình ra để thấu suốt trái tim mình và nhìn thấu tình người trong mỗi chúng ta.
  • 2017, Ariana Grande
    Music is something everyone on Earth can share.
    Music is meant to heal us, to bring us together, to make us happy.[53]
    Âm nhạc là thứ mà mọi người trên Trái Đất đều có thể chia sẻ.
    Âm nhạc có tác dụng chữa lành, kết nối và mang lại hạnh phúc cho chúng ta.
  • 2022, Gregory Benford, Shadows of Eternity
    Today’s Earrthside music has all the variety of a jackhammer.[54]
    Nhạc Earthside ngày nay chẳng khác gì máy khoan bê tông.

Tiếng Ba Lan

[sửa]
  • 1831, Franciszek Kowalski, Muzyka
    Kto chce usłyszeć muzykę cudną,
    Niech na plac bitwy póydzie ukradkiem;
    Tam się na wieki uśpi nietrudno,
    Kiedy instrument trafi przypadkiem.
    Nhạc vang lên trong giai điệu nước,
    mở bung ra đôi cánh sấm rền:
    Phố thiên đường rung chuyển tận trên
    và cả thế giới——
  • 1908, Jerzy Żuławski, Muzyka
    Ty mi raczej pogrzebne marsze graj Szopena,
    wielkie, tęskne i święte pieśni Bethowena,
    nutę Bacha potężnem echem wciąż rosnącą;
    Hãy cho tôi nghe khúc nhạc tang lễ của Chopin
    khúc ca trác tuyệt vời, đầy khát khao và thiêng liêng của Beethoven,
    những nốt nhạc của Bach âm vang càng lúc càng mạnh;
Khúc nhạc hiệu - Bản trữ tình của Stanisław Lentz khoảng năm 1910
  • 1921, Józef Gałuszka, Muzyka
    Idzie Muzyka w akordach wód,
    rozwarła skrzydła błyskawicowe:
    wali się w gruzy niebieski gród
    i świat — —
    Ai muốn nghe nhạc hay,
    Hãy lén ra chiến trường;
    Dễ chìm giấc ngủ say
    Khi nhạc chợt tràn đầy
  • 1926, Jan Kasprowicz, Muzykanci
    Wracamy z jego pogrzebu,
    Weselni grajkowie niezdarni,
    Jak grać, to grać, na weselu,
    Czy też pod ścianą trupiarni.
    Chúng tôi từ tang lễ về,
    Nhạc công đám cưới vụng về,
    Chơi nhạc phải trong hôn lễ
    Hay dựa tường nhà xác mà chơi.
  • ~, Leszek Możdżer
    Mięśnie dłoni muszą być wyćwiczo­ne i dob­rze roz­grza­ne, żebym mógł się swo­bod­nie wy­razić. Żeby one mogły opo­wie­dzieć coś za mnie. Bo dłonie mają swoją mądrość, jak­by były pro­wadzo­ne. I tak jak­by pro­wadziły mnie. Wte­dy mu­zyka uwal­nia się sa­ma i żyje już włas­nym życiem. A ja po­zos­taję sam.[55]
    ở tay phải được rèn luyện và khởi động kỹ để tôi có thể thoải mái thể hiện bản thân. Để chúng có thể giúp tôi nói lên điều gì đó. Bởi vì đôi tay có trí tuệ riêng như thể được hướng dẫn. Cứ như thể chúng đang hướng dẫn tôi vậy. Rồi âm nhạc sẽ tự giải phóng và có đời sống riêng. Còn tôi vẫn một mình.

