Đế quốc Đông La Mã
Giao diện

Đế quốc Đông La Mã hay Đế quốc Byzantine (tiếng Hy Lạp: Βυζαντινή Αυτοκρατορία) là thuật ngữ hậu thế gọi phần phía đông Đế quốc La Mã sau khi chia tách khoảng thế kỷ 3 và kéo dài đến khi sụp đổ trước Đế quốc Ottoman năm 1453.
Trích dẫn từ Đông La Mã
[sửa]Tiếng Hy Lạp
[sửa]- Sử thi Digenes Akritas, bản thảo Escorial
- Τὸ ὑπόδημά μου ἐφίλησεν
καὶ οὕτως μὲ παρεκάλει:
«Κύρκα, φοβήσου τὸν Θεόν,
πάλιν συμπάθησέ με εἰς τὴν μωρίαν τούτην,
ὅτι παρὰ σαλῶν
καὶ ἄτακτων ἀνθρώπων ἐδιδάχθην
καὶ ἐσὺ μόνος μὲ κέρδισε καὶ ἄλλος μὴ μὲ κερδίση».- Người phủ phục hôn lên giày ta,
Và thốt lên lời khẩn cầu tha thiết:
'Hỡi Kyrca, bởi lòng kính Chúa,
Mà rủ lòng thương cho sự ngu muội của con một lần nữa.
Chỉ bởi vì con trót nghe lời giáo đầu
Của lũ người điên dại và vô đạo.
Chỉ có Người là bậc duy nhất thu phục lòng con,
Chớ để một ai khác có thể chiếm lấy con thêm nữa'.
- Người phủ phục hôn lên giày ta,
- Τὸ ὑπόδημά μου ἐφίλησεν
- Thế kỷ 6, Prokopios, Ανέκδοτα 30:8-11,
- Τὰ μὲν οὖν πρότερα ταύτῃ πη εἶχεν. ὁ δὲ αὐτοκράτωρ οὗτος πρῶτα μὲν τὸν ἐκ Καλχηδόνος ἄχρι ἐς Δακίβιζαν καθελὼν δρόμον ἠνάγκασε πάντας ἐκ Βυζαντίου εὐθὺς ἄχρι ἐς τὴν Ἑλενούπολιν οὔτι ἐθελουσίους ναυτίλλεσθαι. πλέοντες οὖν ἐν ἀκάτοις βραχείαις τισὶν, οἵαις διαπορθμεύεσθαι τῇδε εἰώθασι, χειμῶνος, ἂν οὕτω τύχοι, ἐπιπεσόντος, ἐπὶ μέγα κινδύνου χωροῦσι. τῆς γὰρ ἀναγκαίου σπουδῆς ἐγκειμένης σφίσι καιροφυλακεῖν τε καὶ προσδέχεσθαι μέλλουσαν τὴν γαλήνην ἀδύνατά ἐστιν. ἔπειτα δὲ κατὰ μὲν τὴν ἐπὶ Πέρσας ὁδὸν φέρουσαν τὸν δρόμον ἐπὶ σχήματος τοῦ πρόσθεν ὄντος εἴασεν εἶναι, ἐς δὲ τὴν λοιπὴν ξύμπασαν ἕω μέχρι ἐς Αἴγυπτον ἐν ἡμέρας ὁδῷ σταθμὸν ἕνα κατεστήσατο μόνον, οὐχ ἵππων μέντοι, ἀλλ' ὄνων ὀλίγων. διὸ δὴ τὰ μὲν ξυμβαίνοντα ἐν χώρᾳ ἑκάστῃ μόλις τε καὶ ὀψὲ τοῦ καιροῦ καὶ ὀπίσω τῶν πραγμάτων ἐσαγγελλόμενα ἐπικουρίας οὐδεμιᾶς τυγχάνειν εἰκὸς, οἱ δὲ τοὺς ἀγροὺς κεκτημένοι καρπῶν τῶν σφετέρων σεσηπότων τε καὶ εἰκῆ κειμένων ἀνόνητοι ἐς ἀεὶ γίνονται.
- Đó là tình cảnh của những việc xảy ra trước kia. Còn về kẻ độc tài này, trước hết hắn đã xóa bỏ tuyến vận Chalcedon đến Daciviza, buộc tất cả những ai từ Đông La Mã muốn đến Helenopolis đều phải đi biển, dù chẳng ai cam tâm tình nguyện. Họ phải vượt khơi trên những con thuyền nhỏ hẹp thường chỉ dùng sang sông. Nếu chẳng may gặp bão dữ, họ sẽ rơi vào vòng hiểm họa khôn lường. Bởi lẽ, dưới sức ép công vụ khẩn, họ không thể canh chừng thời cơ hay chờ đợi đến khi biển lặng sóng êm. Tiếp đến, trên con đường dẫn tới Ba Tư, hắn vẫn giữ nguyên hệ thống cũ; nhưng trên toàn bộ các nẻo đường còn lại dẫn về phương Đông cho tới tận Ai Cập, hắn chỉ thiết lập duy nhất một trạm dừng cho mỗi ngày đường. Thay vì chiến mã, giờ đây chỉ còn vài con lừa gầy guộc. Chính vì lẽ đó, những biến động tại mỗi địa phương thường báo về quá muộn màng, khi thời cơ đã lỡ và sự việc đã rồi, nên chẳng thể nào cứu vãn kịp thời. Còn chủ vườn thì đành bất lực nhìn hoa lợi thối rữa, hư hỏng giữa đồng không mông quạnh, chẳng thể mang lại chút ích gì cho đời.
