Bước tới nội dung

Cách mạng Pháp

Bộ sưu tập danh ngôn mở Wikiquote
Xử tử Robespierre năm 1794

Cách mạng Pháp (tiếng Pháp: Révolution française) là sự kiện quan trọng trong lịch sử Pháp cuối thế kỷ 18, diễn ra từ năm 1789 đến năm 1799, khi lực lượng tự do-dân chủcộng hòa đã lật đổ chế độ quân chủ chuyên chế.

Trích dẫn trong cuộc

[sửa]
  • 1793, Maximilien de Robespierre, Sur la Constitution
    J’ai beaucoup entendu parler d’anarchie depuis la révolution du 14 juillet 1789, et surtout depuis la révolution du 10 août 1792 ; mais j’affirme que ce n’est point l’anarchie qui est la maladie des corps politiques, mais le despotisme et l’aristocratie. Je trouve, quoi qu’ils en aient dit, que ce n’est qu’à compter de cette époque tant calomniée que nous avons eu un commencement de lois et de gouvernement, malgré les troubles, qui ne sont autre chose que les dernières convulsions de la royauté expirante, et la lutte d’un gouvernement infidèle envers l’égalité.
    Tôi đã nghe rất nhiều về tình trạng vô chính phủ kể từ cuộc cách mạng ngày 14 tháng 7 năm 1789, và đặc biệt là từ cuộc cách mạng ngày 10 tháng 8 năm 1792; nhưng tôi khẳng định rằng, căn bệnh của các thực thể chính trị hoàn toàn không phải là sự vô chính phủ, mà chính là sự chuyên chế và chế độ quý tộc. Tôi nhận thấy rằng, bất chấp những gì họ đã nói, chỉ kể từ thời đại bị vu khống đủ điều này, chúng ta mới bắt đầu có được những bước đầu của luật phápchính phủ, mặc cho những biến động—vốn chẳng qua là những cơn co giật cuối cùng của nền quân chủ đang hấp hối, và là cuộc đấu tranh của một chính quyền bội tín đối với sự bình đẳng.

Trích dẫn khác

[sửa]

Tiếng Việt

[sửa]

Tiếng Pháp

[sửa]
  • 1874, Victor Hugo, Quatrevingt-treize (Chín mươi ba), III, 1
    Si l’on veut comprendre la Vendée, qu’on se figure cet antagonisme : d’un côté la révolution française, de l’autre le paysan breton. En face de ces événements incomparables, menace immense de tous les bienfaits à la fois, accès de colère de la civilisation, excès du progrès furieux, amélioration démesurée et inintelligible, qu’on place ce sauvage grave et singulier, cet homme à l’œil clair et aux longs cheveux, vivant de lait et de châtaignes, borné à son toit de chaume, à sa haie et à son fossé, distinguant chaque hameau du voisinage au son de la cloche, ne se servant de l’eau que pour boire, ayant sur le dos une veste de cuir avec des arabesques de soie, inculte et brodé, tatouant ses habits comme ses ancêtres les celtes avaient tatoué leurs visages, respectant son maître dans son bourreau, parlant une langue morte, ce qui est faire habiter une tombe à sa pensée, piquant ses bœufs, aiguisant sa faulx, sarclant son blé noir, pétrissant sa galette de sarrasin, vénérant sa charrue d’abord, sa grand’mère ensuite, croyant à la sainte Vierge et à la Dame blanche, dévot à l’autel et aussi à la haute pierre mystérieuse debout au milieu de la lande, laboureur dans la plaine, pêcheur sur la côte, braconnier dans le hallier, aimant ses rois, ses seigneurs, ses prêtres, ses poux ; pensif, immobile souvent des heures entières sur la grande grève déserte, sombre écouteur de la mer.
    Nếu người ta muốn hiểu rõ loạn Vendée, hãy hình dung mối mâu thuẫn này: một bên là cách mạng Pháp, một bên là người dân quê xứ Bretagne. Trước những biến cố vô song kia là mối đe dọa lớn của tất cả những thành tựu tốt đẹp, cơn phẫn nộ của văn minh, sự quá khích điên cuồng của tiến bộ, sự cải thiện thái quá và khó hiểu; hãy đặt con người man rợ, nghiêm nghị và kỳ dị đó, con người mắt trong trẻo và tóc dài, sống bằng sữa và hạt dẻ gai, không nhìn xa quá mái tranh, bờ rào và hố rãnh của họ, nghe tiếng chuông là có thể phân biệt từng xóm bên cạnh, chỉ uống nước lã, khoác chiếc áo cộc da thêu, người thì thô lậu mà ăn mặc lại diêm dúa, vẽ lên áo quần như tổ tiên họ, người Celte xưa kia đã thích chàm lên mặt, kính trọng lãnh chúa là đao phủ của họ, nói một thứ từ ngữ, khác nào như nhốt tư tưởng vào một nấm mồ, chăn , mài lưỡi hái, giẫy có lúa mì đen, nhào bánh bằng bột gạo mạch, tôn kính cái cày hơn bà nội, tin cả Đức mẹ Đồng trinh và Đức bà Bạch y thần nữ, sùng kính trước bàn thờ cũng như trước tảng đá đồ sộ huyền bí đứng giữa đồng hoang; ở đồng bằng thì cày ruộng, ở ven biển thì đánh , ở rừng thì săn bắn trộm; yêu mến đức vua, lãnh chúa, linh mục; chấy rận trong người; đăm chiêu, thường im lặng hàng giờ trên bãi biển mênh mông hoang vắng, âm thầm lắng nghe biển cả. Và ta hãy tự hỏi liệu con người mông muội đó có thể tiếp nhận được ánh sáng kia không.[1]

Xem thêm

[sửa]

Chú thích

[sửa]
  1. ^ Victor Hugo (1982), Chín mươi ba, Châu Diên biên dịch, Nhà xuất bản Văn học

Liên kết ngoài

[sửa]