Tiếng Do Thái

[sửa]
Bài chi tiết: Cựu Ước
  • וְשֵׁ֥ם אָחִ֖יו יוּבָ֑ל ה֣וּא הָיָ֔ה אֲבִ֕י כׇּל־תֹּפֵ֥שׂ כִּנּ֖וֹר וְעוּגָֽב׃ (בראשית ד)
    Em người là Giu-banh, tổ-phụ của những kẻ đánh đờn và thổi sáo. (Sáng thế ký 4:21)
  • אָ֣ז יָשִֽׁיר־מֹשֶׁה֩ וּבְנֵ֨י יִשְׂרָאֵ֜ל אֶת־הַשִּׁירָ֤ה הַזֹּאת֙ לַֽיהֹוָ֔ה וַיֹּאמְר֖וּ לֵאמֹ֑ר  אָשִׁ֤ירָה לַֽיהֹוָה֙ כִּֽי־גָאֹ֣ה גָּאָ֔ה  ס֥וּס וְרֹכְב֖וֹ רָמָ֥ה בַיָּֽם׃ (שמות טו)
    Đoạn, Môi-se và dân Y-sơ-ra-ên hát bài ca nầy cho Đức Giê-hô-va, rằng:
    Tôi ca-tụng Đức Giê-hô-va, vì Ngài rất vinh-hiển oai-nghiêm.
    Ngài đã liệng xuống biển ngựa và người cỡi ngựa.
    (Xuất Ai Cập ký 15:1)
Bài ca của Moses bên Biển Đỏ
  • אָ֚ז יָשִׁ֣יר יִשְׂרָאֵ֔ל אֶת־הַשִּׁירָ֖ה הַזֹּ֑את עֲלִ֥י בְאֵ֖ר עֱנוּ־לָֽהּ׃ (במדבר כא)
    Y-sơ-ra-ên bèn hát bài nầy:
    Hỡi giếng, hãy tuôn lên! hãy ca-hát cho nó!
    (Dân số ký 21:17)
  • וַיְדַבֵּ֣ר מֹשֶׁ֗ה בְּאׇזְנֵי֙ כׇּל־קְהַ֣ל יִשְׂרָאֵ֔ל אֶת־דִּבְרֵ֥י הַשִּׁירָ֖ה הַזֹּ֑את עַ֖ד תֻּמָּֽם׃ (דברים לא)
    Môi-se đọc hết những lời của bài ca nầy cho cả hội Y-sơ-ra-ên nghe: (Phục truyền luật lệ ký 31:30)
  • רֹכְבֵי֩ אֲתֹנ֨וֹת צְחֹר֜וֹת  יֹשְׁבֵ֧י עַל־מִדִּ֛ין וְהֹלְכֵ֥י עַל־דֶּ֖רֶךְ שִֽׂיחוּ׃ (שופטים ה)
    Hỡi các người cỡi con lừa bạch,
    Ngồi trên khảm,
    Đi bộ trên đường cái, khá hát mừng!
    (Các Quan Xét 5:10)
  • וְדָוִ֣ד ׀ וְכׇל־בֵּ֣ית יִשְׂרָאֵ֗ל מְשַֽׂחֲקִים֙ לִפְנֵ֣י יְהֹוָ֔ה בְּכֹ֖ל עֲצֵ֣י בְרוֹשִׁ֑ים וּבְכִנֹּר֤וֹת וּבִנְבָלִים֙ וּבְתֻפִּ֔ים וּבִמְנַעַנְעִ֖ים וּֽבְצֶלְצֱלִֽים׃ (שמואל ב ו)
    Đa-vít và cả nhà Y-sơ-ra-ên đều múa hát trước mặt Đức Giê-hô-va với đủ thứ nhạc-khí bằng gỗ bá-hương, đờn cầm, đờn sắt, trống, bạt, và mã-la. (II Samuên 6:5)
  • וַיְהִ֣י כְ֠אֶחָ֠ד למחצצרים לַמְחַצְּרִ֨ים וְלַמְשֹׁרְﬞרִ֜ים לְהַשְׁמִ֣יעַ קוֹל־אֶחָ֗ד לְהַלֵּ֣ל וּלְהֹדוֹת֮ לַיהֹוָה֒ וּכְהָרִ֣ים ק֠וֹל בַּחֲצֹצְר֨וֹת וּבִמְצִלְתַּ֜יִם וּבִכְלֵ֣י הַשִּׁ֗יר וּבְהַלֵּ֤ל לַֽיהֹוָה֙ כִּ֣י ט֔וֹב כִּ֥י לְעוֹלָ֖ם חַסְדּ֑וֹ וְהַבַּ֛יִת מָלֵ֥א עָנָ֖ן בֵּ֥ית יְהֹוָֽה׃ (דברי הימים ב ה)
    Xảy khi kẻ thổi kèn và kẻ ca-hát đồng-thinh hòa nhau như một người, mà khen-ngợi cảm-tạ Đức Giê-hô-va, và khi họ trổi tiếng kèn, chập-chỏa, nhạc-khí lên khen-ngợi Đức Giê-hô-va, rằng: Ngài từ-thiện, lòng thương-xót Ngài hằng có đời đời, thì đền của Đức Giê-hô-va bị mây lấp đầy; (II Sử ký 5:13)
Hãy ca hát cho Ngài, hãy ngợi-khen Ngài! - I Sử ký 16:7
  • וְֽאֶחָ֡יו שְֽׁמַעְיָ֡ה וַעֲזַרְאֵ֡ל מִֽלְﬞלַ֡י גִּֽלְﬞלַ֡י מָעַ֞י נְתַנְאֵ֤ל וִֽיהוּדָה֙ חֲנָ֔נִי בִּכְלֵי־שִׁ֥יר דָּוִ֖יד אִ֣ישׁ הָאֱלֹהִ֑ים וְעֶזְרָ֥א הַסּוֹפֵ֖ר לִפְנֵיהֶֽם׃ (נחמיה יב)
    cùng các anh em người, là Sê-ma-gia, A-xa-rên, Mi-la-lai, Ghi-la-lai, Ma-ai, Nê-tha-nê-ên, Giu-đa, và Ha-na-ni, cầm những nhạc-khí của Đa-vít, người của Đức Chúa Trời; và E-xơ-ra, người văn-sĩ, đi ở đằng trước chúng. (Nêhêmi 12:36)
  • יִ֭שְׂאוּ כְּתֹ֣ף וְכִנּ֑וֹר
    וְ֝יִשְׂמְח֗וּ לְק֣וֹל עוּגָֽב׃ (איוב כא)
    Hát múa theo tiếng trống nhỏ và đờn cầm,
    Và vui-mừng theo tiếng kèn-sáo.
    (Gióp 21:12)
  • כִּֽי־רוֹצֶ֣ה יְהֹוָ֣ה בְּעַמּ֑וֹ
    יְפָאֵ֥ר עֲ֝נָוִ֗ים בִּישׁוּעָֽה׃ (תהלים קמט)
    Hãy đánh trống cơm và nhảy-múa, mà hát ngợi-khen Ngài!
    Hãy gảy nhạc-khí bằng dây và thổi sáo, mà ca-tụng Ngài!
    (Thi Thiên 150:4)
  • בְּפֶ֤שַֽׁע אִ֣ישׁ רָ֣ע מוֹקֵ֑שׁ
    וְ֝צַדִּ֗יק יָר֥וּן וְשָׂמֵֽחַ׃ (משלי כט)
    Trong tội-lỗi của kẻ ác có một cái bẫy,
    Nhưng người công-bình ca-hát mừng-rỡ.
    (Châm ngôn 29:6)