- Τὰ μὲν οὖν πρότερα ταύτῃ πη εἶχεν. ὁ δὲ αὐτοκράτωρ οὗτος πρῶτα μὲν τὸν ἐκ Καλχηδόνος ἄχρι ἐς Δακίβιζαν καθελὼν δρόμον ἠνάγκασε πάντας ἐκ Βυζαντίου εὐθὺς ἄχρι ἐς τὴν Ἑλενούπολιν οὔτι ἐθελουσίους ναυτίλλεσθαι. πλέοντες οὖν ἐν ἀκάτοις βραχείαις τισὶν, οἵαις διαπορθμεύεσθαι τῇδε εἰώθασι, χειμῶνος, ἂν οὕτω τύχοι, ἐπιπεσόντος, ἐπὶ μέγα κινδύνου χωροῦσι. τῆς γὰρ ἀναγκαίου σπουδῆς ἐγκειμένης σφίσι καιροφυλακεῖν τε καὶ προσδέχεσθαι μέλλουσαν τὴν γαλήνην ἀδύνατά ἐστιν. ἔπειτα δὲ κατὰ μὲν τὴν ἐπὶ Πέρσας ὁδὸν φέρουσαν τὸν δρόμον ἐπὶ σχήματος τοῦ πρόσθεν ὄντος εἴασεν εἶναι, ἐς δὲ τὴν λοιπὴν ξύμπασαν ἕω μέχρι ἐς Αἴγυπτον ἐν ἡμέρας ὁδῷ σταθμὸν ἕνα κατεστήσατο μόνον, οὐχ ἵππων μέντοι, ἀλλ' ὄνων ὀλίγων. διὸ δὴ τὰ μὲν ξυμβαίνοντα ἐν χώρᾳ ἑκάστῃ μόλις τε καὶ ὀψὲ τοῦ καιροῦ καὶ ὀπίσω τῶν πραγμάτων ἐσαγγελλόμενα ἐπικουρίας οὐδεμιᾶς τυγχάνειν εἰκὸς, οἱ δὲ τοὺς ἀγροὺς κεκτημένοι καρπῶν τῶν σφετέρων σεσηπότων τε καὶ εἰκῆ κειμένων ἀνόνητοι ἐς ἀεὶ γίνονται.
Trích dẫn về Đông La Mã
[sửa]Tiếng Anh
[sửa]- 1977, Steven Runciman, The Byzantine Theocracy
- But the Empire which we call for convenience Byzantine maintained a larger con-ception. It saw itself as a universal Empire. Ideally it should embrace all the peoples of the earth, who, ideally, should all be members of the one true Christian Church, its own Orthodox Church. Just as man was made in God's image, so man's kingdom on earth was made in the image of the Kingdom of Heaven. Just as God ruled in Heaven, so an Emperor, made in His image, should rule on earth and carry out His commandments.[1]
- Nhưng thực thể mà chúng ta thường gọi cho thuận tiện là Đế chế Byzantine lại duy trì một quan niệm rộng lớn hơn. Nó tự xem mình là một Đế chế phổ quát, mà về mặt lý tưởng, phải bao trùm tất cả các dân tộc trên trái đất. Cũng theo lý tưởng đó, thần dân đều phải nằm trong Giáo hội Cơ Đốc giáo tức Đông chính giáo - tôn giáo của đế quốc. Tương tự như quan niệm con người được tạo ra theo hình ảnh Thiên Chúa, vương quốc trần thế cũng được tạo dựng theo khuôn mẫu nước Trời. Và cũng giống như cách Thiên Chúa trị vì trên cao, hoàng đế cũng là người được tạo ra theo hình ảnh Ngài nên sẽ cai trị dưới mặt đất và thực thi các điều răn Ngài.
- But the Empire which we call for convenience Byzantine maintained a larger con-ception. It saw itself as a universal Empire. Ideally it should embrace all the peoples of the earth, who, ideally, should all be members of the one true Christian Church, its own Orthodox Church. Just as man was made in God's image, so man's kingdom on earth was made in the image of the Kingdom of Heaven. Just as God ruled in Heaven, so an Emperor, made in His image, should rule on earth and carry out His commandments.[1]
Xem thêm
[sửa]Chú thích
[sửa]- ^ Steven Runciman (2004), The Byzantine Theocracy: The Weil Lectures, Cincinatti (bằng tiếng Anh), Cambridge University Press, tr. 1, ISBN 9780521545914
Liên kết ngoài
[sửa]
Bài viết bách khoa Đế quốc Đông La Mã tại Wikipedia