  • ט֕וֹב לִשְׁמֹ֖עַ גַּעֲרַ֣ת חָכָ֑ם מֵאִ֕ישׁ שֹׁמֵ֖עַ שִׁ֥יר כְּסִילִֽים׃ (קהלת ז)
    Thà nghe lời quở-trách của người khôn-ngoan, còn hơn là câu hát của kẻ ngu-muội. (Truyền Đạo 7:5)
Và làm kẻ hát êm-dịu của Y-sơ-ra-ên. - II Samuên 23:1
  • הַנִּצָּנִים֙ נִרְא֣וּ בָאָ֔רֶץ עֵ֥ת הַזָּמִ֖יר הִגִּ֑יעַ וְק֥וֹל הַתּ֖וֹר נִשְׁמַ֥ע בְּאַרְצֵֽנוּ׃ (שיר השירים ב)
    Bông hoa nở ra trên đất;
    Mùa hát-xướng đã đến nơi,
    Và tiếng chim cu nghe trong xứ;
    (Nhã Ca 2:12)
  • יְהֹוָ֖ה לְהוֹשִׁיעֵ֑נִי וּנְגִנוֹתַ֧י נְנַגֵּ֛ן כׇּל־יְמֵ֥י חַיֵּ֖ינוּ עַל־בֵּ֥ית יְהֹוָֽה׃ (ישעיהו לח)
    Đức Giê-hô-va là Đấng cứu tôi! Trọn đời chúng tôi sẽ đờn và hát trong nhà Đức Giê-hô-va! (Êsai 38:20)
  • שִׁ֚ירוּ לַֽיהֹוָ֔ה הַֽלְל֖וּ אֶת־יְהֹוָ֑ה כִּ֥י הִצִּ֛יל אֶת־נֶ֥פֶשׁ אֶבְי֖וֹן מִיַּ֥ד מְרֵעִֽים׃ (ירמיהו כ)
    Hãy hát cho Đức Giê-hô-va, hãy ngợi-khen Đức Giê-hô-va! Vì Ngài đã giải-cứu linh-hồn kẻ nghèo-nàn ra khỏi tay những kẻ ác. (Giêrêmi 20:13)
  • הָיִ֤יתִי שְּׂחֹק֙ לְכׇל־עַמִּ֔י נְגִינָתָ֖ם כׇּל־הַיּֽוֹם׃ (איכה ג)
    Ta làm trò cười cho cả dân ta, họ lấy ta làm bài hát cả ngày. (Ca Thương 3:14)
  • וְהִשְׁבַּתִּ֖י הֲמ֣וֹן שִׁירָ֑יִךְ וְק֣וֹל כִּנּוֹרַ֔יִךְ לֹ֥א יִשָּׁמַ֖ע עֽוֹד׃ (יחזקאל כו)
    Ta sẽ làm cho dứt tiếng hát của mầy, và người ta sẽ không còn nghe tiếng đờn cầm của mầy nữa. (Êxêchiên 26:13)
Nhạc cụ Hebrew
  • כְּעַ֞ן הֵ֧ן אִֽיתֵיכ֣וֹן עֲתִידִ֗ין דִּ֣י בְעִדָּנָ֡א דִּֽי־תִשְׁמְע֡וּן קָ֣ל קַרְנָ֣א מַשְׁרוֹקִיתָ֣א קיתרס קַתְר֣וֹס שַׂבְּכָ֡א פְּסַנְתֵּרִין֩ וְסוּמְפֹּ֨נְיָ֜ה וְכֹ֣ל ׀ זְנֵ֣י זְמָרָ֗א תִּפְּל֣וּן וְתִסְגְּדוּן֮ לְצַלְמָ֣א דִֽי־עַבְדֵת֒ וְהֵן֙ לָ֣א תִסְגְּד֔וּן בַּהּ־שַׁעֲתָ֣א תִתְרְמ֔וֹן לְגֽוֹא־אַתּ֥וּן נוּרָ֖א יָקִֽדְתָּ֑א וּמַן־ה֣וּא אֱלָ֔הּ דִּ֥י יְשֵֽׁיזְבִנְכ֖וֹן מִן־יְדָֽי׃ (דניאל ג)
    Vậy bây giờ, khi các ngươi nghe tiếng còi, kèn, đờn cầm, đờn sắt, quyển, sáo và các thứ nhạc-khí, mà các ngươi sẵn-sàng sấp mình xuống đất để quì-lạy pho tượng mà ta đã làm nên, thì được; nhưng nếu các ngươi không quì-lạy, thì chính giờ đó các ngươi sẽ phải quăng vào giữa lò lửa hực. Rồi thần nào có thể giải-cứu các ngươi khỏi tay ta? (Đaniên 3:15)
  • הַפֹּרְטִ֖ים עַל־פִּ֣י הַנָּ֑בֶל כְּדָוִ֕יד חָשְׁב֥וּ לָהֶ֖ם כְּלֵי־שִֽׁיר׃ (עמוס ו)
    Thật, các ngươi hát bài bậy-bạ họa theo đờn cầm, bày-vẽ ra những đồ nhạc-khí cho mình như vua Đa-vít. (Amốt 6:5)
  • בַּיּ֨וֹם הַה֜וּא יִשָּׂ֧א עֲלֵיכֶ֣ם מָשָׁ֗ל וְנָהָ֨ה נְהִ֤י נִֽהְיָה֙ אָמַר֙ שָׁד֣וֹד נְשַׁדֻּ֔נוּ חֵ֥לֶק עַמִּ֖י יָמִ֑יר אֵ֚יךְ יָמִ֣ישׁ לִ֔י לְשׁוֹבֵ֥ב שָׂדֵ֖ינוּ יְחַלֵּֽק׃ (מיכה ב)
    Trong ngày đó, người ta sẽ lập lại một câu thí-dụ về các ngươi; sẽ hát một bài ca thương sầu-thảm mà nói rằng: Chúng ta bị hủy-diệt cả rồi! Ngài dời sản-nghiệp của dân ta, khiến cho lìa khỏi ta, lấy đất-ruộng của ta mà chia cho kẻ bạn-nghịch. (Michê 2:4)
  • יְהֹוָ֧ה אֱלֹהַ֛יִךְ בְּקִרְבֵּ֖ךְ גִּבּ֣וֹר יוֹשִׁ֑יעַ יָשִׂ֨ישׂ עָלַ֜יִךְ בְּשִׂמְחָ֗ה יַֽחֲרִישׁ֙ בְּאַ֣הֲבָת֔וֹ יָגִ֥יל עָלַ֖יִךְ בְּרִנָּֽה׃ (צפניה ג)
    Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ở giữa ngươi; Ngài là Đấng quyền-năng sẽ giải-cứu ngươi: Ngài sẽ vui-mừng cả-thể vì cớ ngươi; vì lòng yêu-thương mình, Ngài sẽ nín-lặng; và vì cớ ngươi Ngài sẽ ca-hát mừng-rỡ. (Sôphôni 3:17)
  • ה֣וֹי ה֗וֹי וְנֻ֛סוּ מֵאֶ֥רֶץ צָפ֖וֹן נְאֻם־יְהֹוָ֑ה כִּ֠י כְּאַרְבַּ֞ע רוּח֧וֹת הַשָּׁמַ֛יִם פֵּרַ֥שְׂתִּי אֶתְכֶ֖ם נְאֻם־יְהֹוָֽה׃ (זכריה ב)
    Hỡi con gái Si-ôn, hãy hát mừng và vui-vẻ; vì nầy, ta đến, và ta sẽ ở giữa ngươi, Đức Giê-hô-va phán vậy. (Xachari 2:10)

Tiếng Đức

[sửa]
Âm nhạc không nằm ở các nốt nhạc mà nằm ở khoảng lặng giữa chúng. ~ Mozart[56]
  • 1781, Joseph Haydn, thư gửi nhà xuất bản Ataria[57]
    Uebersende hiermit die ersten 12 Lieder besonders aber bitte ich Euer Hoch Edlen diese Lieder niemanden zuvor abspielten oder singen oder gar aus absicht verhunzen zu lassen, indem ich selbst nach deren Verfertigung dieselbe in den critischen Häusern absingen werde: durch die gegenwart und den wahren Vortrag muß der Meister sein Recht behaupten.
    Tôi gửi riêng 12 bản tấu đầu tiên, nhưng khẩn xin người cao nhất trong số các anh đừng để ai diễn tấu trước hoặc thậm chí chỉ là làm lộ ra. Vì chính tôi sẽ diễn tấu trước những nhà phê bình sau khi hoàn tất: thông qua sự có mặt và biểu diễn đích thực, chủ sở hữu phải khẳng định được quyền của mình.
  • 1896, Gustav Mahler, thư gửi Max Marschalk[58]
    Ich weiß für mich, daß ich, solang ich mein Erlebnis in Worten zusammenfassen kann, gewiß keine Musik hierüber machen würde.
    Bản thân tôi biết rằng miễn là mình có thể tóm tắt trải nghiệm bằng lời thì chắc chắn sẽ không sáng tác nhạc về nó.
    Dị bản tiếng Anh phổ biến: If a composer could say what he had to say in words he would not bother trying to say it in music.
    Nếu nhà soạn nhạc có thể nói những gì cần bằng lời thì sẽ không nói bằng âm nhạc nữa.

Tiếng Hy Lạp

[sửa]
  • 1889, Ioannis Foustanos, Η μουσική υπό αισθητικήν έποψιν
    Οὕτω δὲ ἡ μουσικὴ διὰ τῶν ἤχων παριστάνει τὸν ἥσυχον καὶ ῥυθμικὸν φλοῖσβον γαληνιώσης θαλάσσης ἢ τὸν βρέμοντα ῥόχθον ἐξηγριωμένης τρικυμίας· μιμεῖται τὸ ἡδὺ καὶ μαλακὸν κελάρυσμα τοῦ ῥέοντος ῥυακίου ὀφιοειδῶς κατεργασμένου διὰ μέσου συσκίου λόχμης, ἢ τὸν ὀργίλον θόρυβον ὁρμητικοῦ χειμάρρου διὰ μέσου κατωφερῶν φαράγγων μετὰ πατάγου κυλιομένου· ἐμφαίνει τὰς πιπτούσας σταγόνας τῆς βροχῆς· παριστάνει τὴν θύελλαν μετὰ βροντῶν καὶ ἀστραπῶν ἢ πραΰνει τὴν καταιγίδα καὶ ἐπαναφέρει τὴν γαλήνην καὶ ἠρεμίαν· μιμεῖται τὸν ἁβρὸν ψίθυρον καὶ λεπτὸν θροῦν τῶν χλοανθῶν καὶ θαλερῶν λειμώνων, ἐφ’ ὧν ἁπλοῦται λεπτὸν μυροβόλου αὔρας στρῶμα· παριστᾷ τὸν ὑποφρίσσοντα θρύλλον φυλλώματος συσκίου καὶ συνηρεφοῦς δάσους, ὅπερ θωπεύει μειλιχίως γλυκεῖα καὶ ἁβρὰ πνοὴ ζεφύρου, ἢ μιμεῖται τὸν ὀξὺν συριγμὸν μυκωμένου ἀνέμου.
    Thông qua âm thanh, âm nhạc thể hiện tiếng gầm nhẹ nhàng và nhịp nhàng của biển lặng hoặc bão to gầm rú; nó mô phỏng tiếng róc rách êm tai của dòng suối uốn lượn qua bụi rậm, hoặc tiếng rào rào của dòng thác ào ạt chảy xuống vực sâu; nó thể hiện những giọt mưa rơi; nó thể hiện cơn bão đầy sấm sét hay làm bão tan để lấy lại bình yên và tĩnh lặng; nó mô phỏng tiếng thì thầm và tiếng kêu dịu dàng của cỏ cây đồng nội, nơi lớp gió thơm thoang thoảng lan tỏa; nó thể hiện tiếng rì rầm tán lá râm mát và khu rừng cao vút, nhẹ nhàng che giấu hơi thở ngọt ngào và ẩm ướt của làn gió nhẹ, hoặc mô phỏng tiếng rít sắc bén của gió lùa tản rêu.
Do dự giữa âm nhạc và hội họa của Angelica Kauffmann năm 1794
  • 1930, Maria Polydouri, Η αποτυχημένη Συμφωνία
    Οι κριτικοί κινούν βουβά τα χείλη
    σαν μ' ακαταδεξία: τι λες εκεί!
    Κι ανησυχούν στ' αλήθεια τι θα πούνε...
    «Μια τόσο δίχως χρώμα μουσική»!
    Các nhà phê bình khẽ mấp máy môi
    như không đồng tình: anh nói gì vậy!
    Lòng lo âu những gì mình sẽ nói...
    "Thứ âm nhạc gì mà nhạt nhẽo quá!"
  • ~1930, George Sarantaris, Μέσα στη μουσική
    Μέσα στη μουσική υπάρχει χώρος
    Να κοιμηθεί ο άνεμος
    Μαζί του να ταξιδέψουμε κι εμείς
    Trong nhạc có nơi
    Để gió ngủ yên
    Để ta đi cùng

Kinh Thánh Tân Ước

[sửa]
Bài chi tiết: Tân Ước
  • Καὶ ὑμνήσαντες ἐξῆλθον εἰς τὸ ὄρος τῶν ἐλαιῶν. (Κατά Μάρκον)
    Khi đã hát thơ thánh rồi, Chúa và môn-đồ đi ra đặng lên núi Ô-li-ve. (Mác 9:49)
  • ἦν δὲ ὁ υἱὸς αὐτοῦ ὁ πρεσβύτερος ἐν ἀγρῷ· καὶ ὡς ἐρχόμενος ἤγγισε τῇ οἰκίᾳ, ἤκουσε συμφωνίας καὶ χορῶν. (Κατά Λουκάν)
    Vả, con trai cả đương ở ngoài đồng. Khi trở về gần đến nhà, nghe tiếng đờn ca nhảy múa, (Luca 15:25)
Người con trai hoang đàng giữa phường đĩ điếm của môn sinh Jan Cornelisz Vermeyen khoảng năm 1540
  • τινὲς δὲ καὶ τῶν Ἀσιαρχῶν, ὄντες αὐτῷ φίλοι, πέμψαντες πρὸς αὐτόν, παρεκάλουν μὴ δοῦναι ἑαυτὸν εἰς τὸ θέατρον. (Πράξεις των Αποστόλων)
    Cũng có mấy quan lớn xứ A-si, là bạn-hữu người, sai đến xin người chớ đi tới rạp hát. (Công vụ 2:19)
  • τί οὖν ἐστί; προσεύξομαι τῷ πνεύματι, προσεύξομαι δὲ καὶ τῷ νοΐ. ψαλῶ τῷ πνεύματι, ψαλῶ δὲ καὶ τῷ νοΐ. (Προς Κορινθίους Α')
    Vậy thì tôi sẽ làm thế nào? Tôi sẽ cầu-nguyện theo tâm-thần, nhưng cũng cầu-nguyện bằng trí-khôn. Tôi sẽ hát theo tâm-thần, nhưng cũng hát bằng trí-khôn. (I Côrinhtô 3:13)
  • λαλοῦντες ἑαυτοῖς ψαλμοῖς καὶ ὕμνοις καὶ ᾠδαῖς πνευματικαῖς, ᾄδοντες καὶ ψάλλοντες τῇ καρδίᾳ ὑμῶν τῷ Κυρίῳ, (Προς Εφεσίους)
    Hãy lấy ca-vịnh, thơ-thánh, và bài hát thiêng-liêng mà đối-đáp cùng nhau, và hết lòng hát mừng ngợi-khen Chúa. (Êphêsô 5:19)
  • ὁ λόγος τοῦ Χριστοῦ ἐνοικείτω ἐν ὑμῖν πλουσίως ἐν πάσῃ σοφίᾳ· διδάσκοντες καὶ νουθετοῦντες ἑαυτούς, ψαλμοῖς, καὶ ὕμνοις, καὶ ᾠδαῖς πνευματικαῖς, ἐν χάριτι ᾄδοντες ἐν τῇ καρδίᾳ ὑμῶν τῷ Κυρίῳ. (Προς Εφεσίους)
    Nguyền xin lời của Đấng Christ ở đầy trong lòng anh em, và anh em dư-dật mọi sự khôn-ngoan. Hãy dùng những ca-vịnh, thơ thánh, bài hát thiêng-liêng mà dạy và khuyên nhau, vì được đầy ơn Ngài nên hãy hết lòng hát khen Đức Chúa Trời. (Côlôse 3:16)
  • Κακοπαθεῖ τις ἐν ὑμῖν; προσευχέσθω· εὐθυμεῖ τις; ψαλλέτω. (Ιακώβου)
    Trong anh em có ai chịu khổ chăng? Người ấy hãy cầu-nguyện. Có ai vui-mừng chăng? hãy hát ngợi-khen. (Giacơ 5:13)
Hãy hát ngợi khen
  • καὶ φωνὴ κιθαρῳδῶν καὶ μουσικῶν καὶ αὐλητῶν καὶ σαλπιστῶν οὐ μὴ ἀκουσθῇ ἐν σοὶ ἔτι, καὶ πᾶς τεχνίτης πάσης τέχνης οὐ μὴ εὑρεθῇ ἐν σοὶ ἔτι, καὶ φωνὴ μύλου οὐ μὴ ἀκουσθῇ ἐν σοὶ ἔτι, (Αποκάλυψις Ιωάννου)
    Không ai còn nghe thấy nơi ngươi những tiếng kẻ khảy đờn cầm, kẻ đánh nhạc, kẻ thổi sáo và thổi kèn nữa. Ở đó cũng sẽ không thấy có thợ nào nữa, dầu nghề gì mặc lòng, và tiếng cối-xay cũng không nghe nữa. (Khải Huyền 18:22)

Tiếng Latinh

[sửa]
  • ~636, Isiđôrô, Etymologiarum libri XX, Liber III
    Itaque sine Musica nulla disciplina potest esse perfecta, nihil enim sine illa. Nam et ipse mundus quadam harmonia sonorum fertur esse conpositus, et coelum ipsud sub harmoniae modulatione revolvi.
    Không có âm nhạc thì không thể có tri thức hoàn hảo, vì không gì tồn tại nếu thiếu nó. Ngay cả vũ trụ cũng được cho là được tạo nên từ sự hài hòa nhất định của âm thanh, và chính bầu trời cũng quay dưới nhờ sự hài hòa đó dẫn dắt.
  • 1712, Gottfried Leibniz, thư gửi Christian Goldbach
    Musica est exercitium arithmeticae occultum nescientis se numerare animi.[59]
    Âm nhạc là bài tập số học ẩn giấu trong tâm hồn, mà tâm hồn không hề hay biết mình đang đếm.

Tiếng Nga

[sửa]
  • 1808, Ivan Andreyevich Krylov, Музыканты (Những người nhạc công)
    Сосед соседа звал откушать;
    Но умысел другой тут был:
    Хозяин музыку любил
    Người láng giềng vốn yêu âm nhạc
    Mời bạn sang nhấm nháp cùng nghe
    Có ban nhạc mới mời về
    Đồn rằng nhạc sống hay ghê, khỏi bàn!
    [60]

Tiếng Pháp

[sửa]
Phúng dụ âm nhạc của Jean-François de Troy năm 1733
  • 1709, Alain-René Lesage, Turcaret, (Tục-ca-lệ, Hồi thứ IV, Kịch thứ V - Nguyễn Văn Vĩnh dịch)
    Le Chevalier. ...Vous aimez la musique?
    M. Turcaret. Si je l'aime? Malepeste! je suis abonné à l'Opéra.
    Le Chevalier. C'est la passion dominante des gens du beau monde.[61]
    V. — ...Tôn-ông có ưa nhạc chăng?
    T. — Tôi không ưa nhạc thì còn ai ưa nhạc nữa. Tôi mua vé năm ở Nhạc-viện.
    V. — Thói ưa nhạc là một thói riêng của nhà quí-phái.
  • 1926, Henri Cucherousset, Đông Dương ngày xưa và ngày nay (Vũ Công Nghi dịch) tr. 89
    La musique annamite a été influencée par la musique européenne; les instruments et les mélodies d'Europe ont un vif succès; dans toutes les provinces des fanfares s'organisent. Les musiques des régiments de tirailleurs et de la garde indigène sont pour ces fanfares de véritables écoles. En même temps l'étude de la musique nationale est reprise et l'on s'attache à perfectionner les instruments traditionnels.
    Âm-nhạc An-nam cũng đã chịu một phần ảnh-hưởng to của âm-nhạc tây. Những đồ âm-nhạc và đồ thanh-âm của âm-nhạc Âu-châu được công-chúng hoan-nghênh. Vậy nên tỉnh nào cũng thấy dựng ra phường bát-âm Tây. Những âm-nhạc của đội lính khố đỏ và của đội lính khố xanh thật là những cái trường học của các phường bát-âm ấy vậy. Người bản-xứ lại bắt đầu nghiên-cứu lại âm-nhạc trong nước và tìm cách làm cho hoàn-toàn những đồ âm-nhạc cổ.

Tiếng Trung

[sửa]
  • Thế kỷ 3 TCN, Khuất Nguyên, 離騷 (Ly tao - Nhượng Tống dịch)
    邅吾道夫崑崙兮,路脩遠以周流。
    揚雲霓之晻藹兮,鳴玉鸞之啾啾。
    Đường thăm thẳm trông ra quanh quất
    Hãy vòng xe qua đất Côn Luân.
    Vang vang nhạc ngọc thét dồn,
    Mây màu lấp lánh vây tròn trước sau.
  • Thế kỷ 8, Đỗ Phủ, 泛江 (Phiếm giang), Nhượng Tống dịch
    亂離還奏
    飄泊且聽歌。
    故國流清渭,
    如今花正多。
    Loạn ly hoàn tấu nhạc,
    Phiêu bạt thả thính ca.
    Cố quốc lưu thanh Vị,
    Như kim hoa chính đa.
    Loạn ly còn thét nhạc
    Phiêu bạt hãy nghe ca
    Quê cũ trên dòng Vị
    Mùa này đường lắm hoa
  • Thế kỷ 9, Bạch Cư Dị, 醉吟先生傳 (Truyện Túy ngâm tiên sinh - Phan Kế Bính dịch)
    每良辰美景,或雪朝月夕,好事者相過,必為之先拂酒罍,次開篋;詩酒既酣,乃自援琴操宮聲,弄《秋思》一遍。若興發,命家僮,調法部絲竹,合奏《霓裳羽衣》一曲。若歡甚,又命小妓,歌《楊柳枝》新詞十數章。放情自娛,酩酊而後已。
    Mỗi khi mát giời, hoặc lúc có giăng, có tuyết, bạn bè đến chơi, tất là lau hồ rượu, mở tủ sách, thơ rượu thích chí rồi thì vớ lấy đàn gẩy một khúc « thu-từ »; nếu hứng nữa thì sai trẻ nhà hòa nhạc, cùng tâu một khúc « nghê thường võ y »; nếu vui nữa thì sai con hát hát vài khúc « Dương liễu chi », phóng tình vui vẻ, kỳ đến say khướt rồi mới thôi.
Một cảnh trong Hàn Hi Tái dạ yến đồ năm 960
  • Thế kỷ 9, Lưu Vũ Tích, 聽舊宮中樂人穆氏唱歌 (Nghe ca nhân cũ họ Mục trong cung hát)
    曾隨織女渡天河,記得雲間第一歌。
    Tằng tuỳ Chức Nữ độ Thiên Hà,
    Ký đắc vân gian đệ nhất ca.
    (Nguyễn Minh dịch)
    Qua Thiên Hà cùng nàng Chức Nữ
    Để lại mây bất tử giọng ca
    (Trương Việt Linh dịch)
    Từng theo Chức Nữ vượt Ngân Hà
    Để lại trong mây một khúc ca
    (Trần Đông Phong dịch)
    Từng theo gái dệt vượt sông trời
    Gửi tới trong mây đệ nhất ca
    (Lương Trọng Nhàn dịch)
    Từng theo Chức Nữ qua Ngân Hà,
    Để lại trong mây danh tiếng ca.
    [62]
  • Thế kỷ 11, Tô Đông Pha, 石鐘山記 (Bài ký sự Chơi núi Thạch Chung - Phan Kế Bính dịch)
    空中而多竅,與風水相吞吐,有窾坎鏜鞳之聲,與向之噌吰者相應,如樂作焉。
    Tảng đá ấy rỗng ở giữa mà cũng lắm hốc, sóng gió đưa vào, cũng có tiếng ầm ỳ sang-sảng, cùng với tiếng phập-phình trên kia họa theo nhau, như là tiếng nhạc.
  • 1300, Vương Thực Phủ, 西廂記 (Tây sương ký - Nhượng Tống dịch), Phần II, Chương III
    排著酒果,列著笙歌。篆煙微,花香細,散滿東風簾幕。救了咱全家禍,殷勤呵正禮,欽敬呵當合。
    Đàn ca rượu quả sẵn bày,
    Mùi hoa thoáng, khói hương bay dịu dàng!
    Gió Đông cuốn bức mành tương,
    Một nhà tai nạn, một chàng gỡ xong!
    Đáng cho tôi lạy tạ ơn lòng,
  • 1922, Lỗ Tấn, 鴨的喜劇 (Tấn kịch vui về con vịt), Phan Khôi dịch
    這樣奇妙的音樂,我在北京確乎未曾聽到過,所以即使如何愛國,也辯護不得,因為他雖然目無所見,耳朵是沒有聾的。
    Cái thứ âm nhạc kỳ diệu ấy, quả thật tôi ở Bắc Kinh chưa hề nghe qua, cho nên dù có yêu nước đến đâu cũng không binh vực được, bởi vì ông ta tuy con mắt không thấy, chứ lỗ tai vẫn không điếc.
Nhạc Hoa cổ truyền

Tiếng Ý

[sửa]
  • 1727, Antonio Vivaldi, ghi chú hài hước trên bản aria vở Orlando finto pazzo
    Se questa non piace, non voglio più scrivere di musica.[63]
    Nếu các bạn không thích tác phẩm này, tôi sẽ không bao giờ viết nhạc nữa.

Xem thêm

[sửa]

Tham khảo

[sửa]
  1. ^ Mỹ Linh (14 tháng 7 năm 2023), “101 câu nói hay về âm nhạc ý nghĩa”, VOH, lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 1 năm 2026, truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2026
  2. ^ “Điệu nhạc điên cuồng”, Thi viện, 23 tháng 6 năm 2005, lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 11 năm 2025, truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2026
  3. ^ “Nhạc sầu”, Thi viện, 26 tháng 8 năm 2005, lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 4 năm 2025, truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2026
  4. ^ “Sâm Thương sầu nhạc”, Thi viện, 10 tháng 8 năm 2007, lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 4 năm 2025, truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2026
  5. ^ “Đêm âm nhạc”, Thi viện, 23 tháng 5 năm 2009, lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 7 năm 2025, truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2026
  6. ^ “Nghe nhạc Nam”, Thi viện, 8 tháng 2 năm 2024, lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 12 năm 2025, truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2026
  7. ^ “Hồn nhạc”, Thi viện, 15 tháng 5 năm 2009, lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 10 năm 2025, truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2026
  8. ^ “Âm nhạc”, Thi viện, 5 tháng 5 năm 2008, lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 4 năm 2024, truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2026
  9. ^ “Dạo nhạc”, Thi viện, 11 tháng 6 năm 2009, lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 9 năm 2022, truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2026
  10. ^ “Nghe nhạc ban đêm”, Thi viện, 20 tháng 12 năm 2009, lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 5 năm 2025, truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2026
  11. ^ “Năm nốt bâng quơ trên một cây đàn”, Thi viện, 13 tháng 4 năm 2009, lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 5 năm 2025, truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2026
  12. ^ “Dàn nhạc mùa hè”, Thi viện, 13 tháng 4 năm 2020, lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 5 năm 2025, truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2026
  13. ^ Tuyển tập tác phẩm William Shakespeare, Dương Tường dịch vở Entơni và Cliơpat'rơ, Hà Nội: Nhà xuất bản Sân khấu; Trung tâm Văn hoá Ngôn ngữ Đông Tây, 2006, tr. 641Quản lý CS1: khác (liên kết)
  14. ^ Tuyển tập tác phẩm William Shakespeare, Dương Tường dịch vở Đêm thứ mười hai, Hà Nội: Nhà xuất bản Sân khấu; Trung tâm Văn hoá Ngôn ngữ Đông Tây, 2006, tr. 1131Quản lý CS1: khác (liên kết)
  15. ^ Robert Green Ingersoll (1895), Prose-poems and Selections from the Writings and Sayings of Robert G. Ingersoll (bằng tiếng Anh) (ấn bản 6), C. P. Farrell, tr. 284
  16. ^ “Âm nhạc, khi những giọng hát mềm tắt nghỉ”, Thi viện, 10 tháng 12 năm 2015, lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 12 năm 2025, truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2026
  17. ^ “[James Creelman], "Real Value of Negro Melodies," New York Herald (May 21, 1893)”, Direct Testimony, Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 9 năm 2006
  18. ^ “Bản giao hưởng gây tranh cãi của Dvorak”, Tia Sáng, 5 tháng 8 năm 2011, lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 5 năm 2023, truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2024
  19. ^ “Danh ngôn về Âm nhạc - Thomas Carlyle”, Từ điển danh ngôn, lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 7 năm 2025, truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2026
  20. ^ Paul Hindemith (1952), A Composer's World (bằng tiếng Anh), Harvard University Press, tr. 72
  21. ^ Edgar Pangborn (2011), A Mirror for Observers (bằng tiếng Anh), Hachette UK, tr. 107, ISBN 9780575116986
  22. ^ “Johnny B. Goode”, Genius (bằng tiếng Anh), lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 4 năm 2025, truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2026
  23. ^ Howard Hanson (1960), Harmonic materials of modern music; resources of the tempered scale (bằng tiếng Anh), New York: Appleton-Century-Crofts, tr. viii
  24. ^ “Danh ngôn về Âm nhạc - Samuel Johnson”, Từ điển danh ngôn, lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 10 năm 2025, truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2026
  25. ^ Ursula K. Le Guin (2017), Orsinian Tales (bằng tiếng Anh), Hachette UK, tr. 141, ISBN 9781473205901
  26. ^ The Joker Is Wild Quotes”, IMDb (bằng tiếng Anh), truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2026
  27. ^ Joe Taysom (4 tháng 8 năm 2020). “The heartfelt letter Louis Armstrong wrote to a fan: 'Music is life itself'. Far Out Magazine. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 6 năm 2023.
  28. ^ Nguyễn Thị Mỹ Giang (2 tháng 7 năm 2022). “Louis Armstrong là ai? Những câu nói hay của nghệ sĩ nhạc jazz tài ba Louis Armstrong”. VOH.
  29. ^ “Hey Jude”, Genius (bằng tiếng Anh), lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 12 năm 2025, truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2026
  30. ^ Deathknight (16 tháng 9 năm 2008), “Hey Jude - The Beatles”, Lời dịch (bằng tiếng Anh), lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 2 năm 2019, truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2026
  31. ^ “No Man Is an Island”, Genius (bằng tiếng Anh), lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 9 năm 2024, truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2026
  32. ^ “Danh ngôn về Âm nhạc - Martin Luther King Jr.”, Từ điển danh ngôn, lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 6 năm 2021, truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2026
  33. ^ DeLone et. al., ed (1975) (bằng en). Aspects of Twentieth-Century Music. Englewood Cliffs, New Jersey: Prentice-Hall. ISBN 0130493465. 
  34. ^ “Danh ngôn về Thời gian - Igor Stravinsky”, Từ điển danh ngôn, lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 8 năm 2022, truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2024
  35. ^ Dan Siciliano (24 tháng 2 năm 2000), “The Lost Elvis Tapes (Broadcasted February 23, 2000)”, Elvis News (bằng tiếng Anh), truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2026
  36. ^ Richard Kostelanetz, Joseph Darby, Matthew Santa biên tập (1996), Classic Essays on Twentieth-century Music: A Continuing Symposium (bằng tiếng Anh), Schirmer Books, tr. 185, ISBN 9780028645810Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách biên tập viên (liên kết)
  37. ^ “Music, Mind, and Meaning”, MIT (bằng tiếng Anh), Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 2 năm 2002
  38. ^ “Composer Samuel Adler - A Conversation with Bruce Duffie”, Bruce Duffie (bằng tiếng Anh), 2012, lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 1 năm 2026, truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2026
  39. ^ “Danh ngôn về Âm nhạc - Johnny Cash”, Từ điển danh ngôn, lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 12 năm 2019, truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2026
  40. ^ “Sing For The Moment”, Eminem (bằng tiếng Anh), lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 11 năm 2025, truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2026
  41. ^ parksonghip (11 tháng 11 năm 2008), “Sing For The Moment - Eminem”, Lời dịch (bằng tiếng Anh), lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 10 năm 2010, truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2026
  42. ^ “Spotlight: Susan McClary, Musicologist”, University of California, Los Angeles (bằng tiếng Anh), Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 2 năm 2003
  43. ^ Lucy Green (2017), Music Education as Critical Theory and Practice: Selected Essays (bằng tiếng Anh), Routledge, tr. 28, ISBN 9781351557443
  44. ^ “Daniel Barenboim's statement at the Knesset upon receiving the Wolf Prize, May 9, 2004”, The Electronic Intifada (bằng tiếng Anh), 16 tháng 5 năm 2024, lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 12 năm 2024, truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2026
  45. ^ Neil McCormick (24 tháng 11 năm 2005), “Everyone thinks I'm so shockable”, The Daily Telegraph (bằng tiếng Anh), lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 12 năm 2025, truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2026
  46. ^ “Danh ngôn về Âm nhạc - Yann Martel”, Từ điển danh ngôn, lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 12 năm 2024, truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2026
  47. ^ Daniel Levitin (2019), This is Your Brain on Music: Understanding a Human Obsession (bằng tiếng Anh), Penguin UK, tr. 145, ISBN 9780241987360
  48. ^ Stuart Heritage (17 tháng 4 năm 2010), “Why use Metallica as a military weapon when Glee is available?”, The Guardian (bằng tiếng Anh), lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 12 năm 2025, truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2021
  49. ^ John D. Barrow (2011), The Artful Universe Expanded (bằng tiếng Anh) (ấn bản 2), Oxford University Press, tr. 350, ISBN 9780191615832
  50. ^ Joe Karaganis (2011), Media Piracy in Emerging Economies (bằng tiếng Anh) , Lulu.com, tr. 41, ISBN 9780984125746
  51. ^ Amy Novotney (2013), Music as medicine (bằng tiếng Anh), APA, lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 11 năm 2025, truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2026
  52. ^ “Danh ngôn về Âm nhạc - Thomas Fuller”, Từ điển danh ngôn, lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 1 năm 2022, truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2026
  53. ^ Clark Mindock (26 tháng 5 năm 2017), “Everyone thinks I'm so shockable”, The Independent (bằng tiếng Anh), lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 8 năm 2025, truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2026
  54. ^ Gregory Benford (2012), Shadows of Eternity (bằng tiếng Anh), Simon & Schuster, tr. 155, ISBN 9781534443631
  55. ^ Rafał Szwedowicz (21 tháng 1 năm 2015), “dłonie są krajobrazem serca...”, Blogspot (bằng tiếng Ba Lan), lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 11 năm 2023, truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2025
  56. ^ “Danh ngôn về Âm nhạc - Wolfgang Amadeus Mozart”, Từ điển danh ngôn, lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 8 năm 2025, truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2026
  57. ^ Musiker-Briefe: eine Sammlung Briefe, Duncker u. Humblot, 1867, tr. 87
  58. ^ Herta Blaukopf, ed (1996) (bằng de). Gustav Mahler. Briefe (2 ed.). Viên. p. 171. ISBN 3-552-04810-3. 
  59. ^ Gottfried Wilhelm Freiherr von Leibniz (1734), Viri illustris Godefridi Guil. Leibnitii Epistolae ad diversos: theologici, iuridici, medici, philosophici, mathematici, historici et philologici argumenti (bằng tiếng La-tinh), 1, Bernhard Christoph Breitkopf, tr. 241
  60. ^ , Hồ Quốc Vỹ biên dịch, “Những người nhạc công”, Thi viện, 5 tháng 12 năm 2010, lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 10 năm 2025, truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2026
  61. ^ Alain-René Lesage (1905), Turcaret (bằng tiếng Pháp), Boston: D.C. Heath, tr. 68
  62. ^ “Thính cựu cung trung nhạc nhân Mục thị xướng ca”, Thi viện, 22 tháng 4 năm 2014, lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 10 năm 2025, truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2026
  63. ^ Michael Talbot (1978), Vivaldi (bằng tiếng Anh), Dent, tr. 90, ISBN 9780460031646

Liên kết ngoài

[sửa]
Wikivoyage
Wikivoyage
Wikivoyage có hướng dẫn du lịch về: