Câu đối - Thơ đối đáp và Thơ xướng họa Việt Nam

Bộ sưu tập danh ngôn mở Wikiquote
(đổi hướng từ Câu đối Việt Nam)
Bước tới: chuyển hướng, tìm kiếm

Mục lục

Dùng trong những việc hiếu hỷ[sửa]

Phủ, điện, từ đường và đình, đài, miếu, tự[sửa]

Câu đối đã hoàn chỉnh[sửa]

Bà Triệu[sửa]

Đền thờ Bà Triệu ở Hậu Lộc - Thanh Hóa

Bà Triệu là một trong những vị anh hùng dân tộc trong lịch sử Việt Nam, chống giặc Đông Ngô.

  • Câu đối ở cổng đền thờ Bà Triệu
Trông bành voi, Ngô cũng lắc đầu, sợ uy Lệ Hải Bà Vuơng, những muốn bon chân về Bắc quốc
Ngồi yên ngựa, khách còn hoài cổ, khiếp danh Lạc Hồng Nữ Tướng, có chăng thẹn mặt đấng Nam nhi
Câu đối cũng được các tác giả sử dụng để phê phán, châm biếm những thói hư tật xấu ở đời.
  • Câu đối của Chí Sĩ Dương Bá Trạc:
Một đầu voi chống chọi với quân thù, sau Trưng nữ rạng danh bà Lệ Hải
Ba thước vú tử sinh cùng đất nước, cho Ngô hoàng biết mặt gái Giao Châu
  • Câu đối liên quan khác:
Cửu Chân trăm trận gan hơn sắt
Lục Dận nhiều phen mắt đã vàng

Lý Thái Tổ[sửa]

tượng đài Lý Thái Tổ tại quận Hoàn Kiếm - Hà Nội

Lý Thái Tổ là vị Hoàng Đế sáng lập nhà Lý trong lịch sử Việt Nam. Ông đã tự vịnh như sau:

Đêm khuya chẳng dám dang chân duỗi
Vì ngại sơn hà xã tắc xiêu
  • Câu đối khắc ở đình Miễu - Dương Lôi thờ mẹ vua Lý Thái Tổ:
徽首芳嫺仁和淨度福生木子 Huy thủ phương nhàn nhân hòa tịnh độ phúc sinh mộc tử
大德坤元才韜出種徜世禾刀 Đại đức khôn nguyên tài thao xuất chúng thảng thế hòa đao
  • Câu đối ghi trong sách sử làng Dương Lôi:
李核出五蘝肇嗣和刀天應瑞 Lý hạch xuất ngũ liêm, triệu tự hòa đao thiên ứng thụy (Hạt lê nở ra 5 bông là tự nhà Lê ứng điềm trời từ trước)
蓮花開八葉結成木子地鐘靈 Liên hoa khai bát diệp, kết thành mộc tử địa chung linh (hoa sen nở 8 cánh kết thành hạt mận (chữ Mộc trên chữ Tử là chữ Lý, tức nhà Lý) đất đúc dấu thiêng, câu này ý rằngnhà Lý truyền được 8 đời vua)

Trần Quốc Tuấn[sửa]

Tượng đài Hưng Đạo Đại Vương tại bến Bạch Đằng - thành phố Hồ Chí Minh

Trần Quốc Tuấn, là con trai của An Sinh Vương Trần Liễu, cháu vua Trần Thái Tông, quê làng Tức Mặc, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Hà Nam Ninh (nay thuộc tỉnh Nam Định). Ông có vốn tài quân sự, lại là tôn thất nhà Trần, do đó trong cả 3 lần quân Nguyên - Mông tấn công Đại Việt, ông đều được vua Trần cử làm tướng chống trận. Đặc biệt ở kháng chiến chống Nguyên - Mông lần thứ 2 và thứ 3, ông được vua Trần Nhân Tông phong làm Tiết chế các đạo quân thủy bộ. Dưới tài lãnh đạo của ông, quân dân Đại Việt chiến thắng ở Chương Dương, Hàm Tử, Vạn Kiếp, Bạch Đằng, đuổi giặc ra khỏi nước, được phong tước Hưng Đạo Vương. Sau khi kháng chiến chống Nguyên - Mông lần thứ 3 thành công, ông về trí sĩ ở trang viên của mình tại Vạn Kiếp. Tuy nhiên, các vua Trần vẫn thường xuyên đến vấn kế sách. Sau khi mất, Trần Hưng Đạo được thờ phụng ở nhiều nơi, trong đó lễ hội lớn nhất ở đền Kiếp Bạc thuộc huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương ngày nay, nơi ngày xưa là phủ đệ của Ngài. Ngài được người dân bao đời sùng kính phong Thánh tức là Đức thánh Trần, đây là điều hiếm hoi trong lịch sử chỉ dành riêng cho vị danh tướng nhà Trần. Ngày lễ chính thức được tổ chức vào ngày Ngài mất (20 tháng 8 âm lịch hàng năm). Nhân dân không gọi trực tiếp tên của Ngài mà gọi là Hưng Đạo Vương, Hưng Đạo Đại Vương, Đức thánh Trần, hoặc gọi là Cha (Tháng Tám giỗ Cha, tháng Ba giỗ Mẹ).

  • Những câu đối đề tại đền Kiếp Bạc:
Vạn Kiếp hữu sơn giai kiếm khí (Vạn Kiếp núi lồng hình kiếm dựng)
Lục Đầu vô thủy bật thu thanh (Lục Đầu vang dậy tiếng quân reo)
Một trận sông Đằng, sóng gió đã tan hồn nghịch tặc
Nghìn thu non Dược, khói bay còn tụ khí anh hùng
  • Những câu đối ở đền Trần Hưng Đạo thành phố Nha Trang tỉnh Khánh Hòa:

1 - CỔNG TAM QUAN:

Thủy trận dụng triều lưu vi Nam Quốc Hải quân chi tổ (Dùng nước triều lập trận phá ngoại xâm, đời sau tôn thành "Hải quân chi tổ")
Kim chi tác can lỗ phá Bắc phương Nguyên khấu chi sư (Lấy cây rừng vót thành cọc nhọn, diệt quân Nguyên mưu ấy quả bậc Thầy)
Bắc nhạc giáng Thần cứu quốc anh hùng danh vạn kiếp (Núi Bắc giáng Thần, muôn kiếp lưu danh người anh hùng cứu nước) ("Vạn kiếp" vừa có nghĩa là muôn đời, muôn kiếp đồng thời lại nhắc đến tên của nơi Đức Trần Hưng Đạo trở về)
Nam thiên hiển Thánh tý dân công đức tự thiên niên (Trời Nam hiển Thánh, ngàn năm thờ phụng bậc công đức che dân)
Cứu quốc công huân Bắc địa uy linh thiên cổ miếu (Cứu nước công lao to lớn, miếu cũ ngàn năm đất Bắc rạng uy danh)
Tý dân phúc trạch Nam thiên chiêm ngưỡng nhất tân từ (Che dân phúc trạch vô cùng, đền mới một tòa trời Nam đồng chiêm ngưỡng)

2 - MẶT TIỀN CỦA CHÁNH ĐIỆN:

Bắc Hà thiếp kình ba vạn cổ Đằng Giang lưu vĩ tích (Bắc Hà phục kình ngư bình sóng cả, kỳ tích Bạch Đằng muôn thửa lưu danh)
Việt Nam an nhạn trạch thiên thu Nha Hải ngật linh từ (Việt Nam yên cánh nhạn trở về xuôi, linh từ Nha Trang ngàn năm sừng sững)
Lưỡng hồi xã tắc tương tướng xuất kim hoàng, quốc sử huân danh truyền Bách Việt (Hai lần vì xã tắc, "Tương tướng xuất kim hoàng", công lao ấy sử sách nước Nam tạc đá lưu danh truyền Bách Việt) (Tương tướng xuất kim hoàng: "Tương tướng" là chỉ chức quan tối cao trong triều đình ngày xưa. "Kim hoàng" là cái ao vàng dùng để chứa nước. Ý của toàn câu này muốn nói vì nước nhà mà ngài đã không tiếc tấm thân vàng ngọc của mình để trực tiếp cầm quân ra chiến trận)
Vạn kiếp anh linh Uông Sơn dư kiếm khí, binh gia thao lược túc thiên thu (Vạn kiếp rạng uy linh, "Uông Sơn dư kiếm khí", tài năng kia thao lược binh gia đủ cho đất nước vững muôn đời) (Uông sơn dư kiếm khí: "Uông sơn" là tên một địa danh thuộc Tỉnh Quảng Ninh ngày nay, nơi có một khúc sông Bạch Đằng chảy qua, cũng là nơi xưa kia Trần Hưng Đạo đóng đại bản doanh để điều khiển trận đánh Bạch Đằng. Cả câu này muốn ca ngợi sự dũng mãnh và tài năng tuyệt vời của Đức Quốc Công Tiết Chế Trần Hưng Đạo trong việc điều quân khiển tướng làm nên chiến thắng Bạch Đằng Giang năm Mậu Tuất (1288)

3 - TRONG ĐIỆN:

Hồng Hà tú khí chung đại tướng bảo bang do nhiệt huyết (Hồng Hà tú khí chung linh, bảo vệ non sông Đại tướng sục sôi dòng máu đỏ) (Người xưa khi viết câu đối này đã chủ ý bỏ đi một từ nhằm tạo nên vế đối 12 chữ. Câu đủ là "Hồng Hà tú khí chung linh" có nghĩa là vùng châu thổ sông Hồng là nơi có nhiều vượng khí đã hun đúc nên những nhân kiệt cho đời)
Bạch Đằng oai phong lẫm địch quân quy quốc thượng hàn tâm (Bạch Đằng oai phong lẫm liệt, cuốn vó về quê địch quân lẩy bẩy trái tim đen) (Câu đủ là "Bạch Đằng oai phong lẫm liệt" ý muốn nói đến thế dũng mãnh của quân ta trong trận chiến Bạch Đằng Giang)
Nam nhạc giáng Thần vạn cổ anh phong chung tú khí (Giáng Thần ở núi Nam, muôn thửa anh phong như chuông ngân lung linh thoát tục)
Đông A hiển Thánh ức niên hương hỏa trạc linh thanh (Hiển Thánh tại thời Trần, ức năm hương hỏa mãi chói ngời tiếng vọng anh linh)
Nam nhạc: Ở câu đối ngoài mặt tiền của chánh điện có dùng chữ "Bắc nhạc giáng Thần" để đối với vế hai là "Nam thiên hiển Thánh". Trong trường hợp đó ta hiểu rằng Bắc nhạc có nghĩa là núi ở Miền Bắc Việt Nam và Nam thiên có nghĩa là trời của phương Nam Việt Nam. Nay lại dùng chữ "Nam nhạc giáng Thần" chúng ta nên hiểu Nam nhạc này là núi của Việt Nam. Để đối lại vế "Đông A hiển Thánh" tức là hiển Thánh tại thời Trần. Vế đối này lấy không gian để đối với thời gian khác với câu đối trên là lấy không gian đối với không gian
  • Câu đối có 4 giai thoại của Quả Ngôn (người làng Hội Thống huyện Nghi Xuân tỉnh Hà Tĩnh):
Bỏ gậy sắt, bỏ ngai vàng, quyết giữ nòi vàng và khoán sắt
Vung hịch son, vung cờ đỏ, cho yên con đỏ với lòng son
Giai thoại 1: “Bỏ gậy sắt”: Cha của Hưng Đạo Vương bị Thái sư Trần Thủ Độ cưỡng chế, buộc phải nhường vợ đã có mang cho vua Trần Thái Tông (là chú ruột của Ông). Cha ông có chống lại nhưng thất bại nên trong lòng vẫn ôm mối hận, muốn con mình phải trả thù nhà. Khi quân Nguyên sang xâm lăng nước ta, Trần Hưng Đạo được trao quyền cao, chức trọng. Vì thế, Trần Hưng Đạo có nhiều dịp được gần gũi vua Trần. Nhiều người nghi ngờ, sợ khi thời cơ thuận lợi, Hưng Đạo Vương giết vua, cướp ngôi để trả thù cho cha. Biết nhiều người nghi ngờ mình, Trần Hưng Đạo luôn luôn cố giữ lễ nghĩa thật đúng mực. Có lần ông cùng vua Trần Nhân Tông (là Thái tử Trần Khâm, con Trần Cảnh) đi dạo, ông liếc thấy có người nhìn vào cái gậy sắt đầu bịt nhọn ông đang cầm ở tay. Trần Hưng Đạo thấy vậy vội bẻ cái gậy ra làm hai, vứt đi phần có bịt sắt, chỉ giữ phần kia. Nhìn hành động ấy, có người đoán biết ý của ông, có người không hiểu ông ta làm gì. Qua hành động nầy, khi hiểu ra, mọi người kính phục và hoàn toàn tin tưởng vào lòng trung thành của Trần Quốc Tuấn.
Giai thoại 2: “Bỏ ngai vàng”: Cũng từ sự bất bình vì mất vợ, sống không trả được, trước khi lìa đời, Trần Liễu đã gọi con lại dặn dò: phải cướp ngôi vua để trả thù, rửa nhục cho mình. Trần Quốc Tuấn nghe lời trối của cha nhưng không dám cãi. Sau nầy, ông đã có chủ định, nhưng ông hỏi ý kiến nhiều người thân cận để thử lòng, đa số nói là không nên. Ông đem việc xích mích nầy dò ý các con, Trần Quốc Tảng khuyên ông nên theo lời trối, có ý khích ông cướp ngôi vua; ông nổi giận định rút gươm toan chém chết Quốc Tảng. Nhiều người khuyên nên ông tha chết nhưng đuổi đi, không cho Quốc Tảng được thấy mặt mình nữa.
Giai thoại 3 và 4: “Vung hịch son”, “vung cờ đỏ”: Vung hịch son: Ám chỉ Trần Quốc Tuấn là tác giả bài “Hịch tướng sĩ” là một văn bản đã làm nức lòng tướng sĩ, để mọi người đồng tâm hiệp lực đánh đuổi ngoại xâm, văn bản đã đi vào lịch sử dân Việt. Vung cờ đỏ: Nói lên việc ông là Tổng chỉ huy, phất cờ chỉ huy ba quân đánh tan quân Nguyên xâm lược, đem lại chiến thắng cho dân tộc.
  • Câu đối đề ở đền Ngọc Sơn - Hà Nội:
Vũ lược luyện hùng binh, Lục Thủy nghìn thu ghi sử Việt
Văn tài mưu thượng tướng, Bạch Đằng một trận thắng quân Nguyên
  • Câu đối đề ở đền Sơn Hải quận Hoàn Kiếm - Hà Nội:
白滕水陣留清績 Bạch Đằng thủy trận lưu thanh tích (Chiến trận Bạch Đằng ghi vết tích)
東海雄兵萬古神 Đông Hải hùng binh vạn cổ thần (Binh sĩ Đông Hải hóa thần linh)
  • Những câu đối khác:
Trung hiếu nhất tâm, Đằng Thủy ân ba quang tư tích (Trung hiếu một lòng, ơn sóng Bạch Đằng sáng ngời từ trước)
Huân danh vu cổ, Hương Giang miếu điện tráng vu kim (Công lao thuở ấy, miếu điện sông Hương rạng rỡ đến nay)
Gia hiếu tử, quốc trung thần, công liệt chiến đan thanh, ninh chỉ lưỡng hồi an xã tắc (Làm con hiếu, làm tôi chung, công lớn chói sử xanh không chỉ hai lần yên đất nước)
Văn kinh thiên, vũ bát loạn, anh linh tham khí hóa, thượng lưu chung cổ điện sơn hà (Nào văn hay, nào võ giỏi, anh linh trùm cõi tục vẫn còn muôn thuở giúp non sông)

Lê Văn Hưu[sửa]

  • Lê Văn Hưu người làng Phủ-lý, huyện Đông-Sơn, lộ Thanh-hoa, đỗ bảng nhãn năm Đinh mùi (1247), niên hiệu Thiên Ứng Chính Bình dưới triều Trần Thái Tông. Lúc đó ông mới 18 tuổi. Sau làm đến chức Hàn lâm học sĩ kiêm Quốc sử viện giám tu. Năm 1272 ông soạn xong bộ Đại-việt sử ký từ Triệu Vũ Đế đến Lý Chiêu Hoàng. Đó là bộ sử ký qui mô đầu tiên của nước ta, đã được Trần Thánh Tông ban chiếu khen. Nhưng đáng tiếc hiện nay bộ sách đã thất lạc, chỉ còn một ít lời bình được Ngô Sĩ Liên ghi lại trong Đại Việt Sử Lý Toàn Thư. Tương truyền, khi còn là học trò, một hôm đi ngang qua lò rèn, thấy người ta đang làm những cái dùi sắt, Lê Văn Hưu muốn xin một cái để làm dùi đóng sách. Bác thợ rèn thấy chú bé mới tí tuổi đầu đã chăm lo việc học hành, bèn ra một vế đối để thử tài:
vế ra: Than trong lò, sắt trong lò, lửa trong lò, thổi phì phò đúc nên dùi sắt
Bễ lò rèn là hai ống trụ tròn, rỗng ruột làm bằng gỗ (sau này bằng nhôm hoặc thép), đường kính chừng 15 - 20 phân, cao khoảng 70 phân. Bên trong đặt 2 thanh gổ, quân vải. Cấu trúc như chiếc bơm tay xe đạp. Cần gío thỗi cho lửa cháy to, người thợ 2 tay 2 thanh gổ rút lên, hạ xuống… tạo ra luồng gió thổi vào lò nung. Khi có gió thổi, phát ra tiếng phì phò - như người bị hen thở, tất nhiên to hơn nhiều.
Lê Văn Hưu đối: Nghiên ở túi, bút ở túi, giấy ở túi, viết lúi húi mà đậu khôi nguyên
Câu đối này có thuyết nói của Đoàn Hy. Đoàn Hy vừa làm thợ rèn, vừa chăm chỉ học, đổ thủ khoa thi Hương trường Nam Định. Tuy nhiên có 1 số chữ nghĩa hơi khác cho nên đưa cả câu để phân biệt cho rõ. Quan chủ khảo biết nghề nghiệp vị tân khoa, ra câu đối: Than bỏ vào lò, sắt bỏ vào lò, bể thổi phì phò, đúc ra miếng bạc
Đoàn Hy đối lại: Mực nằm trong túi, bút nằm trong túi, người viết lúi húi, tên chiếm bảng vàng

Nguyễn Hiền[sửa]

  • Đối đáp với quan Lang Trung:

Hồi mới lên bảy tuổi, Nguyễn Hiền thường hay chơi trò nặn đất với bọn trẻ mục đồng. Một lần trạng nặn con voi đất, rồi lấy bốn con cua để vào bốn chân, lấy đỉa làm vòi, lấy bướm làm tai, thành ra voi đất cũng cử động được, khiến bọn trẻ vui thích reo hò ầm ĩ. Chợt một ông quan đi qua đứng lại xem và hỏi chuyện cậu bé Hiền. Thấy cậu bé khéo léo lại láu lỉnh, ông quan liền đọc đùa một câu:

vế ra: 童子六七人無如爾巧 Ðồng tử ngũ lục nhân, vô như nhĩ xảo! (Bọn trẻ năm sáu đứa, không đứa nào khéo bằng mày)
Cậu bé Hiền thấy vậy, hỏi ông quan rằng: “Trước hết xin ông cho biết ông làm chức quan gì?”. Quan nói: “Ta là quan Lang Trung, mỗi tháng ăn lương hai ngàn hộc”
Thấy quan có ý khoe khoang, cậu bé Hiền liền đọc rằng: 郞中二千石莫若公... Lang trung nhị thiên thạch, mạc nhược công ... (Quan thái thú ăn lương hai ngàn hộc, chẳng ai. . . bằng ông).
Quan cười bảo: “Ðối còn thiếu một chữ!”. Nguyễn Hiền nài cho tiền rồi sẽ đối nốt. Quan cho tiền xong, cậu bé Hiền liền bổ sung chữ 廉 Liêm vào cuối vế đối. Quan chịu là giỏi, nhưng vui miệng hỏi thêm: “Thế nếu ta không cho tiền, thì cháu đối chữ gì?”. Nguyễn Hiền trả lời: “ Khó gì? Nếu ông không cho tiền thì tôi chỉ việc điền chữ 貪 Tham vào thôi!”. Quan biết thằng bé láu cá, đành phải bỏ đi không dám trêu chọc gì nữa, kẻo lại mang tiếng “to đầu mà dại”! Có thuyết khác nói giai thoại này là của Vũ Công Duệ đời Hậu Lê, Vũ Công Duệ (1468 - 1522) tên lúc nhỏ là Nghĩa Chi, người xã Trình Xá, huyện Sơn Vi, trấn Sơn Tây (nay thuộc huyện Thanh Sơn, tỉnh Vĩnh Phú). Đỗ Trạng nguyên năm 20 tuổi khoa Canh Tuất, niên hiệu Hồng Đức thứ 21 đời Lê Thánh Tông (1490). Làm quan đến Lại bộ Thượng thư kiêm Đông các Đại học sĩ chầu Kinh diên, được tặng Thiếu bảo, tước Trịnh Khê Hầu
  • Đối đáp với các quan khâm sai:

Nguyễn Hiền vốn quê làng Hà Dương (tỉnh Nam Định), mồ côi cha từ nhỏ, phải cùng mẹ sống trong một túp lều thuộc khuôn viên chùa làng. Nương nhờ cửa Phật, nhà sư dạy cho cậu bé chữ thánh hiền, mỗi buổi phải học xong mười tờ giấy. Khi đọc sách, chỉ cần liếc qua, Nguyễn Hiền đã thuộc làu. Ban đêm, không có tiền mua dầu thắp, chú tiểu Nguyễn Hiền bắt đom đóm, bỏ vào vỏ trứng làm đèn, nấu sử sôi kinh. Năm 11 tuổi, Nguyễn Hiền đã đọc hết pho sách của nhà chùa. Nguyễn Hiền thi đình, đỗ trạng nguyên (tiến sĩ thứ nhất) lúc mới 13 tuổi. Tại lễ triều kiến các vị tân khoa, vua Trần Thái Tông thấy trạng quá nhỏ tuổi, bèn hỏi: "Trạng nguyên học với ai?" Trạng Hiền đáp: "Thưa, tự học, chỗ nào không biết thì hỏi sư ông". Thấy trạng chưa biết cách xưng hô, nhà vua lệnh cho trạng về quê quán, hẹn ba năm sau sẽ cho vào triều và được phong quan. Cậu "trạng non" - dân làng quen gọi một cách thân mật - về quê, vẫn ở chùa và làm ruộng. Được ít lâu, sứ thần Mông Cổ sang An Nam đem 1 bài thơ ngụ ngôn sang thách giải nghĩa, nội dung như sau: "Lưỡng nhật bình đầu nhật, tứ sơn điên đảo sơn, lưỡng vương tranh nhất quốc, tứ khẩu tung hoành gian". Vua Trần hỏi các quân thần thì không ai hiểu nghĩa lý ra làm sao, phải sai hai quan văn võ đến nhà ông Nguyễn Hiền mời vào triều để hỏi. Hai viên khâm sai không quản ngày đêm, phi ngựa nước đại tìm về làng Trạng, thấy một lũ trẻ đang đùa nghịch ở gốc đa đầu làng, viên quan võ thử ra một câu đối để dò xem Trạng có mặt trong đám ấy chăng, vế ra là:

Tự là chữ, cất giằng đầu, chữ tử là con, con ai con nấy? (câu này nói về cách chuyển hóa chữ: “tự” [字] (chữ), ‘tách’ [宀] (giằng đầu), còn “tử” [子] (con)
Một đứa trẻ đối ứng khẩu ngay: Vu là chưng, bỏ ngang lưng, chữ đinh là đứa, đứa nào đứa này? (vế dưới cũng là phép tương tự: “vu” [于] (chưng), ‘bỏ’ [一] (ngang), thành chữ “đinh” [丁] (đứa)
Đối xong đám trẻ giải tán ai về nhà nấy, hai viên sứ giả biết đứa trẻ ấy là Trạng Hiền, mới hỏi thăm đến tận nhà thì thấy Trạng đang lúi cúi ở dưới bếp.
Viên quan văn bèn đọc một câu rằng: Văn quân từ viễn bảo trù, hà tu nự áo (Tôi nghe quân tử xa chỗ bếp nước, lọ là phải nịnh vua bếp)
Trạng Hiền ứng khẩu đối ngay: Ngã bản hữu quan cư đinh nại, khả tam điêu canh (Ta cốt có chức làm được Tể tướng, nhưng còn tạm nấu nồi canh. Nấu canh lạt mặn tại tay cũng như chức làm tướng)
Hai vị khâm sai biết đúng là trạng bèn mời về cung, trạng nói: “Nhà vua chê ta không biết lễ nhưng triều đình cũng không biết lễ. Muốn mời ta về phải có voi ngựa, bằng sắc, mũ áo rước ta đi”. Sứ phản hồi khi xin vua đầy đủ các nghi thức trên, bấy giờ trạng mới chịu hồi cung. Khi đến kinh, vua đưa bài thơ của Tầu ra hỏi. Trạng Hiền cầm bút viết ra một chữ và giải rằng: "Câu thứ nhất nghĩa là chữ nhật, ngược suôi bằng đầu nhau; Câu thứ nhì là bốn chữ san, ngược suôi cũng là chữ san cả; Câu thứ ba hai chữ vương tranh nhau ở trong một nước, câu thứ tư là bốn chữ khẩu ngang dọc đều là khẩu cả. Tóm lại chỉ là một chữ điền". Giải xong, đưa cho sứ Tầu xem, sứ Tầu phải chịu vì thế vua cử Nguyễn Hiền làm Kim tử vĩnh lộc đại phu; sau làm đến Công bộ thượng thư, không được bao lâu thì ông mất.
  • Hiện nay, tại đền thờ trạng nguyên Nguyễn Hiền ở quê hương ông, thôn Dương A (Nam Thắng, Nam Trực, Nam Định) còn giữ đôi câu đối ca ngợi công tích của Trạng như sau:
Thập nhị tuế khôi khai lưỡng quốc (Mười hai tuổi khai khoa hai nước)
Vạn niên thiên tuế lập tam tài (Nghìn năm ghi mãi chữ tam tài)
Đông A nhất giáp sinh tri Trạng
Nam Việt thiên thu quốc tế thần

Bạch Liêu[sửa]

Bạch Liêu còn gọi là Bạch Đồng Liêu sinh ở làng Thanh Đà, tổng Quỳ Trạch huyện Đông Thành (nay là xã Mã Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An). Cha làm nghề dạy học, bốc thuốc, là ng­ười “tích phúc truyền gia”, lấy nhân nghĩa làm gốc. Thủa nhỏ Bạch Liêu nổi tiếng thần đồng: 6 tuổi biết đọc, 7 tuổi biết làm thơ, 8 tuổi làm đư­ợc văn bài, 15 tuổi tiếng tăm vang lừng khắp quận huyện. T­ương truyền “Ông có trí nhớ dai chẳng ai bằng, có cặp mắt lóng lánh, nhãn quan thần lực đọc sách 10 dòng trong nháy mắt”. Trạng nguyên Bạch Liêu mất ngày 24 tháng giêng năm ất Mão (1315) thọ 79 tuổi. Trạng nguyên Bạch Liêu đư­ợc vua Trần phong sắc Đ­ương cảnh thành hoàng đại vư­ơng, dân lập đền thờ tôn vinh vị Tổ khai khoa của xứ Nghệ. Ông được nhiều địa phương suy tôn và lập đền thờ. Hiện nay con cháu trực hệ của dòng họ Bạch đã tu sửa nhà thờ và phần mộ của ông tại xã Mã Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Có mấy câu vè đề cập đến việc ông vinh quy bái tổ như sau: "Trạng nguyên đệ nhất tam khôi, nhất danh nhất giáp đầu ngôi bảng vàng. Mũ rồng áo tía vua ban, lọng xanh đi tr­ước lọng vàng theo sau..." Bạch Liêu đậu Trạng nguyên nhưng xin không ra làm quan để ở nhà báo hiếu song thân, góp công sức xây dựng quê nhà, đ­ược vua chấp nhận. Ðủ thấy phẩm chất cao quý của ông: không màng công danh phú quý, chịu nghèo khó lo phụng dư­ỡng cha mẹ, giúp đỡ quê h­ương. Ông từng làm môn khách giúp Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải trấn Nghệ An. Với tư cách là một quân sư, ông đã giúp Trần Quang Khải thảo ra kế hoạch về tuyển quân và dự trữ lương thực, củng cố biên giới phía Nam (gọi là Biến pháp tam chương) góp phần quan trọng trong việc đánh thắng quân Nguyên Mông. Ông được cử theo đoàn sứ bộ sang nhà Nguyên, bằng trí tuệ uyên bác và tài ngoại giao, ông đã góp phần thiết lập quan hệ ngoại giao hoà hiếu giữa 2 nước. Sinh thời Bạch Liêu đã chọn huyệt đất ở dưới chân núi Hồng Lĩnh làm nơi an nghỉ ngàn thu. Nơi này địa thế hùng vĩ tươi đẹp, sát chân núi Hồng Lĩnh, trên cao là ngọn Hương Tích có chùa Hương Tích (dựng đời Trần) rất nổi tiếng. Sau khi ông mất, con cháu theo di chúc an táng mộ ông ở địa điểm ấy -Nay thuộc thôn Phú Hưng xã Thiên Lộc huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh. Khu mộ đã được xếp hạng DTLSVH. Đền thờ Bạch Liêu ở xã Mã Thành huyện Yên Thành tỉnh Nghệ An cũng đã được xếp hạng Di tích LSVH cấp quốc gia. Hằng năm, đến ngày giỗ ông, con cháu và các sĩ tử của huyện đều tới giỗ ông - một vị "Thủy tổ khai khoa" - ở đây có đôi câu đối ca ngợi đức sáng của ông:

Sinh tiền bật dĩ Đông A đế (Sống không nhận quan tước của vua Trần)
Mật hậu năng vi Nguyễn Xá thần (Chết mong làm phúc thần cho dân Nguyễn Xá)
  • Nghệ An là vùng đất "địa linh nhân kiệt", người xứ Nghệ tuy có cuộc sống khó khăn song nổi tiếng hiếu học. Thời đại nào, xứ Nghệ cũng có người đỗ đạt cao, đem tài ra giúp dân, giúp nước. Văn miếu tỉnh Nghệ An được làm vào thời Nguyễn Gia Long (1803) có đôi câu đối nổi tiếng, biểu thị nền văn hiến và sĩ khí của nhân dân xứ Nghệ như sau:
Hoan Châu văn khí thiên niên trụ (Hoan Châu văn khí ngàn năm vững)
Học đạo chính tâm vạn cổ truyền (Học đạo chính tâm muôn thuở còn)

Trần Nhân Tông[sửa]

  • Trần Nhân Tông tên thật là Trần Khâm, là vị vua thứ ba của nhà Trần (sau vua cha Trần Thánh Tông và trước Trần Anh Tông). Ông là con trai trưởng của vua Trần Thánh Tông với Nguyên Thánh Thiên Cảm hoàng thái hậu Trần thị Thiều, sinh ngày 11 tháng 11 âm lịch năm Mậu Ngọ(1258), tại ngôi 15 năm (1278 – 1293) và làm Thái Thượng Hoàng 15 năm. Ông được sử sách ca ngợi là một trong những vị vua anh minh nhất trong lịch sử Việt Nam, ông là nhân vật chủ chốt trực tiếp chỉ đạo cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên Mông lần thứ III và thứ III. Ông đã cùng vua cha Trần Thánh Tông, mở hội nghị quân sự Bình Than, phân công các tướng lĩnh đi đóng giữ những nơi hiểm yếu để chuẩn bị đỡ các mũi tiến công của địch (1282). Ông lại cùng với cha tổ chức hội nghị Diên Hồng (1284) để cùng nhất trí trẻ già, một lòng quyết đánh. Chưa bao giờ tinh thần đánh giặc ở nước ta được phát triển mạnh như dưới thời vua Trần Nhân Tông. Cả nước sục sôi chuẩn bị, quân sĩ tỏ thái độ quyết không đội trời chung với địch. Và quả nhiên quân ta đã ra quân là chiến thắng còn địch thì thất bại thảm hại, trận Bạch Đằng (9-4-1288) đại thắng đã đè bẹp ý đồ bành trướng của đế quốc Nguyên Mông. Ngày 17-3 năm Mậu Tý (18-4-1288), sau chiến thắng Bạch Đằng, triều đình nhà Trần đem các tướng Nguyên bị bắt làm lễ dâng thắng trận ở Chiêu Lăng (lăng vua Trần Thái Tông). Tại đây, vua Trần Nhân Tông trông thấy chân mấy con ngựa đá đều lấm bùn (vì trước đó quân Nguyên đã phá Chiêu Lăng và định đập bỏ ngựa đi mà chưa kịp), ngài tức cảnh ngâm hai câu sau:
社稷兩回勞石馬 Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã (Xã tắc đôi phen chồn ngựa đá)
山河千古奠金甌 Sơn hà thiên cổ điện kim âu (Non sông nghìn thuở vững âu vàng)
Có thể nói đây là một vế đối hoàn hảo cả về đối âm, đối ý và đối nghĩa. Trong câu đối này các âm đơn, âm đôi và cả cụm âm đều đối xứng với nhau rất rõ nét về mặt âm tiết: Xã tắc (trắc trắc) đối với Sơn hà (bằng bằng). Xét về ngữ nghĩa: Xã tắc (đất nước) – Sơn hà (núi sông) còn "lưỡng hồi" (đôi phen) đối với "thiên cổ" (muôn thuở). Về ý nghĩa của đôi câu đối này, nhà thơ Vũ Quần Phương đã phân tích như sau: “Trong thơ Trần Nhân tông, âm vang của hai đợt kháng chiến cứu nước chống Nguyên Mông nhiều khi dội lên thành tứ thơ bất ngờ lãng mạn: Xã tắc hai phen (đến cả) ngựa đá cũng mệt nhọc, (Nhưng chính nhờ vậy mà) núi sông nghìn thuở vững chãi. Kháng chiến toàn diện, đến ngựa đá cũng ra trận, trên vó còn lấm bùn chinh chiến.
  • Câu đối khác là tựa đề trong tác phẩm "Quân Tu Ký" đề ở trên mui thuyền rồng:
會稽舊事君須記 Cối Kê cựu sự quân tu ký (Cối Kê việc cũ, ngươi nên nhớ)
驩愛猶存十萬兵 Hoan Ái do tồn thập vạn binh (Hoan, Ái đang còn chục vạn quân)
Ở đây nhà vua muốn so sánh với điển tích rằng, xưa kia Việt Vương Câu Tiễn chỉ có 5.000 quân mai phục ở đất Cối Kê mà còn đánh bại được hàng vạn quân của Ngô Phù Sai sang xâm lược huống hồ, quân đội nhà Trần chỉ trong cuộc hội quân của 1 lộ và 2 hương đã hùng mạnh thế kia! Nếu tính đến cả hàng chục vạn quân dự bị chiến lược của nhà vua đứng chân ở đất Hoan Diễn thì lo gì mà không đánh bại được cuộc chiến tranh xâm lược nước ta lần thứ II của quân Mông-Nguyên, dù chúng có hung bạo đến đâu. Hoan Diễn (châu Hoan và phủ Diễn nay thuộc tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh), nằm về hướng nam kinh thành Thăng Long, bắc giáp châu Ái (Thanh Hóa), nam giáp Thuận Hóa (Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế), đông giáp biển và tây giáp nước Lào. Địa hình Hoan Diễn phức tạp, có nhiều dãy núi liên tiếp dọc ngang tạo thành thế “thiên hiểm” rất thuận lợi cho công cuộc phòng thủ đất nước. Từ Hoan Diễn có đường thủy bộ ra Bắc, nối liền với đồng bằng sông Hồng trù phú, đông người, nhiều của; có đường vào Nam, sang Lào. Trên địa bàn Hoan Diễn có nhiều dân tộc anh em cùng chung sống. Sách Ô Châu cận lục của Dương Văn An đời Mạc từng nhận xét: “Người Hoan Diễn phóng khoáng và chuộng điều nghĩa”. Nơi đây, thiên nhiên vô cùng phong phú nhưng rất khắc nghiệt đối với con người. Chính cuộc sống gian lao đó đã tôi luyện cho nhân dân một nghị lực phi thường, một bản lĩnh vững vàng trước gian lao, tin yêu cuộc sống và quê hương.

Mạc Đĩnh Chi[sửa]

Đền thờ Mạc Đĩnh Chi ở quê hương

Mạc Đĩnh Chi, người xã Lũng động, huyện Chí Linh, nay là thôn Lũng động, xã Nam Tân, huyện Nam Sách, tỉnh hải Dương. Mạc Đĩnh Chi mồ côi cha từ nhỏ, nhà nghèo, hai mẹ con phải đi vào rừng sâu hái củi để kiếm sống hàng ngày. Bà mẹ đã chịu hy sinh tất cả để cố nuôi con, cho con đi học. Trong những năm tháng nhọc nhằn, tủi nhục, mẹ vẫn cắn răng chịu đựng, chỉ ao ước con mình sẽ có ngày đỗ đạt để giúp ích cho đời, thoát khỏi cảnh nghèo, niềm tin ấy đã giúp mẹ vượt qua mọi gian khổ. Hiểu được lòng mẹ, Mạc Đĩnh Chi càng ra sức học tập. Vốn là cậu bé có tư chất thông minh lại phải sống trong cảnh mồ côi nghèo khổ, bị người đời khinh rẻ, nên Mạc Đĩnh Chi sớm nhận ra rằng chỉ có học tập, học thành tài mới là con đường đưa cậu bé thoát khỏi cảnh nghèo khổ và cũng là để thể hiện phẩm chất thanh cao của con người từ sự đỗ đạt mà đi lên. Vì vậy, không mấy lúc Mạc Đĩnh Chi ngơi đọc sách, nghiền ngẫm nghĩa sách, kể cả lúc vai gánh củi đi bán. Không có sách học, thì mượn thầy mượn bạn. Mạc Đĩnh Chi cố học nhiều cuốn sách quý. Không có tiền mua nến để đọc sách, thì Mạc Đĩnh Chi đốt củi, hết củi thỉ lấy lá rừng đốt lên mà học, thật là vô cùng gian khổ, nhưng chú bé không hề nản chí. Do có nghị lực phi thường, cộng với tính thông minh trác việt, chẳng bao lâu Mạc Đĩnh Chi đã nổi tiếng thần đồng nho học xứ Hải Đông. Khoa thi Giáp Thìn (1304), thi hội, Mạc Đĩnh Chi đỗ Hội nguyên, thi Đình, ông được chấm đỗ Trạng Nguyên, nhưng khi vào ra mắt nhà vua, vua Trần Nhân Tông thấy ông tướng mạo xấu xí, có ý không muốn cho ông đỗ đầu. Biết ý, ông đã làm bài “Ngọc tỉnh liên phú”. Đó là bài phú bằng chữ Hán để gửi gắm chí khí của mình. Bài phú đề cao được phẩm chất trác việt và phong thái cao quý của một người khác thường, vượt xa người khác về mọi mặt; Song không muốn a dua với người tầm thường để mong cho đời biết đến. Ông dùng hình tượng một bông sen sinh ra trong giếng ngọc ở núi Hoa Sơn do một vị đạo sĩ kỳ dị hái mang xuống cõi trần. Vua Trần Anh Tông xem xong khen là thiên tài mới cho đậu Trạng nguyên, ban cờ hiển vinh quy bái tổ.

Câu đối viết ở trong nước[sửa]

  • Câu đối viết tặng bạn đồng liêu:

Trong khi làm quan tại triều, Mạc Đĩnh Chi có người bạn đồng liêu, ông này lấy hai vợ nhưng hay ghen tuông nhau. Một hôm, tan triều, ông gọi ông bạn kia trao cho một đôi câu đối, nói mới nghĩ ra để tặng bạn dán ở cửa buồng. Câu đối ấy đều dùng liền trong sách Hán Cao Tổ và trong Kinh Thư, mà rất hợp với cảnh bạn ông:

Đông đầu Hán-vương thắng, Tây đầu Hạng vương thắng, quyền túc tại túc hạ (Danh Đông Hán vương được sang Tây Hạng vương được, quyền ở dưới gót)
Chinh Đông Tây- di oán, chinh Nam Bắc-địch oán, hà đọc hậu dự? (Đánh Đông mọi Tây oán, đánh Nam rợ Bắc oán: sao đến ta sau?)
  • Câu đối viết ở chốn lầu xanh:
Thốn thổ thị lương điền, canh giá bất câu xuân hạ nhật (Tấc đất làm ruộng tốt, cấy cày không kể hạ hay xuân)
Tứ hoang giai ngã thác, thân tình hề dụng bắc nam nhân (Tay rộng mở bốn bề, thân tình không kể kẻ bắc nam)

Đi sứ nhà Nguyên[sửa]

Trên đường đi[sửa]
  • Đối đáp với quan giữ ải Phong Lũy (tức Mục Nam quan):

Năm 1308, Mạc Đĩnh Chi đi sứ nhà Nguyên, do trời mưa làm trở ngại đường đi nên đến cửa khẩu sai hẹn, quân canh gác đóng cửa buộc phải chờ sáng hôm sau mới được qua ải. Thấy sứ bộ Đại Việt cứ biên bạch đòi mở cửa để đi cho kịp thì viên quan phụ trách ải nói: "Nghe nói ngài là người có tài văn chương. Sao không đem sử dụng lúc này? Bây giờ tôi ra một câu đối, nếu đối thông suốt, tôi sẽ mở cửa ải; bằng không xin ngài chờ tới sáng". Rồi quân Nguyên thả từ trên cửa thành cao xuống một câu đố thách thức nếu sứ bộ đối được thì họ sẽ mở của thành cho đi.

vế ra: 過闗遲闗官閉閼過客過闗 Quá quan trì, quan quan bế, át quá khách quá quan (Nghĩa là: “Tới cửa ải chậm trễ, cửa ải đóng, người coi ải đóng cửa không cho khách qua”).
Nhưng nghe không ổn; bởi vì sự thể rõ ràng là người giữ ải không muốn cho khách qua ải lúc tối; chứ không hề có ý mời khách đi qua?! vế đối có 3 chữ quá và 4 chữ quan, ông suy nghĩ một lát rồi đọc
vế đối như sau: 先對易對對難請先生先對 Tiên đối dị, đối đối nan, thỉnh tiên sinh tiên đối (Nghĩa là: “Ra câu đối dễ, đáp lại khó, xin mời ngài đối trước”).
Vế đối của Mạc Đĩnh Chi có 4 chữ “đối” và 3 chữ “tiên,” đáp đúng với câu đối của viên quan giữ ải. Tưởng sẽ đưa sứ bộ Đại Việt vào thế bí; nào ngờ lại có vế đối quá hay. Quan coi ải vái Mạc Đĩnh Chi hai vái và quân Nguyên mở của ải để sứ bộ của Mạc Đĩnh Chi đi qua biên giới vào giữa đêm. Theo giáo sư Lê Văn Đặng thì có lẽ ai đó (?) đã bịa ra giai thoại nầy khá hay, nhưng vế 2 chỉ đối được âm Hán Việt, không đối được chữ; nghĩa không chỉnh ở chữ thứ 5 của 2 vế: 官 (ông quan) khác với 對 (câu đối)
  • Đối đáp với cao tăng đắc đạo:

Qua ải ít lâu, đoàn sứ bộ ghé vào vãn cảnh một ngôi chùa ở mé đường, Mạc Đĩnh Chi có ngồi bàn luận văn chương với một nhà sư Trung Hoa.

Nhà sư đọc: 几以木杯不木如何以几為杯 Kỷ dĩ mộc, bôi bất mộc, như hà dĩ kỷ vi bôi (Ghế là gỗ, chén chẳng là gỗ, sao nỡ lấy ghế làm chén)
Mạc Đĩnh Chi đối: 僧曾人佛弗人何乃以僧師佛 Tăng tằng nhân, Phật phất nhân, hà nãi dĩ tăng sư Phật? (Sư là người, Phật chẳng là người, sao lại để cho sư thờ Phật?)
Câu đối đều mang tính chiết tự: Chữ “kỉ” [杞] gồm hai chữ “dĩ” [已] và “mộc” [木]; chữ “bôi” [杯] gồm hai chữ “bất” [不] và “mộc” [木] ; chữ “tăng” [僧] gồm hai chữ “tằng” [曾] và “nhân” [ ] ; chữ “Phật” [佛] gồm hai chữ “phất” [弗] và “nhân” [ ]. Hàm ý của vế ra đối chê ông Mạc người thấp bé (như cây gỗ kỉ) mà được trọng dụng. Vế đối lại cũng có thể có hàm ý: "việc tu hành của ông chẳng hợp lẽ chút nào".
  • Giải oan cho Thư sinh:

Trên đường đi đến kinh đô nhà Nguyên, trong một chiều hè nóng bức, Mạc Đĩnh Chi và tùy tùng lúc ấy thấy một quán nước ven đường thì dừng lại nghỉ chân. Chủ quán là một bà cụ già tóc bạc phơ, đến chào khách. Gần quán có một giếng nước. Trên thành giếng có viết 5 chữ: 銀缾腱上鼻 Ngân bình, kiên thượng tị.

Thấy lạ, Mạc Đĩnh Chi hỏi duyên do. Bà cụ chủ quán chậm rãi kể: "Xưa có một cô gái bán hàng nước ở đây rất thông minh, học giỏi, chữ nghĩa tốt. Có một anh học trò thầm yêu cô hàng nước, muốn ngấp nghé. Ngày ngày đi học về, thường ghé vào quán uống nước; và tìm lời trêu ghẹo. Một hôm cô hàng nước nói thực với anh: "Thiếp là con nhà lương dân, có theo đòi bút nghiên, mà chàng cũng con nhà thi lễ, nếu như phải duyên trời, thực cũng xứng đôi vừa lứa, Nhưng mà thiếp chưa được biết tài học của chàng ra sao, vậy thiếp xin ra một câu đối, nếu chàng đối được, thiếp tình nguyện xin nâng khăn sửa túi, bằng không, thì xin chàng chớ qua đây quấy rầy làm gì nữa". Anh học trò bằng lòng. Cô hàng nhân nhìn thấy cái ấm tích bằng bạc trên bàn, mới ra câu đối trên có nghĩa là “Bình bạc, mũi trên vai.” (Ý nói cái vòi trên cổ ấm nước). Anh học trò nghĩ mãi mà không đối được, xấu hổ quá, đành đâm đầu xuống cái giếng gần đó chết. Ít lâu sau, người ta cho viết vế xuất câu đối ấy lên thành giếng để thách thức cả thiên hạ, nhưng xưa nay chưa ai đối được". Nghe đến đây, Mạc Đĩnh Chi cười: "Câu ấy dễ thế sao không đối được mà phải ngậm oan nơi đáy giếng! Thôi để ta đối giùm giải oan cho hồn kẻ thư sinh".
Mạc Đĩnh Chi bèn đọc: 金鎖腹中鬚 Kim tỏa, phúc trung tu (Nghĩa là “Khóa vàng, râu trong bụng.” Ý nói cái tua khóa ở trong ruột khóa). Sau đó, Mạc Đĩnh Chi sai người viết câu ấy lên thành giếng, bên cạnh câu đối của cô hàng nước năm xưa. Mọi người đều chịu ông đối giỏi.
  • Ứng khẩu khi bị sa xuống hố:

Sau nhiều ngày vất vả, Mạc Đĩnh Chi cùng sứ bộ đến Yên kinh, kinh đô nhà Nguyên. Nghe tin đồn Trạng nguyên An Nam nổi tiếng thông minh, quan lại nhà Nguyên mới hội nhau bàn cách chơi trác. Họ đào một cái hố vừa to, sâu quá đầu người, trên ngụy trang như đường đi ngay trước cây cầu vào kinh thành. Hôm sau, Mạc Đĩnh Chi dẫn sứ bộ vừa đi tới đó. “Huỵch" một tiếng, cả người lẫn ngựa Mạc Đĩnh Chi lăn luôn xuống hố. Các quan Tầu phá ra cười (cốt để hạ nhục Mạc Đĩnh Chi) rồi một viên quan nói: "Nghe nói tiên sinh là người đối đáp xuất chúng, chúng tôi không tin. Nếu tiên sinh đối được câu đối này thì toàn bộ quan lại chúng tôi xin đỡ tiên sinh lên". Ông đồng ý.

Viên quan kia đọc: 杆木横渠陸假相如私道 Can Mộc Hoành Cừ Lục Giả Tương Như Tự Đạo (Nghĩa là: “Gỗ thẳng, cầu ngang, đường đi ngỡ là đất phẳng”).
Cái khó của câu này là ở chỗ dùng toàn tên những người nổi tiếng trong sử Trung Hoa ghép lại. Theo đó, “Can mộc” là Đoàn Can Mộc, một nhân vật đời Chiến quốc; “Hoành Cừ” là tên hiệu của Trương Tải, một triết gia đời Bắc Tống; “Lục Giả” người nước Sở, giỏi biện luận, theo giúp Hán Cao Tổ; “Tương Như” là Lạn Tương Như, một nhân vật nổi tiếng đời Chiến Quốc; “Tự Đạo” là Giả Tự Đạo, người đời Tống, một quyền thần chuyên chế.
Mạc Đĩnh Chi nhớ lại lúc trước khi ngã, ông nhìn thấy ở bên kia sông có cái đình dưới chân núi, nhân thế chỉ tay thẳng đình mà đối: 大庭安石望之染略天台 Đại Đình An Thạch Vọng Chi Nghiễm Lược Thiên Thai (Nghĩa là: “Đình to, đá vững, nhác trông như thể (núi) Thiên Thai”)
Câu này cũng dùng toàn tên người ghép lại như ở câu chủ mà lại có ý khoáng đạt hơn nhiều, theo đó “Đại Đình” là một biệt hiệu của Thần Nông; “An Thạch” tức Vương An Thạch Thừa tướng đời Bắc Tống; “Vọng Chí” là danh nhân đời Hán, làm phụ chính cho Hán Nguyên Đế; Thiên Thai là một Tông Phái Phật Giáo, do Bồ-tát Long Thọ sáng lập 龍樹(梵文:Nāgārjuna) Riêng chữ "Nghiễm Lược" các nhà nghiên cứu chưa tra cứu ra là ai?! Chưa hiểu hết ý tưởng uyên thâm của Mạc Đĩnh Chi…Đúng theo lời hứa, văn võ bá quan triều Nguyên bất chấp áo mũ xúm lại đỡ ông Trạng lùn xấu xí nước Nam lên khỏi hố.
  • Đối đáp với viên quan người Tống:

Mạc Đĩnh Chi và đoàn sứ đang cưỡi lừa đi xem hàng ngoài đường phố, thì bỗng lừa Mạc Đĩnh Chi đụng độ với ngựa của một viên quan người Tống.

Viên quan này nhìn Mạc Đĩnh Chi bằng nửa con mắt và đọc một câu: Xúc ngã kỵ mã, Đông di chi nhân giả, Tây di chi nhân giả (chạm phải ngựa ta, không rõ là bọn Đông Di hay Tây Di vậy)
Viên quan này lấy chữ "Đông di" ở sách Mạnh Tử, tỏ ý khinh rẻ người nước Nam là kẻ mọi rợ.
Mạc Đĩnh Chi nhìn thẳng vào mắt tên quan, đáp: Át dư thừa lư, Nam phương chi cường dư, Bắc phương chi cường dư (cưỡi lừa dạo chơi, mới biết người Bắc khoẻ hay người Nam khoẻ). ::Vì chữ "Nam phương" lấy ở sách Trung Dung đã nói rõ thâm ý người phương Bắc chắc gì đã mạnh hơn người phương Nam, nếu mạnh hơn sao lại chịu để giặc Nguyên đô hộ? Viên quan người Tống kia tỏ ý xấu hổ, ra roi cho ngựa đi thẳng không dám hoạnh hoẹ nữa.
Trong hoàng cung[sửa]

1 - Với chư quan đương triều:

  • Đối đáp với quan Thừa Tướng:
Bữa nọ, trong lúc chờ thiết triều, quan Thừa Tướng ra vế đối: 安去女已豕為家 An nữ khứ, dĩ thỉ vi gia (Chữ “an 安” bỏ chữ “nữ 女” đi, thêm chữ “thỉ 豕” vào thành chữ “gia 家”/“nhà”). Thấy ông là người thấp bé xấu xí tỏ ý khinh thường, đại ý là họ coi ông xấu xí như lợn, mà đưa đi sứ. Ngoài ra còn có ý khác là nhà Nguyên cần phải xóa sổ nước An Nam để nhập vào bản đồ Trung Quốc)
Mạc Đĩnh Chi đáp lại: 囚出人立王成囯 Tù nhân xuất, nhập vương thành quốc (Chữ “tù 囚” bỏ chữ “nhân 人” đi, thêm chữ “vương 王” vào thành chữ “quốc 囯”). Đại ý là người ở trong tù đưa ra thì họ cũng làm được vua một nước, câu này đối ý cũng rất chuẩn vì nó nói nên rằng dân Đại Việt không chịu đè nén như vậy mà vẫn đứng vững thành một quốc gia riêng)
  • Đối đáp với quan Quan Thượng Thư:
Quan Thượng Thư thấy vậy đọc: Thập khẩu tâm tư, tư quốc tư gia, tư phụ mẫu (câu này dùng phép chiết tự, chữ thập 十, chữ khẩu 口, chữ tâm 心 gộp lại thì thành chữ tư 思 có nghĩa là nhớ: nhớ nước, nhớ nhà, nhớ cha mẹ)
Mạc Đĩnh Chi lên tiếng đối luôn: Thốn thân ngôn tạ, tạ thiên, tạ địa, tạ quân vương (chữ thốn 寸,chữ thân 身, chữ ngôn 言 gộp lại thành chữ tạ 謝 có nghĩa là cám ơn: cám ơn trời, cám ơn đất, cám ơn vua)
Câu đối trên đây na ná với giai thoại về mối tình của Đường Bá Hổ - Điểm Thu Hương bên Trung Quốc: vế ra của Điểm Thu Hương 十口心思 思国思家思社稷 Thập khẩu tâm tư, tư quốc, tư gia, tư xã tắc (Chữ thập 十 nằm trong chữ khẩu 口 thành chữ điền 田, chữ điền 田 trên chữ tâm 心 thành chữ 思 (nhớ), nhớ nước, nhớ nhà, nhớ xã tắc) và vế đối của Đường Bá Hổ 八目尚賞賞风賞月賞秋香 Bát mục thượng thưởng thưởng phong thưởng nguyệt thưởng Thu Hương (Chữ mục 目 trên chữ bát 八 thành chữ bối 貝, chữ 貝 nằm dưới chữ thượng thành chữ thưởng (thưởng thức), thưởng gió, thưởng trăng, thưởng Thu Hương (Thu Hương là người tình của Đường Bá Hổ).
  • Đối đáp với quan Thái Sư:
Quan Thái Sư đứng cạnh đó tiếp tục ra: Thiên lý vi trùng, trùng thủy trùng sơn trùng nhật nguyệt (Nghĩa là: Việt cách Trung Quốc nghìn dặm, núi sông nước đều giống như Trung Quốc. Nghĩa bóng: Họ gạ nước Việt nhập vào Trung Quốc)
Mạc Đĩnh Chi đối lại như sau: Nhất nhân thành đại, đại quân đại quốc đại càn khôn (Nghĩa là: Một người cũng là lớn, có vua lớn, nước lớn có trời đất lớn. Nghĩa bóng: Nước Việt tuy nhỏ nhưng cũng có vua quan, có trời đất riêng không phụ thuộc vào ai)
  • Đối đáp với quan Thái Uý:
Quan Thái Uý liền nối tiếp mạch văn chương: Hải trung hàm thủy thanh thiên bao nhật nguyệt tinh thần (Nghĩa là: Trong bể đựng nước bao bọc trời xanh mặt trời mặt trăng và cả tinh thần. Nghĩa bóng: Đại ý nói Trung Quốc là nước lớn rộng như trời biển bao bọc cả trời xanh mặt trời mặt trăng và cả các vì sao, so nước Việt thì nước Việt nhỏ bé)
Mạc Đĩnh Chi đối lại như sau: Hàn thượng phân kim chỉ địa quát đông tây nam bắc (Nghĩa là: Trên mâm chia vàng chỉ xuống đất bao quát cả đông tây nam bắc. Nghĩa bóng: Trên một cái mâm chia vàng ai cũng được chia như nhau không cậy lớn mà chia ít cho người khác chỉ xuống đất bao quát thấu suốt được 4 phương đông tây nam bắc, nói cách khác không thể khinh nước nhỏ mà ăn hiếp được)

2 - Đối đáp với Hoàng Đế Nguyên Vũ Tông:

Chân dung Nguyên Vũ Tông
  • Đến khi thiết triều, vua Nguyên thấy sứ An Nam thấp lùn xấu xí liền ra một vế đối: Lị Mị Võng Lưỡng tứ tiểu quỷ (dịch nghĩa: Lị, Mị, Võng, Lưỡng là 4 con quỷ nhỏ) thiên tử có ý chê Mạc Đĩnh Chi hình dung xấu như quỷ, hơn nữa lại chơi chữ bởi các chữ lị [魑], mị [魅], võng [魍], lượng [魎] đều có bốn chữ quỷ [鬼] ở bên phải.
Mạc Đĩnh Chi đối lại: Cầm Sắt Tỳ Bà bát đại vương (dịch nghĩa: Cầm, Sắt, Tỳ Bà có 8 vua lớn) các chữ cầm [琴], sắt [瑟], tì bà [琵 琶] đều có tám chữ vương [王] đặt ở trên, phía trên là tên các loài quỷ phía dưới là tên các loại đàn. Vế đối này ông đã khéo chọn tên những cây đàn trong đó có 8 chữ vương. Chẳng những đã khéo tìm chữ đối lại với con số 4 mà lại có ý bảo ta đây là 8 vị đại vương chứ không phải 4 con quỷ nhỏ)
Sau này trong ca dao có những câu sau: "Cầm đàn gảy khúc nam thương, tì bà cầm sắt bát vương đối gì?" và "Khéo đưa sách cổ mà ôn, lị mị võng lượng bốn con quỷ ngồi" là lấy ý từ giai thoại đối đáp trên. Trong tiểu thuyết võ hiệp "Xạ điêu anh hùng truyện" của Kim Dung, tác giả đã dùng câu đối này đưa vào đoạn Quách Tĩnh cõng Hoàng Dung đi gặp Nam Đế chữa bệnh và thi thố với tứ đại đệ tử của ông là: Ngư, Tiều, Canh, Độc.
  • vua Nguyên tuy phục tài nhưng vẫn tiếp tục ra một vế nữa: Quých tập chi đầu, đàm Lỗ luận: tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri, thị tri (Chim chích đậu đầu cành, bàn sách Luận ngữ: biết thì nói là biết, không biết thì nói không biết, đó mới là biết - câu này dùng chữ trong Luận ngữ. Âm "i" nhại tiếng chim kêu líu lo, chọc âm của tiếng Việt)
Mạc Đĩnh Chi đáp lại: Oa minh trì thượng, độc Châu thư: lạc dữ thiểu nhạc lạc, lạc dữ chủng lạc nhạc, thục lạc? (Con ếch kêu trên bờ ao, đọc Châu thư: vui cùng ít người nhạc vui, vui cùng nhiều người nhạc vui, đằng nào vui hơn? - câu này dùng chữ trong Mạnh tử. Âm "ạc" nhại tiếng ếch kêu, chê giọng ồm ồm của người Tàu)
Không chỉ riêng câu đối mà còn qua rất nhiều những thử thách khác nữa, Thiên tử Nguyên triều và chư quan đều công nhận học vấn của Mạc Đĩnh Chi uyên bác và sắc phong ông làm Lưỡng Quốc Trạng Nguyên.

Hồ Quý Ly[sửa]

  • Giai thoại đối đáp với vua Trần Nghệ Tông (1321 - 1394):
Trần Nghệ Tông là vị vua thứ 8 của nhà Trần trong lịch sử Việt Nam, tên thật là Trần Phủ, sinh tại kinh đô Thăng Long, (Hà Nội), Việt Nam. Ông là em trai của vua Trần Hiến Tông và là anh trai của vua Trần Dụ Tông, giữ tước vị Cung Định Vương dưới triều hai vị vua này. Ông là vị Hoàng đế có công lật đổ Dương Nhật Lễ và khôi phục lại cơ đồ cho Vương triều nhà Trần. Tuy nhiên, sự thiếu quyết đoán của ông đã khiến quyền bính rơi vào tay của ngoại thích Lê Quý Ly - người sau này sẽ cướp ngôi triều Trần. Do đó, dẫu được ca ngợi là "công nghiệp lớn lao, ông cũng bị sử sách phê phán là nhu nhược, "nối giáo cho giặc". Ngoài ra, như một vị Hoàng đế không có bản lĩnh, ông không thể chống nổi sự xâm phạm của quân Chiêm Thành, khiến có lúc kinh đô Thăng Long bị thất thủ về tay giặc. Và ông, cùng với vua em Trần Dụ Tông trước kia, trở thành hai vị vua gây ra sự suy vong cho triều đại nhà Trần. Vào ngày 15 tháng 11 năm 1370, vua Trần Nghệ Tông lên ngôi đại thống. Ông đặt niên hiệu và ra lệnh đại xá. Ngoài ra, ông còn xưng làm Nghĩa Hoàng. Bá quân dâng cho ông tôn hiệu là Thể khiên kiến cực thuần hiếu hoàng đế. Ít lâu sau khi lên ngôi, ông lên làm Thái thượng hoàng vào năm 1372, nhường ngôi cho em là Trần Kính - tức vua Trần Duệ Tông. Vua Duệ Tông tử trận trong cuộc tiến công Chiêm Thành vào năm 1377, và bất chấp Đỗ Tử Bình là kẻ tội đồ cho thảm bại này, ông lại nương tay với Tử Bình. Cho đến cuối đời, ông vẫn có thái độ mù quáng và tin dùng Quý Ly. Tháng 3 năm 1394, ông chiêm bao thấy vua em Trần Duệ Tông đem quân đến và đọc bài thơ như sau: "Trung gian duy hữu xích chủy hầu, ân cần tiếm thượng bạch kê lâu, khẩu vương dĩ định hưng vong sự, bất tại tiền đầu tại hậu đầu". Dịch là: "Ở giữa chỉ có loài mỏ đỏ, lăm le lấn lên lầu gà trắng, khẩu vương đã định việc hưng vong, không ở trước mà ở về sau". Ông tự mình chiết tự đoán là: "xích chủy" (miệng đỏ) ám chỉ Quý Ly, "bạch kê" (gà trắng) là Nghệ Tông, vì ông tuổi Tân dậu (1321); "khẩu vương" thì chữ khẩu và chữ vương là chữ "quốc"; việc nước còn hay mất sau sẽ thấy. Nghệ Tông tự đoán biết ngày sau mình qua đời nhà Trần sẽ mất nước. Ngày 15 tháng 12 năm 1394, ông mất, được táng vào Nguyên Lăng ở Yên Sinh, miếu hiệu là Nghệ Tông, tên thụy là Quang Nhiên Anh Triết Hoàng đế. Trần Nghệ Tông làm vua 3 năm, làm thượng hoàng 27 năm trong 3 vua đời kế tục, thọ 74 tuổi.
Hồ Qu‎ý Ly, trước có tên là L‎ê Qu‎ý Ly, tự là L‎ý Nguyên, vốn dòng dõi xa của Hồ Hưng Dật người Chiết Giang, Trung Quốc, sang làm Thái thú Diễn Châu (Nghệ An) thời Hậu Hán (Ngũ Đại). Ông có 2 người cô được vua Trần Minh Tông lấy làm cung phi và đều trở thành mẹ của hai vua Trần. Vì vậy, khi Trần Nghệ Tông lên ngôi, vua đã rất tín nhiệm và cất nhắc ông từ chức Chi hậu Tức cục Chánh chưởng lên Khu mật Đại sứ rồi lên Tiểu tư không, tiến phong Đồng bình chương sự, gia phong đến Phụ chính Thái sư nhiếp chính, Khâm Đức Hưng Liệt Đại Vương. Sau đó ông cướp ngôi nhà Trần tự xưng là Quốc Tổ Chương Hoàng Đế, đặt quốc hiệu là Đại Ngu, truyền ngôi cho con là Hán Thương. Tương truyền Hồ Quý Ly lúc hàn vi thường theo cha nuôi họ Lê đi buôn đường biển, một lần thuyền ghé vào bờ, Quý Ly thấy trên bãi biển có ai vạch lên câu thơ: Quảng Hàn cung lý Nhất Chi Mai (Quảng Hàn cung nọ một cành mai). Quý Ly thấy hay liền nhẩm thuộc lòng câu thơ đó. Sau này làm quan một hôm hộ giá vua Trần Nghệ Tông đi chơi, nửa chừng ghé vào tránh nắng ở điện Thanh Thử, thấy trước điện rất nhiều cây quế, vua liền ra câu dối:
Thanh Thử điện tiền thiên thụ quế (Thanh Thử điện kia ngàn gốc quế)
Quy Ly chợt nhớ lại câu thơ trước đây liền đọc luôn: Quảng Hàn cung lý Nhất Chi Mai
Nghe xong, các quan đều tán thưởng tài văn chương của Hồ Qu‎ý Ly. Vua Trần vừa phục, vừa thấy lạ lùng bởi nhà vua có một người em gái là công chúa Nhất Chi Mai (Huy Ninh). Nàng đang để tang chồng là Phó kỳ lang Trần Nhân Vinh mới bị giết, vua cho xây dựng cung cấm rất kín đáo để em gái tiện cư tang, không tiếp xúc với bên ngoài nên kể cả các quan gần gũi cũng rất ít người biết. Vua hỏi Hồ Qu‎ý Ly tại sao lại biết được việc kín trong cung, rồi chuyện tòa lầu của công chúa ở là cung Quảng Hàn do chính vua đặt tên? Hồ Qu‎ý Ly cứ thật tình tâu bày chuyện câu thơ năm xưa trên bãi biển, vua cho đó là duyên trời định bèn hứa sau khi em hết tang ba năm sẽ cho tái giá với Quý Ly.
  • Câu đối với tướng quốc Hồ Nguyên Trừng (1374 - 1446):

Hồ Nguyên Trừng, trước để họ Lê, tự là Mạnh Nguyên, hiệu Nam Ông là người huyện Vĩnh Phúc, lộ Thanh Hoa (nay thuộc tỉnh Thanh Hóa). Ông là con trai cả của vua Hồ Quý Ly, và là anh của vua Hồ Hán Thương. Dưới triều nhà Trần, Hồ Nguyên Trừng từng giữ chức Thượng Lân tự, Tư đồ. Đầu năm 1400, cha ông truất ngôi Trần Thiếu Đế, tự lên ngôi vua, lập nên nhà Hồ. Sau đó, Hồ Nguyên Trừng được cử làm Tả tướng quốc. Ngày 12 tháng 5 năm Đinh Hợi (tức 17 tháng 6 năm 1407), cả ba cha con ông và người cháu là Hồ Nhuế (con Hồ Hán Thương) đều bị quân nhà Minh bắt tại Kỳ La (Kỳ Anh, Hà Tĩnh), rồi bị áp giải về Kim Lăng (Nam Kinh, Trung Quốc). Biết được Hồ Nguyên Trừng (và Hồ Nhuế) có tài năng, vua Minh Anh Tông cho ân xá, nhưng buộc phải đổi họ khác (vì không thừa nhận gia đình ông là dòng dõi Ngu Thuấn). Sau này, Hồ Nguyên Trừng được thăng chức Công bộ Thượng thư (1445) được một năm thì mất, thọ 73 tuổi. Triều Minh cho con ông là Lê Thế Vinh (trước đó đang làm Chuyển vận sứ ở Diêm vận ty tỉnh Sơn Đông) làm Trung thư xá nhân, tiếp tục lo việc chế tạo quân khí. Hiện mộ phần Lê Trừng (tức Hồ Nguyên Trừng), Lê Thúc Lâm và Lê Thế Vinh (con Thúc Lâm, cũng làm quan cho triều Minh) đều ở tại thôn Nam An Hà, thuộc thành phố Bắc Kinh (Trung Quốc) ngày nay. Tương truyền Hồ Quý Ly định nhường ngôi cho con thứ là Hồ Hán Thương nhưng vẫn chưa quả quyết, vì còn e ngại người con cả là Hồ Nguyên Trừng. Một hôm Quý Ly ngụ ý vào cái nghiên mực bằng đá, ra một vế đối để dò xét tâm lý Nguyên Trừng:

vế ra: Thử nhất quyền kỳ thạch, hữu thời vi vân vi vũ, dĩ nhuận sinh dân! (Viên đá nhỏ bằng nắm tay, mà có lúc làm mây, làm mưa, nhuần tưới nhân dân)
Nguyên Trừng vốn không có ý tranh giành ngôi vua với em, nên cũng ngụ ý vào cây gỗ thông để nói tài mình chỉ đáng làm tôi giúp nước chứ không đáng làm vua, bèn đối lại như sau:
vế đối: Giá tam thốn tiểu tùng, tha nhật tác đống tác lương, dĩ phù xã tắc! (Cây thông bé chừng ba tấc, nhưng sau này làm cột làm xà, phù trì xã tắc)
Quý Ly xem câu đối rất hài lòng và yên tâm truyền ngôi cho Hồ Hán Thương

Lê Lai[sửa]

Lê Lai người gốc Mường, thôn Dựng Tú, huyện Lương Giang (Thanh Hoá), là con của Lê Kiều, nối đời làm chức phụ đạo trong vùng. Lê Lai tính tình cương trực, dung mạo khác thường, có chí khí. Ngay trước khởi nghĩa Lam Sơn ông đã theo hầu Lê Lợi có nhiều công lao. Năm 1416, ông cùng Lê Lợi và các tướng lĩnh khác tham gia Hội thề Lũng Nhai, thề sống chết có nhau, nguyện chung sức đánh đuổi quân Minh xâm lược. Khi Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa, ông là tướng luôn ở bên cạnh, xông pha nhiều trận đánh hiểm nguy. Bấy giờ nghĩa quân Lam Sơn lực lượng còn yếu, thiếu lương, thường bị quân Minh đánh bại. Cuối tháng 4 năm 1418, Lê Lợi bị thua trận ở Mường Một, chạy thoát về Trịnh Cao, quân Minh đuổi theo vây chặt các lối hiểm yếu. Trong tình thế nguy cấp, Lê Lai đã vâng mệnh khoác cẩm bào của Lê Lợi mang 2 voi và 500 quân kéo ra trại quân Minh khiêu chiến. Quân Minh ngỡ là Lê Lợi nên xúm lại đánh kịch liệt. Lê Lai xung trận giết giặc rồi kiệt sức, bị quân Minh bắt và đem hành hình, hôm ấy là ngày 29 tháng 4 âm lịch. Anh ông là Lê Lạn tử trận khi tham gia đánh ải Khả Lưu năm 1425. Lê Lai có 3 con: Lê Lư, Lê Lộ, Lê Lâm, đều được Lê Lợi nuôi như con đẻ. Lê Lư tử trận khi vây thành Nghệ An năm 1425. Lê Lộ có công tham gia đánh bại các tướng Minh là Trần Trí và Phương Chính, rồi tử trận tháng 10 năm 1424. Lê Lâm sau khi khởi nghĩa thành công được xếp vào hàng công thần thứ ba. Năm 1430 Lê Lâm làm tiên phong đi đánh Ai Lao, đuổi giặc bị trúng chông độc tử trận. Năm 1428, khi Lê Lợi lên ngôi vua, ông được truy tặng là "Sùng trung Đồng đức hiệp mưu bảo chính Lũng Nhai công thần", hàm thiếu uý, thụy là Toàn Nghĩa. Năm sau, Thái Tổ sai Nguyễn Trãi viết hai bản lời thề ước trước và lời thề nhớ công của ông bỏ vào trong hòm vàng. Các đời vua sau tiếp tục phong tặng cho ông, cao nhất là năm 1484, Lê Thánh Tông gia phong ông làm Trung Túc vương. Lê Thái Tổ mất ngày 22 tháng 8 nhuận âm lịch năm 1433, trước khi mất có dặn lại đời sau phải làm giỗ Lê Lai trước một ngày, tức là ngày 21 tháng 8. Từ đó dân gian truyền lại câu: "Hăm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi". Theo tài liệu hiện có thì đền được trùng tu một lần Bảo Đại thứ 14 (1939). Năm 1971 dân làng đã dựng lại một ngôi nhà gỗ lợp kè 8 mái trên nền tiền đường cũ với kiến trúc hình chữ đinh. Nằm trên sườn đồi quay mặt về phía Đông Nam. Nhìn ra hồ nước và cánh đồng, với vị trí đẹp theo thuyết phong thủy, đất tụ linh, tụ phúc, hổ chầu, long tụ. Nhà tiền đường là nơi dừng chân đầu tiên của du khách trước khi vào tế lễ, ngôi nhà 8 mái lợp kè, bố trí vì kèo đơn giản với 20 chân cột. Năm 1997 Nhà nước đã đầu tư kinh phí trùng tu tôn tạo lại nhà tiền đường trên nền móng cũ theo lối kiến trúc chồng rường giá chiêng, toàn bộ kiến trúc được lắp ghép thông qua hệ thống cột xà kẻ bẩy có độ chính xác cao. Đề tài cham khắc trang trí là hoa văn vân mây sóng nước, xen lẫn hoa lá cách điệu. Tiền đường có chiều dài 12m, rộng 9.5m, bên trong đặt hương án bằng gỗ sơn son thếp vàng, trên hương án có long ngai và bài vị, phía trên cùng là bức đại tự cùng 2 câu đối. Hậu cung trùng tu lần cuối vào năm 1944 trên thượng lương còn ghi “Hoàng Triều Bảo Đại thập niên cửu tuế thứ Giáp Thân tức năm Giáp Thân thứ 19”. Kiến trúc hậu cung là “Thượng sàng hạ mộ”. Phần móng nhà tương đương với phần mộ, vật liệu kiến trúc bằng gỗ, móng xây bằng đá xanh, nhà bố trí vuông vắn có chiều dài 9.5m rộng 9m. Kết cấu với 3 hàng cột hiên kê trên tảng đá xanh. Bên trong là bàn thờ xây bằng gạch theo hình vòm cuốn, trên đặt tượng Lê Lai tạc bằng gỗ mít sơn đỏ và sơn đen ngồi trong ngai, chân đặt lên 2 con sư tử, phía dưới là bát hương và đồ thờ. Trên cùng là bức đại tự “Thiên cổ anh linh” nghĩa là “ Anh linh muôn thuở”, hai bên là hai câu đối bằng gỗ:

黎朝顯迹忠良將 Lê triều hiển tích trung lương tướng (Bậc tướng trung lương của Lê triều)
南國芳名上等神 Nam quốc phương danh thượng đẳng thần (Vị thần lừng danh của Nam quốc)

Quan nhà Minh và học trò Giao Chỉ[sửa]

  • Lê Thúc Hiến và Thượng Thư Hoàng Phúc (1363 - 1440):

Hoàng Phúc tự là Như Tích, biệt hiệu Hậu Nhạc Ông, người Xương Ấp, Sơn Đông, là một đại thần triều Minh, từng được vua Minh Thành Tổ cử sang Đại Việt giữ chức Tán Quân Vụ để cai trị và truyền bá văn hóa Trung Hoa. Sử Việt Nam chép Hoàng Phúc sang Việt Nam hai lần, lần đầu ở Việt Nam suốt 18 năm, từ 1406 đến 1424. Lần thứ hai sang với tư cách trợ lý cho Liễu Thăng năm 1427. Như thế, trong bộ máy cai trị của nhà Minh đặt tại Đại Việt, Hoàng Phúc là người đứng đầu bộ phận dân sự. Ông mở trường để dạy cho các nho sinh Đại Việt. Nhân một hôm mưa bão nổi lên, nhà sập đổ, tường xiêu vẹo điêu tàn.

Trước đám học trò, Hoàng Phúc đọc: Tai chiêu phong vũ gia gia đồi hoại cựu viên tường (Hôm qua mưa gió nhà nhà sập đổ vách tường xiêu) và bắt học trò đối lại.
Câu này có ý gì sâu xa không? Lẽ nào chỉ là câu tả thực? Trong lúc mọi người đang suy ngẫm thì một nho sinh xin đọc: Kim nhật càn khôn xứ xứ phát sinh tân thảo mộc (Nay đất trời quang chốn chốn mọc lên cây cỏ mới).
Câu đối thật tài tình bởi quang cảnh đổ nát ở đây do mưa bão gây nên cũng như kẻ thù đã làm cho nước Nam điêu đứng. Cây cỏ mới mới mọc lên cũng như nhân tài Đại Việt sẽ sớm xuất hiện để khôi phục lại đất nước. Tác giả câu đối này là Lê Thúc Hiến, con trai của Lê Cảnh Tuân, ông bị quân Minh bắt giam ở Kim Lăng cùng với con trai Lê Thái Diêu đều chết ở trong ngục. Sau vụ này, Lê Thúc Hiến cùng với anh là Lê Thiếu Đính vào Lam Sơn chiến đấu dưới lá cờ Lê Lợi và đã lập nhiều chiến công hiển hách.
  • Phan Nhân với viên quan đô hộ nhà Minh:

Tại làng Phan Xá, Nghi Xuân, Hà Tĩnh có chàng hàn sĩ Phan Nhân bị quân Minh bắt về hầu hạ viên học quan Trung Quốc sang Đại Việt mở trường để truyền bá văn hóa Trung Hoa và ca ngợi công đức nhà Minh. Một hôm y ra một vế đối và bắt nho sinh Đại Việt đối lại:

Hồng lựu tự hỏa phi cầm lai vãng bất thiêu thân (Hoa lựu đỏ như lửa, chim bay qua lại thân chẳng bị thiêu).

Phan Nhân ứng khẩu đọc: Lục tảo như ti du lý phù trầm nan tước vĩ (Đám rêu xanh như tơ, cá lội nổi chìm đuôi chẳng bị vướng).

Vế ra viên quan nhà Minh muốn nói: Đạo quân của chúng tuy bề ngoài có vẻ hung dữ nhưng thực chất là đạo quân nhân nghĩa chẳng làm hại ai. Còn vế đối của Phan Nhân khẳng định rằng: Dù bị bủa vây nhưng không ngăn nổi ý chí tung hoành của người Đại Việt. Sau cuộc đấu trí này biết kẻ thù đang theo dõi mình, Phan Nhân đã trốn vào Lam Sơn theo Lê Lợi và đã lập được nhiều chiến công trong sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Nguyễn Trãi[sửa]

Danh nhân văn hóa Nguyễn Trãi
  • Đối đáp với Nữ Học Sĩ Nguyễn Thị Lộ (1400 - 1442):

Nguyễn Trãi hiệu là Ức Trai, quê ở Chi Ngại (Chí Linh, Hải Dương) sau dời về Nhị Khê (Thường Tín, Hà Tây). Cha là Nguyễn Phi Khanh, một học trò nghèo, học giỏi, đỗ thái học sinh (tiến sĩ). Mẹ là Trần Thị Thái, con Trần Nguyên Đán, một qúy tộc đời Trần. Lên sáu tuổi, mất mẹ, lên mười tuổi, ông ngoại qua đời, ông về ở Nhị Khê, nơi cha dạy học. Năm hai mươi tuổi, năm 1400, ông đỗ thái học sinh và hai cha con cùng ra làm quan với nhà Hồ. Năm 1407, giặc Minh cướp nước tạ Nguyễn Phi Khanh bị chúng đưa sang Trung Quốc. Nguyễn Trãi và một người em đi theo chăm sóc. Nghe lời cha khuyên, ông trở về, nhưng bị quân Minh bắt giữ. Sau đó, ông tìm theo Lê Lợi. Suốt mười năm chiến đấu, ông đã góp công lớn vào chiến thắng vẻ vang của dân tộc. Đầu năm 1428, quét sạch quân thù, ông hăm hở bắt tay vào xây dựng lại nước nhà thì bỗng dưng bị nghi oan và bắt giam. Sau đó ông được tha, nhưng không còn được tin cậy như trước. Ông buồn, xin về Côn Sơn ở ẩn. Tương truyền, lúc còn làm quan trong triều, sau một buổi chầu trở về, qua Hồ Tây trời xâm xẩm, Nguyễn Trãi gặp một cô gái đi bán chiếu rong. Rung động trước vẻ đẹp tuyệt trần của cô gái, tâm hồn thi sĩ bỗng nhiên lên tiếng:

Nàng ở đâu ta bán chiếu gon, chẳng hay chiếu ấy hết hay còn? xuân thu chừng độ bao nhiêu tuổi, đã có chồng ch­ưa đư­ợc mấy con?
Ngư­ời con gái nhìn thẳng vào vị đại thần, tình tứ đu­ng đư­a cặp mắt lá răm: Thiếp ở Tây Hồ bán chiếu gon, nỗi chi ông hỏi hết hay còn? xuân xanh vừa độ trăng tròn lẻ, chồng còn chư­a có hỏi chi con?
Nguyễn Trãi thấy đối đáp trôi chảy, trong lòng xốn xang. Hỏi tên biết nàng là Thị Lộ, quê làng chiếu Hải Triều, Thái Bình, mới đem về c­ưới làm vợ lẽ. Nguyễn Thị Lộ là ng­ười vợ tâm đắc nhất của Nguyễn Trãi, nàng lại được phong làm Lễ nghi nữ học sĩ trong triều và được Lê Thái Tông (1434- 1442) rất yêu mến. Rồi cũng chính vì thế mà gây nên tấm thảm kịch rất đáng thương tâm cho gia đình và họ hàng Nguyễn Trãi. Nguyên sau hồi Lê Thái Tổ mất, Nguyễn Trãi bị bọn gian thần gièm pha nên phải xin về nghỉ ở Côn Sơn, Hải Dương. Nhưng chẳng được bao lâu, ông lại bị triệu ra làm quan. Năm 1442, Lê Thái Tông đi duyệt binh ở Hải Dương và mất đột ngột ở Lệ Chi Viên, Bắc Ninh. Thị Lộ vì mối quan hệ thân cận với nhà vua cũng có mặt trong khi vua chết; do đó triều thần đã vu oan cho Nguyễn Trãi tội sai nàng hầu giết vua, rồi đem tru di cả 3 họ Nguyễn Trãi.
  • Câu đối của Vinh Lộc Đại Phu Nguyễn Mộng Tuân (1380 - ? ) viết tặng khi đến chơi nhà Nguyễn Trãi ở Côn Sơn:
一條水冷知三館 Nhất điều thuỷ lãnh tri Tam quán (Nhà quan Tri Tam quán sự mà lạnh lẽo như một dòng nước)
四壁家貧冨六經 Tứ bích gia bần phú lục kinh (Bốn vách trống trải xác xơ nhưng rất giàu sách vở)
Nguyễn Mộng Tuân tự là Văn Nhược, người làng Phủ Lí, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa (nay là xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa). Ông tên thật là Vũ Mộng Nguyên người làng Viên Khê, năm 21 tuổi sau khi thi đỗ liền đổi tên thành Nguyễn Mộng Tuân. Khi quân Minh xâm lược Đại Việt, ông lui về ở ẩn một thời gian, sau đó đến với nghĩa quân Lam Sơn và được Lê Lợi trọng dụng. Đời Lê Thái Tông, ông giữ chức Trung thư lệnh rồi Khinh xa đô úy. Đời Lê Nhân Tông ông giữ chức Tả Nạp ngôn, rồi Tri quân dân Bắc đạo, cùng Bình chương Lê Thụ đi đánh Chiêm Thành, trở về được vinh phong là Vinh Lộc đại phu. Nguyễn Mộng Tuân tham gia giám khảo các kỳ thi Tiến sĩ khoa Nhâm Tuấn (1442) với vai trò là Trung Thử sảnh, Trung Thư Thị Lang; và kỳ thi năm Mậu Thìn (1448) - Môn hạ sảnh Tả ty Tả nạp ngôn Tri Bắc đạo quân dân bạ tịch. Nguyễn Mộng Tuân từng tiếp các đoàn sứ bộ của các nước, đặc biệt ông còn được mời vào dạy vua học ở tòa Kinh Diên, và từng giữ chức Tế Tửu (hiệu trưởng) Quốc Tử Giám, được vua trọng ban cho lễ ưu đãi tuổi già.
  • Những câu đối khắc ở đền thờ Nguyễn Trãi tại xã Nhị Khê huyện Thường Tín thủ đô Hà Nội:
勲業赫南邦文謨武略 Huân nghiệp hách Nam bang, văn mô vũ lược (công lớn dậy trời nam, tài văn mưu võ)
科名留越史國廟鄕祠 Khoa danh lưu Việt sử, quốc miếu lương từ (danh cao ghi sử Việt, miếu nước đền làng)
謀王將略爭天地 Mưu vương tướng lược tranh thiên địa (mưu vị tướng giúp vua, so với trời đất)
憂國臣心照斗奎 Ưu quốc thần tâm chiếu đẩu khuê (lòng bề tôi lo việc nước, sáng như sao Đẩu sao Khuê)
  • Những câu đối do Lập Trai Phạm Quý Thích (1760 - 1825) viết về Nguyễn Trãi:
事業文章開國首 Sự nghiệp văn chương khai quốc thủ (Văn chương sự nghiệp công khai quốc)
旂常帶礪故家聲 Kỳ thường đái lệ cố gia thanh (Cờ biển non sông tiếng cố gia)
功存開國藍山錄 Công tồn khai quốc Lam Sơn lục (Công lao khai quốc, sách sử cũ
慶衍傳家故邑祠 Khánh diễn truyền gia cố ấp từ (Cúng tế truyền đời, thôn ấp xưa)
英雄氣魄依高廟 Anh hùng khí phách y cao miếu (Cao miếu anh hùng còn khí phách)
翊濟勲勞感聖朝 Dực tế huân lao cảm thánh triều (Thánh triều tả hữu vẫn khuông phù)
功齊藍岳千峯峙 Công tề Lam nhạc thiên phong trĩ (Lam lĩnh công lao nghìn ngọn thẳm)
慶共蘇江一帶流 Khánh cộng Tô giang nhất đái lưu (Tô giang phúc trạch một giòng xuôi)
Phạm Quý Thích tự: Dữ Đạo, hiệu: Lập Trai, biệt hiệu: Thảo Đường cư sĩ; ông sinh ở xã Hoa Đường, huyện Đường An, phủ Thượng Hồng, tỉnh Hải Dương (nay thuộc huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương). Sau gia đình ông dời lên kinh đô Thăng Long, ngụ ở phường Báo Thiên, huyện Thọ Xương (nay thuộc thành phố Hà Nội). Năm Kỷ Hợi (1779), ông đỗ Tiến sĩ lúc 19 tuổi, được bổ Đông các hiệu thư, rồi lần lượt trải các chức: Hàn lâm viện hiệu thảo, Kinh Bắc đạo Giám sát ngự sử, Thiêm sai tri Công phiên. Khi quân Tây Sơn ra Bắc, ông chạy lánh sang Kinh Bắc, sống cuộc đời ăn nhờ ở đậu, nay đây mai đó. Đầu đời Gia Long (1802), ông được triệu đến trao cho chức Thị trung học sĩ, tước Thích An hầu. Ông cố chối từ, xin ở lại Bắc thành, được cử làm Đốc học. Tuy nhiên, chỉ ít lâu sau ông xin từ quan về nhà. Năm Gia Long thứ 10 (1811), ông lại được triệu về kinh đô Huế, giao cho việc chép sử, được ít lâu, lại cáo bệnh đi về. Năm Minh Mạng thứ 2 (1821), lại có chỉ tuyên triệu lúc ông đang ốm nên từ chối được. Kể từ đó, ông chuyên việc dạy học ở quê nhà, học trò của ông rất đông, trong đó có các trí thức tên tuổi như là Nguyễn Văn Lý, Nguyễn Văn Siêu, Bà Huyện Thanh Quan, Vũ Tông Phan, Nguyễn Văn Lữ, Chu Doãn Trí, Phạm Hội...Ngày 29 tháng 3 năm Ất Dậu (16 tháng 5 năm 1825) Phạm Quý Thích mất, hưởng thọ 65 tuổi.

Lê Thánh Tông[sửa]

tranh thờ vua Lê Thánh Tông ở Thái miếu - Lam kinh

Lê Thánh Tông là vị vua mà tên tuổi và sự nghiệp vẻ vang đã gắn liền với giai đoạn cường thịnh của Việt Nam nửa cuối thế kỷ 15. Trong gần 40 năm làm vua, ông đã tiến hành nhiều cải cách về chính trị, quân sự, kinh tế; khởi xướng bộ luật Hồng Đức được xem là sự kiện đánh dấu trình độ văn minh cao của Việt Nam; đề cao những giá trị văn hóa dân tộc. Bản thân ông là một nhà thơ lớn, để lại nhiều tác phẩm có giá trị. Tên tuổi và sự nghiệp Lê Thánh Tông gắn chặt với một giai đoạn cường thịnh của Việt Nam ở nửa sau thế kỷ 15. Lê Thánh Tông tên thật là Hiệu, sau đổi là Tư Thành, hiệu Thiên Nam động chủ, con thứ tư Lê Thái Tông, mẹ là Ngô Thị Ngọc Dao. Lê Thánh Tông lên làm vua năm 1460, hai lần đổi niên hiệu: Quang Thuận (1460-1469) và Hồng Đức (1470-1497). Trong gần 40 năm làm vua, ông đã đưa triều Lê phát triển tới đỉnh cao về mọi mặt: chính trị, xã hội, kinh tế, quốc phòng, văn hóa. Sử gia Ngô Sĩ Liên khen Lê Thánh Tông là "vua sáng lập chế độ, mở mang đất đai, bờ cõi khá rộng, văn vật tốt đẹp, thật là vua anh hùng, tài lược".

Tự thuật và viết hộ người dân[sửa]

1 - Câu đối tự thuật:

Tam nhân đồng hành tất hữu ngã (Ba người cùng đi tất trong đó có tôi)
Thiên lý nhi lai diệc lợi ngô (Ngàn dặm xa tới chắc hẳn có lợi cho tôi)

2 - Những câu đối viết hộ người dân:

  • Vào tối 30 Tết năm nọ, vua Lê Thánh Tông giả làm chân học trò đi dạo xem các câu đối ở kinh thành. Chợt qua cửa nhà một người đàn bà làm nghề thợ nhuộm, thấy không có câu đối, nhà vua lấy làm lạ ghé vào thăm hỏi. Người đàn bà kêu là goá chồng, con trai là học trò nhỏ chưa biết làm câu đối. Nhà vua liền bảo lấy giấy hồng điều và bút mực, rồi vua hạ bút viết hộ một câu đối như sau:
天下青黃皆我手 Thiên hạ thanh hoàng giai ngã thủ (Xanh vàng thiên hạ đều tay mỗ)
朝中朱紫總吾門 Triều trung chu tử tổng ngô môn (Đỏ tía trong triều bởi cửa ta)
Mấy hôm sau, Thượng thư đương triều là Trạng nguyên Lương Thế Vinh đi chầu qua nhà thợ nhuộm thấy câu đối có khẩu khí như vậy thì hoảng hốt vô cùng. Vào triều, họ Lương tâu với vua rằng ngoài phố có nhà ấy nhà nọ có ý muốn làm bá chủ thiên hạ, cần phải cho người đi dò xét. Lê Thánh Tông nghe xong, phì cười, nhận câu đối đó là do chính tay mình viết hộ, khiến Thượng thư họ Lương bị một phen chưng hửng. Nhưng sau đó, quan Thượng thư thầm nghĩ rằng nhà thợ nhuộm mà Tết nhất lại được Thiên tử ngự giá đến, hẳn sau này con cháu phải giàu sang lắm, bèn đem ngay cô con gái út đến gả cho con trai nhà thợ nhuộm. Có thuyết khác lại nói đôi câu đối này do vua Thiệu Trị tặng hàng thợ nhuộm.
  • Vào một dịp tết khác, vua Lê Thánh Tông lại ăn mặc giả làm thường dân đi chơi phố phường kinh đô để xem xét dân tình. Đi tới đâu nhà vua cũng thấy la liệt những câu đối ca ngợi cảnh thái bình thịnh trị, nhà vua rất hài lòng. Riêng nhà nọ, chẳng treo đèn kết hoa, cũng chẳng có đối liễn gì hết. Vua rẽ vào hỏi, chủ nhà trả lời rằng: "Chả nói giấu gì bác, nhà cháu làm cái nghề hèn hạ quá, nên chẳng dám phô phang gì với phố phường cho thêm tủi!" Vua ngạc nhiên nói: "Sao lại có nghề gì là nghề hèn hạ?" Chủ nhà cứ thật thà trả lời: "Dạ, nhà cháu chỉ chuyên đi hót phân người để bán thôi ạ!" Nhà vua nghe xong, cười bảo: "Ồ, nếu vậy nhà bác đây là sang trọng bậc nhất, mà nghề của bác cũng vẻ vang bậc nhất. Câu đối của bác nếu dán lên cũng hay bậc nhất, việc gì mà lại kêu là hèn!" Rồi vua gọi lấy giấy bút, viết giùm cho một đôi câu đối như sau:
身衣一戎衣能擔世間難事 Thân nhất nhung y đởm thế gian chi nan sự (Khoác chiến bào, lo toan những việc khó khăn trên đời)
手持三尺劍盡收天下人心 Tri tam xích kiếm thu thiên hạ chi nhân tâm (Cầm ba thước gươm, thu tấm lòng mọi người trong thiên hạ)
  • Lê Thánh Tông trong ngày cuối năm đã mặc giả thường dân, ra ngoại thành xem dân tình chuẩn bị Tết. Nhà vua ghé thăm một quán bán trầu nước, thấy gia đình neo đơn, chưa hề có không khí đón Tết, đã tự tay viết giúp bà chủ quán đôi câu đối đỏ hoàn toàn bắng tiếng mẹ đẻ treo trước cửa hàng:
Nếp giầu quen thói kình cơi, con cháu nương nhờ vì ấm
Việc nước ra tay chuyên bát, Bắc Nam đâu đấy lại hàng
Câu đối trên miêu tả một quán bán trầu nước mà ta thường gặp, có đủ giầu (cau), cơi (trầu), ấm, nước, bát, hàng… nhưng lại mang khẩu khí của bậc đế vương: “Việc nước ra tay chuyên bát, Bắc Nam đâu đấy lại hàng”

3 - Câu đối ở đền thờ hai cha con Đặng Tất (1357 - 1409) và Đặng Dung ( ? - 1414):

Đặng Tất và Đặng Dung là hai cha con, cả hai cha con đều là dũng tướng chống giặc Minh thời Hậu Trần (1407 - 1414). Theo Đặng tộc đại tông phả, ông tổ 4 đời của Đặng Tất là Đặng Bá Kiển vốn cư ngụ ở vùng kinh kỳ Thăng Long, sau đó di dời vào Nghệ An châu. Con trưởng của Bá Kiển là Đặng Bá Tĩnh đỗ thám hoa đời nhà Trần. Bá Tĩnh chính là ông nội của Đặng Tất. Con trưởng của Bá Tĩnh là Đặng Đình Dực chính là cha Đặng Tất. Đặng Tất sinh ra và lớn lên tại làng Tả Thiên Lộc, huyện Thiên Lộc, Nghệ An châu nay là xã Tùng Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Ông thi đậu Thái học sinh thời nhà Trần và được bổ làm tri phủ Hoá Châu nay là vùng Hải Lăng, Quảng Trị. Sau đó lại chuyển đến huyện Thăng Bình, Quảng Nam. Khi Hồ Quý Ly nắm quyền bính trong triều Trần đã tin dùng Đặng Tất. Tháng 6 năm 1407 cha con Hồ Quý Ly bị quân Minh bắt, Chiêm Thành nhân đó mang quân đánh chiếm vùng Thăng Hoa, Đặng Tất quyết định hàng quân Minh để ngăn quân Chiêm bắc tiến, được Trương Phụ cho giữ chức Đại tri châu Hoá châu. Tháng 11 năm 1407, tôn thất nhà Trần là Trần Ngỗi xưng đế ở Mô Độ (Ninh Bình). Đặng Tất bèn giết quan lại nhà Minh ở Hoá châu và mang quân ra Nghệ An theo Trần Ngỗi, được phong làm quốc công. Trần Ngỗi lấy con gái ông làm vợ. Minh Thành Tổ sai Mộc Thạnh, Lưu Tuấn mang 4 vạn quân sang tiếp viện. Thạnh họp với Lữ Nghị ở Đông Quan, tập trung ở bến Bô Cô (Nam Định). Ngày 9 tháng 1 năm 1409, dưới sự chỉ huy của Giản Định Đế Trần Ngỗi và Đặng Tất, quân Hậu Trần đánh bại quân Minh một trận oanh liệt. Giản Định đế muốn thừa cơ đánh ngay vào lấy Đông Quan, nhưng Đặng Tất lại chủ trương đánh xong số quân địch còn sót lại rồi mới tiến. Vua tôi bàn mãi chưa quyết định được, viện binh quân Minh ở Đông Quan đã tiếp ứng cho Mộc Thạnh chạy về cố thủ Đông Quan. Đặng Tất chia quân vây các thành và gửi hịch đi các lộ kêu gọi hưởng ứng đánh quân Minh. Do bất đồng về sách lược, vua Giản Định không bằng lòng với ông, nhà vua sai triệu Đặng Tất đến rồi sai võ sĩ bóp cổ giết chết ông. Con Đặng Tất là Đặng Dung bất bình vì cha bị giết oan, bỏ đi lập Trần Quý Khoáng làm vua, tức là Trần Trùng Quang Đế. Về sau, do nhu cầu cần phải hợp nhất hai lực lượng, các tướng của Trần Quý Khoáng do Nguyễn Súy cầm đầu đã tổ chức đánh úp vào Ngự Thiên, đem Trần Ngỗi về Chi La tôn làm Thượng hoàng. Dù phải chiến đấu dưới quyền người đã giết cha mình, nhưng vì sự nghiệp chung ông đã “vượt lên trên tất cả, trước sau vẫn giữ vững phẩm cách đường đường của một vị tướng”. Từ đó ông trải qua rất nhiều trận giao chiến, nổi bật hơn cả là trận đánh vào tháng 9 năm Quý Tị (1413) ở khu vực Thái Gia. Tháng 11 năm 1413, Đặng Dung thua trận bị Trương Phụ bắt sống khi đang tìm đường tạm lánh sang Xiêm La để tính kế lâu dài. Ông cùng Trùng Quang Đế và Nguyễn Súy và một số tướng lãnh khác bị áp giải về Yên Kinh (Trung Quốc). Dọc đường, Trần Quý Khoáng nhảy xuống biển tự tử, Đặng Dung cũng lập tức nhảy xuống chết theo. Thi hài Đặng Tất được các con ông mang về chôn ở làng Thế Vinh, huyện Sĩ Vang, ngoại thành Hóa châu (nay là xã Phú Mậu, huyện Phú Vang, Thừa Thiên - Huế). Mộ ông nằm ở ven bờ nam sông Hương, cách bến đò Sình khoảng 3 km và cách thành Hóa châu khoảng 7 km. Dân trong vùng tôn ông làm Thành Hoàng. Năm 1428, Lê Lợi sau khi đánh xong quân Minh, ban chiếu cho hai cha con ông biển vàng tám chữ: "Tiết liệt cương trung - Trung thần hiếu tử", truy phong Đặng Tất làm Đại quốc công, Khuông quốc đại vương Thượng đẳng tôn thần; cho lập đền thờ tại quê hương Tả Thiên Lộc, cấp 200 mẫu ruộng lộc điền, giao cho huyện xã hằng năm cúng tế. Vua Lê Thánh Tông ban chiếu tặng cha con ông hai câu đối:

Quốc sĩ vô song, song quốc sĩ
Anh hùng bất nhị, nhị anh hùng

Đối đáp trong đời thường[sửa]

  • Đối đáp với Trường Lạc Hoàng Hậu Nguyễn Thị Ngọc Hằng:

Một lần, hoàng tử Lê Tư Thành dạo chơi trên sông đào vùng Tống Sơn (thuộc Thanh Hóa) tình cờ gặp một cô gái đang vo gạo bên bến nước. Vốn hay chữ, hoàng tử buột miệng đọc: Gạo trắng nước trong, mến cảnh lại càng thêm mến cả

Không ngờ gặp cao thủ, cô gái nghe được liền đối lại: Cát lầm gió bụi, lo đời đâu đấy hãy lo cho
Cả hai đều sử dụng nghệ thuật tàng tự, chữ ẩn không nói ra nhưng ai cũng hiểu. Cô gái ấy là Ngọc Hằng, con gái một vị quốc công, mẹ bị tình phụ nên phiêu dạt đến xứ Thanh. Sau này Lê Thánh Tông lên ngôi và nàng Ngọc Hằng trở thành hoàng hậu
  • Đối đáp với Trạng Lường Lương Thế Vinh (1441 - 1496):

Lương Thế Vinh, tự là Cảnh Nghị, hiệu là Thụy Hiên, sinh trong một gia đình nông dân có học ở làng Cao Hương, huyện Thiên Bản, nay là thôn Cao Phương, xã Liên Bảo, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Thời niên thiếu, Lương Thế Vinh đã nổi tiếng là thần đồng, thông minh, nhanh trí. Lớn lên, Lương Thế Vinh càng học giỏi, học có phương pháp, kết hợp học với lao động, vui chơi giải trí. Chưa đầy hai mươi tuổi, tài học của Lương Thế Vinh đã nổi tiếng khắp vùng Sơn Nam. Năm 23 tuổi, đời vua Lê Thánh Tông, năm Quang Thuận thứ tư (1463), Lương Thế Vinh đỗ trạng nguyên khoa Quý Mùi. Cuộc đời 32 năm làm quan, Lương Thế Vinh đều ở Viện hàn lâm, trải thăng đến chức Hàn lâm Thị thư chưởng Hàn lâm viện sự, đứng đầu Viện hàn lâm. Một lần, vua Lê Thánh Tông đi kinh lý vùng Sơn Nam hạ, ghé thăm quê hương của Lương Thế Vinh, lúc bấy giờ Trạng Lường cũng đang theo hầu nhà vua. Hôm sau vua đến thăm chùa làng, khi ấy, sư cụ đang bận tụng kinh. Bỗng sư cụ đánh rơi chiếc quạt xuống đất. Vẫn tiếp tục tụng, sư cụ lấy tay ra hiệu cho chú tiểu cúi xuống nhặt, nhưng một vị quan tùy tòng của Lê Thánh Tông đã nhanh tay nhặt cho sư cụ. Vua Lê Thánh Tông trông thấy vậy, liền nghĩ ra một vế đối, trong bữa tiệc hôm đó đã thách các quan đối:

塘上誦仱師使使 Đường thượng tụng kinh sư sử sứ (Trên bục tụng kinh sư khiến sứ, tức là nhà sư sai khiến được quan. Nội dung câu đối ra không khó, nhưng oái ăm ở ba chữ đồng âm liên tiếp nhau là sư, sử, sứ)
Trạng nguyên Lương Thế Vinh cứ để cho các quan viên khác suy nghĩ chán chê, ông ung dung ngồi uống rượu chẳng nói năng gì. Vua Lê Thánh Tông quay lại bảo đích danh ông phải đối, với hy vọng đưa ông đến chỗ chịu bí, nhưng ông chỉ cười trừ. Một lúc ông cho lính hầu chạy ngay về nhà mời vợ đến. Bà trạng đến, ông lấy cớ quá say xin phép vua cho vợ dìu mình về. Thấy Vinh là một tay có tài ứng đối mà hôm nay cũng đành phải đánh bài chuồn, nhà vua lấy làm đắc ý lắm, liền giục: "Thế nào? Ðối được hay không thì phải nói đã rồi hẵng về chứ?" Vinh gãi đầu gãi tai rồi chắp tay ngập ngừng: "Dạ... muôn tâu, Thần đối rồi đấy ạ!" Vua và các quan lấy làm lạ bảo Vinh thử đọc xem.
Lương Thế Vinh liền chỉ tay vào người vợ đang dìu mình, mà đọc rằng: 前庭醉酒婦扶夫 Đình tiền túy tửu phụ phù phu (Trước sân say rượu, vợ dìu chồng. Trong vế đối cũng có ba chữ cuối đồng âm là phụ, phù, phu)
  • Giai thoại liên quan khác:

Ðời Vua Lê Thánh Tông có 3 người cùng đỗ tiến sĩ một khoa là Thế Lịch, Thế Hiển và Thế Vinh. Tương truyền trước hôm truyền loa, vua nằm mộng thấy ba ông Phật thế tôn. Hôm sau, ba ông tân khoa vào lĩnh mũ áo, vua cho là ứng với mộng của mình, sai đặt tiệc thết đãi và đọc một câu rằng: Thế Lịch, Thế Hiển, Thế Vinh, tam thế đồng khoa vinh hiển lịch (Thế Lịch, Thế Hiển, Thế Vinh, ba ông Thế đỗ một khoa cùng vẻ vang, rạng rỡ)

vế đối: Quốc Quang, Quốc Đỉnh, Quốc Bảo, tam quốc đề danh bảo đỉnh quang (Trường Văn Nguyễn Phước Thắng) (Nguyễn Quốc Quang, Đặng Quốc Đỉnh, Nguyễn Quốc Bảo là 3 trong 19 vị đỗ tiến sĩ khoa Canh Thìn (1700). Nguyễn Quốc Bảo (1680-?) người xã Chi Nê huyện Chương Đức (nay thuộc xã Trung Hòa huyện Chương Mỹ tỉnh Hà Tây), Ông làm quan Hàn lâm Hiệu thảo. Đặng Quốc Đỉnh (1669-?) người xã Cát Xuyên huyện Hoằng Hóa (nay thuộc xã Hoằng Cát huyện Hoằng Hóa tỉnh Thanh Hóa), Ông làm quan Hiến sát sứ. Nguyễn Quốc Quang (1676-?) người xã Kim Đôi huyện Võ Giàng (nay thuộc xã Kim Chân huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh), Ông làm quan Tự khanh, Thự Tham chính Nghệ An)

Dương Nghiêu Trư[sửa]

Họ Dương ở làng Dừa thuộc tỉnh Hà Nam (Bắc Việt) là một gia tộc có nhiều người làm quan to trong triều. Ðến đời ông Dương Đình Lương thì xa xút, con cháu không nối được nghiệp cha ông, phải làm nghề bán thịt để sinh nhai. Hai vợ chồng ông này, tuy sống trong nghề giết heo, giết bò, nhưng bản tính thực thà, phúc đức, có tiền vẫn bố thí cho những người khó ở chung quanh và thờ trời sợ phật, chớ không ác nghiệt như phần đông bạn đồng nghiệp lúc bấy giờ. Một hôm, Lương ông đi lễ ở cái miếu đầu làng về thì gặp một ông cụ già vai đeo khăn gói, tay chống gậy, hỏi thăm tìm nhà trọ. Lương ông bèn mời khách về nhà, tiếp đãi rất chân thành, quí hóa. Cơm nước xong, ông khách hỏi chủ nhà làm gì. Lương ông cứ thực tình mà đáp, hai người trò truyện một đêm. Chủ nhất định lưu khách lại vài hôm, không ngờ ông khách lì lợm ở lại luôn ba tháng, ngày nào cũng hai bữa rượu rồi chống gậy đi chơi la cà hết gò này sang đống nọ, hết ruộng nọ lại đến ao kia. Thì hóa ra ông nọ đi xem địa lý, mà ông ta không ai khác hơn là ông thánh địa lý Tả Ao. Thấy Lương ông là một người phúc hậu, hiền lành Tả Ao muốn đáp ơn, quyết định ở lại liền ba tháng chính là để tìm cho Lương ông một ngôi đất quý. Lương ông bèn đặt lại ngôi mộ của thân phụ ông ở đó, từ đó gia đình làm ăn thịnh vượng hơn trước. Ðược gần một năm thì Lương bà có thai, đứa con ấy là Trạng Lợn Dương Nghiêu Trư sau này.

  • Trạng Lợn và ông khách:

Tương truyền lúc nhỏ theo cha làm nghề thịt lợn, lại đẻ vào tháng 10 tức tháng Hợi nên đặt tên là Dương Nghiêu Trư và thường gọi là cậu Lợn (chữ Hán “Trư” nghĩa là lợn). Ông bản tính nhanh nhẹn, thông minh, lúc nhỏ có lần cùng bố đi bắt lợn, gặp kiệu ông Nghè vinh quy, Trư hỏi: "Ông gì thế bố". Người cha đáp: "Ông Trạng!" Trư nói: "Lớn lên con cũng làm ông Trạng!" Từ đó đi chơi với trẻ trong làng, ông đều khoe: "Ta là quan Trạng!"

Một lần có người khách thấy vậy liền lỡm: Trạng dở hay trạng nguyên
Trạng Lợn trả lời: Khách quen hóa khách lạ
  • Trạng Lợn và Phấn Khanh:
cô gái tên là Phấn Khanh ra vế trước: 八刀分米粉 Bát đao phân mễ phấn (nghĩa là "tám đao chia hột gạo", nhưng vấn đề ở chỗ trên chữ "bát" dưới chữ "đao" bên trái chữ "phân" là chữ Phấn chính lại là chữ đầu tên của cô gái)
Trạng Lợn đối lại: 千里重金鍾 Thiên lý trọng kim chung (nghĩa là "nghìn dặm nặng chuông vàng", cũng ý rằng trên chữ "thiên" dưới chữ "lý" bên trái chữ "kim" là chữ Chung là tên tự của Trạng Lợn là Chung Nhi)
Giai thoại này như sau: Trạng Lợn đi hỏi vợ gặp phải cô gái tên Phấn Khanh hay chữ liền đem tên của mình ra vế đối, vì chưa nghĩ ra được nên ông khất khi nào lên kinh ứng thí về sẽ đối. Khi lên đến kinh, vua Lê Thánh Tông thấy anh này tên là Chung Nhi mới chiết tự chữ Chung để ra câu đối, Trạng Lợn nhớ đến câu đối của cô gái liền đem ra trả lời được vua ban thưởng. Về đến làng, anh ta lại đem câu của vua Lê Thánh Tông đối lại câu của nàng Phấn Khanh, thế là vẹn cả đôi đường vừa được quan chức bổng lộc lại vừa được vợ mà không phải đối đáp gì cả.
  • Trạng Lợn và Tú Cát:

Trong làng cậu bé Chung Nhi có một người hay chữ nhưng tính tình kiêu ngạo, đi đâu cũng khoe khoang, tên gọi là ông Cứt. Sau này ông đỗ Tú Tài, vì thấy tên xấu nên đổi gọi là Cát, thiên hạ vẫn gọi là Tú Cát. Tất nhiên, từ nhỏ Chung Nhi đã ghét những người có bản tính như vậy. Một hôm, Chung Nhi đang đứng xem đàn lợn ăn cám thì Tú Cát đi qua. Đã được nghe người ta đồn đãi về thần đồng này, Tú Cát không ưa gì nên ông ta ra vẻ kẻ cả gọi đến bảo: "Ta nghe thiên hạ đồn mày là đứa thông minh, ứng đáp rất giỏi. Bây giờ ta ra cho mày một vế đối, nếu mà không đối được thì sẽ biết tay. Nhất định ta sẽ đánh đòn cho chừa các tật láo, nghe chưa!"

Nói xong, Tú Cát liền gật gù đọc: Lợn cấn ăn cám tốn
Đây là một câu đối rất hắc búa bởi "Cấn" và "Cám" vừa chỉ lợn và thức ăn của lợn, lại vừa là hai quẻ trong kinh Dịch, người có học nhiều còn thấy khó.
Chung Nhi đối ngay: Chó khôn chớ cắn càn
Quả là một vế đối vừa chỉnh vừa có ý xỏ xiên. "Khôn" và "Càn" cũng là hai quẻ trong kinh Dịch, Quỳnh lại còn ngầm ý chưởi Tú Cát là đừng có mà rắc rối. Bị thằng nhỏ hơn mình chơi lại một đòn đau, Tú Cát tức lắm, hầm hầm bảo: "Được để coi mầy còn thông minh đến cỡ nào. Tao còn một vế nữa, phải đối ngay thì tao phục!"
Nói xong Tú Cát đọc ngay: Trời sinh ông Tú Cát!
Vế vừa ra mang tính cách ngạo nghễ, phách lối.
Nào ngờ, Chung Nhi chỉ ngay xuống đất, dưới lớp phân heo đùn lên những ụ nhỏ mà đáp: Đất nứt con bọ hung!
Đến nước này thì dù tức đến hộc máu mồm, Tú Cát cũng đành cút thẳng. Những vế đối trên người sau thường gán ghép cho Trạng Quỳnh.

Đỗ Nhuận[sửa]

Đỗ Nhuận người thôn Bạch Đa, xã Kim Hoa, phủ Bắc Hà thuộc phủ Kinh Bắc. Nay là xã Kim Hoa, huyện Mê Linh, Hà Nội. Từ nhỏ ông đã nổi tiếng là thần đồng, thông minh học giỏi, có tài ứng đối nhanh nhạy. Năm 16 tuổi học hết các thầy đồ giỏi trong vùng, Đỗ Nhuận tiếp tục về kinh đô tìm thầy học đạo. Đến kinh thành Thăng Long phồn hoa đô hội nhưng chàng thanh niên Đỗ Nhuận lúc đó chỉ chí thú học hành, rùi mài kinh sử. Cậu bé thần đồng ở Bạch Đa đã nổi tiếng cả ở Kinh thành. Sau 5 năm theo học ở kinh đô, Đỗ Nhuận đã thi đỗ đầu kỳ thi Hương, kịp khi triều đình mở khoa thi Hội. Đó là khoa thi năm Bính Tuất niên hiệu Quang Thuận năm thứ 7 (1466) đời vua Lê Thánh Tông và đỗ đệ Tam giáp đồng tiến sĩ, khi đó ông vừa tròn 20 tuổi. Sau lễ vinh quy, Đỗ Nhuận thoả thê lục hết kho sách thiên kinh vạn quyển của triều đình và thu thập thêm những kiến thức cổ kim đông tây trong thiên hạ. Giữa núi sách vở ấy, Đỗ Nhuận đàm đạo với các học giả Lương Thế Vinh, Thân Nhân Trung, Đàm Văn Lễ. Điều đặc biệt là Đỗ Nhuận được vua Lê Thánh Tông yêu quý, thường đàm đạo chuyện thơ phú, chuyện sách vở, chuyện đời, chuyện người mỗi khi rảnh rỗi (lúc đó Đỗ Nhuận đã giữ chức Đông các Đại sĩ Nhập nội phụ chính). Tháng 11 năm Ất Mão (1495), vua Lê Thánh Tông lập Hội Tao Đàn, quy tụ các nhà thơ, nhà văn giỏi nhất đất nước gồm có 28 người ứng với 28 vì sao trên trời gọi là Tao Đàn nhị thập bát tú. Lê Thánh Tông làm Nguyên Suý, Đỗ Nhuận cùng tiến sĩ Thân Nhân Trung được cử làm Phó Nguyên Suý, Trạng nguyên Lương Thế Vinh làm Sái Phu Tao Đàn. Không rõ ông mất năm nào?

  • Bữa đó, Đỗ Nhuận trọ học ngoài tỉnh, một lần dạo phố thấy một cô gái đẹp liền lẽo đẽo theo sau đến tận cổng. Cô gái vào nhà rồi, Hòe lân la hỏi xung quanh mới biết đó là nhà của một vị quan về hưu. Hòe hôm sau đến gõ cửa nhà nọ, nói là học trò dọc đường khát quá, nên mạo vào xin nước. Chủ nhà vốn xuất thân nho học, nên rất yêu mến học trò, liền dẫn Nhuận vào mời cùng uống trà. Thấy Nhuận đối đáp nhõ nhã, ông rất thích. Nhân hai người ngồi đối diện với bức tranh sơn thủy treo trên vách, ông bèn đọc một câu đối, ý cũng muốn thử tài:
Quải thư bích thượng, tận thu tứ hải sơn hà (Treo tranh trên vách, thu hết non sông bốn bể)
Nhuận nghĩ mãi không đối được, bí quá vờ đánh đổ trà lên chân, rồi xin phép ra rửa chân, tính bài từ đó... chuồn ra cổng. Ra đến ao, khuya chân xuống nước, bóng nước lay động làm hình ảnh rung rinh, lóng lánh, Hòe chợt nảy ý hay, bèn quay lại đối:
Tẩy túc trì trung, dao động cửu thiên tinh đẩu (Rửa chân trong ao, lay động trăng sao chín trời)
Có thuyết khác nói rằng vế đối trên là của Nguyễn Hoè cũng người thời Hậu Lê.
  • Lần khác, có khách đến nhà Đỗ Nhuận chơi, gặp lúc cha Đỗ Nhuận đi vắng. Thấy cậu bé nhanh trí đối đáp nhanh nhảu, sáng ý hơn người, khách thấy lạ. Để đánh quỵ thằng bé về chữ nghĩa, nhân khi người nhà Đỗ Nhuận mang bắp ngô luộc lên mời ông khách, ông liền ra câu đối:
vế ra: Ngô là ta, ta ăn bắp ngô với trẻ
Đỗ Nhuận không cần nghĩ ngợi đối luôn: Phụ là bố, bố nhường đậu phụ cho con
Có thuyết khác nói vế đối này là của cử nhân Trương Khắc Nhượng ở làng Thanh Nê (nay là xã Tán Thuật tỉnh Thái Bình) đối đáp với cha

Thế Lịch và Phạm Văn Uyển[sửa]

Ðời Vua Lê Thánh Tông có 3 người cùng đỗ tiến sĩ một khoa là Thế Lịch, Thế Hiển và Thế Vinh. Khi vinh quy bái tổ, ba người lại cùng về một đường. Thiên hạ thấy vậy, nô nức kéo mhau đi xem. Ðến Nam Lạng, huyện Trực Ninh, Tỉnh Nam Ðịnh, người bạn cũ của Thế Lịch là Phạm Văn Uyển ra đón, có đọc mừng một bài thơ như sau:

Ba ông tam thế hoá trên toà, khéo rủ nhau vào đỗ một khoa, như vậy bụt no nhờ có oản, chẳng thời bụt đói bụt ra ma
Thế Lịch nghe xong, cười mà hoạ rằng: Có tu bụt mới hoá trên tòa, một tháng hai lần diễn giáo khoa, Bụt vẫn ăn chay không sợ đói, Bụt đâu có bụt hoá thành ma?

Đàm Thận Huy và học trò[sửa]

Đàm Thận Huy hiệu là Mặc Trai, tự là Mặc Hiên Tứ, thụy là Trung Hiến, người làng Hương Mạc (còn gọi là làng Me), huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Năm 28 tuổi ông thi đỗ Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ suất thân năm 1490 đời vua Lê Thánh Tông. Vì giỏi thơ, ông trở thành thành viên hội Tao đàn Nhị thập bát tú. Năm 1510 đời Lê Tương Dực, ông đã từng được triều đình cử đi sứ sang Trung Hoa thời nhà Minh. Ông làm quan đến chức Tán trị công thần Lễ bộ Thượng thư, Tú Lâm Cục kiêm Hàn Lâm Viện Thị Độc trưởng Hàn Lâm Viện Sư, Thiếu bảo Nhập Thị Kinh Diên tước Lâm Xuyên Bá. Năm 1522, Lê Chiêu Tông trốn khỏi tay quyền thần Mạc Đăng Dung ra ngoài tập hợp tướng sĩ các trấn cần vương, ông nhận được huyết chiếu lui về Bắc Giang mộ binh khởi nghĩa. Đàm Thận Huy trong số các tướng tập hợp được 6.000 nghĩa binh ở vùng Bắc Giang chống lại Mạc Đăng Dung để giúp Chiêu Tông. Đã có lúc các lực lượng cần vương áp chiếm được ưu thế trước họ Mạc, nhưng vì sau đó nội bộ các tướng lại chia rẽ tranh giành quyền lực. Tướng Trịnh Tuy cướp lấy vua Chiêu Tông chạy vào Thanh Hóa. Các tướng chống họ Mạc ở Bắc Bộ bị chia cắt và cô lập dần. Năm 1525, vua Chiêu Tông bị Đăng Dung bắt từ Thanh Hóa mang về giam lỏng ở kinh thành. Đàm Thận Huy cầm quân ở Bắc Giang, vì quân ít, thế yếu ông đã không địch nổi họ Mạc nên đã tuẫn tiết ở vùng Yên Thế, Thương Hạ (Bắc Giang). Năm đó Đàm Thận Huy 64 tuổi. Sau này nhà Lê trung hưng xếp ông vào hàng tiết liệt, Dực vận tán trị công thần, tước phong Thiếu bảo Lâm Xuyên Hầu.

  • Một hôm, trời mưa to nên đã đến giờ tan học mà các học trò vẫn phải nán lại chưa thể về được, nhân đó Đàm Thận Huy ra vế đối cho các học trò.
Vế ra: 雨無鈐鎖能留客 Vũ vô kiềm tỏa, năng lưu khách (Mưa, dù không xích không khóa, cũng có thể giữ chân khách ở lại)
Nguyễn Giản Thanh đối: 色不波濤易溺人 Sắc bất ba đào, dị nịch nhân (Sắc đẹp, dù chẳng phải sóng gió, cũng dễ làm cho người ta chìm đắm. Câu đối lấy ý từ điển cố Trung Hoa: đời vua Minh Huệ Đế, Trần Hoá Chiêu ở huyện Tế Hàng, tỉnh Sơn Đông có người vợ là Lương Tiểu Nga rất xinh đẹp. Ở cùng huyện có nhà phú hộ tên là Trát Hiếu Sắc. Hiếu Sắc thấy Tiểu Nga đẹp, tìm cách kết bạn với Hoá Chiêu. Lập tâm chiếm cho được vợ bạn, Hiếu Sắc bỏ ra rất nhiều tiền để giúp bạn trong việc làm ăn hoặc lúc nguy khốn. Qua hai năm, sau khi chiếm được cảm tình của nhà bạn, Háo Sắc rủ Hoá Chiêu ngồi thuyền đi buôn, mọi vốn liếng đều do mình chịu cả. Thuyền đi một tháng đến Hàng Châu, Hiếu Sắc phục rượu cho Hoá Chiêu say rồi xô xuống biển. Mấy lần Hoá Chiêu trồi lên đều bị tên phản bạn nhấn xuống cho chìm, cuối cùng chàng phải vùi thây dưới đáy biển. Chừng ấy, Hiếu Sắc mới tri hô lên cho bè bạn hay và mượn thuyền đến vớt bạn nhưng không được. Hiếu Sắc cho thuyền trở về, khóc lóc báo tin dữ cho mẹ và vợ Hoá Chiêu, bỏ tiền cúng bái và cùng Tiểu Nga để tang. Từ đó, Hiếu Sắc càng tỏ ra hết lòng lo lắng mọi việc nhà cho vợ bạn khiến mẹ Hoá Chiêu cảm động và ép dâu là Tiểu Nga ưng Háo Sắc làm chồng đền công ơn giúp đỡ. Hai người ăn ở với nhau ít lâu, nhân vô ý, Hiêú Sắc để lộ việc mình âm mưu hại bạn. Tiểu Nga đến huyện đường đầu cáo và trả được thù cho chồng cũ. Nhưng nàng nhận thấy vì nhan sắc của mình mà cả hai người chồng đều bị chết, Tiểu Nga thắt cổ tự tử)
Đàm Thận Huy nhận xét: "Câu đối này thật hay và thật chỉnh, văn khí này có thể đậu Trạng nguyên, nhưng về sau coi chừng việc sắc dục làm hại sự nghiệp". Quả nhiên, Nguyễn Giản Thanh làm quan đến Lễ Bộ Thượng Thư kiêm Hàn lâm viện Thị độc, Chưởng viện sự, tước Trung Phụ bá, nhưng vì say đắm cô gái đẹp ở kinh thành mà đến ô danh bại giá.
Nguyễn Chiêu Huấn đối: 月有彎弓不射人 Nguyệt hữu loan cung bất xạ nhân (Trăng có cung loan mà không bắn người)
Đàm Thận Huy đánh giá: "Câu này kém sắc sảo, không hay bằng câu kia, nhưng tỏ ra khí chất hiền hoà, sau này sẽ làm nên, cuộc sống sẽ chu toàn! Người này làm quan thanh liêm, bản chất lương thiện rất được lòng dân". Đàm Thận Huy thích câu của Nguyễn Chiêu Huấn có ý trung hậu, ông bèn gả con gái lớn là Thúy cho ông học trò hiền lành này. Đến khoa thi, nghe tin Nguyễn Giản Thanh đỗ trạng nguyên, ăn khao hơn một tháng trời. Thấy vợ hối tiếc mãi, Đàm Thận Huy bảo rằng “Anh này đỗ trạng nguyên thì anh kia rồi cũng phải đỗ bảng nhãn. Tuy kém hơn, nhưng bụng nó trung hậu, con cháu chắc sẽ khá hơn nhiều.” Sau khoa thi kế tiếp, lúc Đàm Thận Huy đang tắm ngoài ao thì nghe tin con rể Huấn vừa đỗ tiến sĩ. Ông không kịp mặc quần áo, cứ thế chạy về nhà hô to với cụ bà rằng “Huấn cũng đỗ ông nghè rồi đấy!” Đến khi xướng danh, quả nhiên ông Huấn đỗ bảng nhãn, đúng như lời ông đoán, về sau con cháu ông bảng nhãn Nguyễn Chiêu Huấn hưng thịnh hơn con cháu ông trạng nguyên Nguyễn Giản Thanh nhiều.
Lại một trò nữa (khuyết danh) lên tiếng: Phân bất uy quyền dị khủng nhân (Cục cứt chẳng có uy quyền gì mà khiến người ta phải sợ)
Đàm Thận Huy cho rằng người đối câu này về sau tuy rất giàu có nhưng lại keo kiệt bủn xỉn, kết quả người học trò kia sau cũng vào bậc hào phú trong vùng, nhưng ai cũng chê là hạng thô lỗ, bỉ ổi.
  • Lần khác, Đàm Thận Huy lại ra vế đối với một lớp học trò khác:
Vế ra: Thư là sách, sách để trên án thư
Một học sinh đối: Kiếm là gươm, gươm treo vào giá kiếm
Người nữa đối: Phạn là cơm, cơm đựng trong bình phạn
Đàm Thận Huy phân tích: "Một người sẽ làm tướng quân lập nhiều chiến tích lớn nơi sa trường, còn gã kia có của nhưng chỉ là hạng tham ăn tục uống mà thôi".

Hứa Tam Tỉnh[sửa]

Hứa Tam Tỉnh người xã Như Nguyệt, huyện Yên Phong (nay thuộc xã Tam Giang huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ đệ nhị danh khoa Mậu Thìn niên hiệu Đoan Khánh năm thứ 4 (1508) đời vua Lê Uy Mục, từng được cử đi sứ (năm 1516) sang nhà Minh (Trung Quốc). Sau, ông ra làm quan với nhà Mạc, lại được cử đi sứ sang nhà Minh. Khi trở về, ông được thăng Thượng thư Bộ Lại, hàm Thiếu bảo, tước Đôn Giáo bá, về trí sĩ. Tương truyền, Nguyễn Giản Thanh ở làng Me chỉ đậu bảng nhãn còn Hứa Tam Tỉnh (làng Ngọt) đậu trạng nguyên. Trong buổi lễ ra mắt vua, các tân khoa phải làm một bài phú dâng tặng vua và hoàng thái hậu (mẹ của vua). Hoàng thái hậu thấy Hứa Tam Tỉnh dung mạo xấu xí thì không ưng lắm, trong khi đó Nguyễn Giản Thanh khuôn mặt khôi ngô thanh tú nên bà muốn cân nhắc ông lên làm trạng nguyên. Vua vì muốn chiều lòng mẹ nên đánh giá bài phú của Nguyễn Giản Thanh cao hơn và trao danh hiệu trạng nguyên cho ông. Do đó dân gian có câu "Trạng (làng) Me đè trạng (làng) Ngọt". Tương truyền Trạng Ngọt người lúc còn trẻ chưa có công danh đã tương tư con gái của một Vị Quan Thượng Thư, bà mẹ vì thương Trạng nên đánh liều đến năn nỉ Quan Thượng, Quan Thượng cho gọi vào. Thoạt thấy Trạng, Quan Thượng không hài lòng vì Trạng vừa lùn vừa ốm, da thâm như chì chỉ có đôi mắt là tinh anh và đối đáp về sách vở rất lưu loát. Quan cho mời Thầy về dạy thêm và chẳng bao lâu Trạng đỗ thủ khoa kì thi hương được Quan cho phép thành thân cùng con gái mình. Tối hôm động phòng, sắp bước vào buồng bị tiểu thư chơi ngặt đưa tay không cho vào, ra câu đối bảo đối được mới cho vô:

vế ra: Ốc lậu nguyệt xuyên hình như kê noãn tam tam tứ tứ (Nhà thủng bóng Trăng soi xuống trông hình như ba bốn trứng gà)
Thình lình bị chận nên "quê" tâm thần bị chi phối nên Ông không đối ngay được. Xấu hổ, bèn lững thững dạo bờ Sông. Gió mát trăng thanh nước như vui mừng lăn tăn gợn sóng..Tức cảnh sinh tình hốt nhiên Ông nảy ra ý đối bèn bươn bả vào nhà gỏ cửa phòng xin đối:
vế đối: Giang trường phong lộng, thế tự long lân điệp điệp trùng trùng (Sông dài gió thổi trông sóng lớp lớp như vẩy Rồng)
Tiểu thư nghe vế đối rất chỉnh và hay hơn cái vế "tam tam tứ tứ" của nàng nhiều, nên cười khúc khích, ngoắt tay cho Trạng vào. Hôm sau, nàng đem chuyện này kể lại cho cha nghe, Quan Thượng nghe xong vế đối liền bảo: "Cứ câu này thì sau này ắt hẳn nó sẽ đổ Trạng" và quả đúng như lời Quan Thượng đoán.

Nguyễn Giản Thanh[sửa]

Tương truyền, năm lên sáu tuổi, một hôm Giản Thanh đang chơi ngựa bằng tua cau thì có viên quan nghỉ hưu trên đường đi tới. Lính tráng ra oai dẹp đường, nhưng Giản Thanh vẫn cưỡi tua cau đứng nhìn. Viên quan bèn hỏi: "Cháu bé đã đi học chưa?" Khi nghe Giản Thanh trả lời là đã biết chữ, làm được câu đối, viên quan liền ra thử vế đối:

vế ra: Trẻ cưỡi mo cau!
Giản Thanh nhìn thấy người lính đứng bế con hạc gỗ, đội biển vua ban, nên đối luôn: Già chơi hạc gỗ!
Viên quan biết Nguyễn Giản Thanh phát lộ tài năng sớm, sau này ắt sẽ làm nên sự nghiệp, nên khen ngợi và thưởng cho tiền. Nguyễn Giản Thanh là con trai của Tiến Sĩ Nguyễn Giản Liên, nhưng cha mất sớm. Ngay từ nhỏ, Giản Thanh đã có phong tư tài mạo sáng sủa, thông minh đĩnh ngộ. Quả nhiên, mấy năm sau, đến kỳ thi đại khoa năm Mậu Thìn đời vua Lê Uy Mục (1508), các quan giám khảo chấm được hai người xuất sắc nhất là Hứa Tam Tỉnh và Nguyễn Giản Thanh. Cả hai đều cân sức cân tài, xem ra Nguyễn Giản Thanh văn hay, bay bổng hơn, nhưng Hứa Tam Tỉnh thâm trầm, sâu sắc hơn. Các quan trường có ý chọn Tam Tỉnh đứng đầu, nhưng vẫn còn khâu cuối cùng do nhà vua trực tiếp sát hạch. Vua cho vời 2 vị vào chầu. Buổi chầu hôm ấy có mặt hoàng thái hậu, mẹ nuôi của vua. Bà thấy Hứa Tam Tỉnh lùn thấp, đen đủi, trong khi Nguyễn Giản Thanh người cao ráo, trắng trẻo thư sinh, bà chỉ ngay mà nói: "Ồ, đây hẳn là trạng nguyên tân khoa. Xứng đáng quá đi rồi!" Vua cũng đã xem các văn bài của cả 2 người và thấy bài của Hứa Tam Tỉnh nhỉnh hơn cả, nhưng thái hậu làm cho bị động, đành cho tiến hành thêm một bước thử tài nữa. Nhà vua ban giấy bút và phán bảo cả 2 người làm bài phú "Phụng thành xuân sắc" ngay tại chỗ. Hứa Tam Tỉnh uyên thâm làm một bài phú bằng Hán văn. Trong khi đó Giản Thanh phóng bút viết bài phú bằng tiếng Nôm, vốn là thế mạnh của mình. Quả nhiên, nghe Tam Tỉnh trầm trầm đọc bài phú, thái hậu không hiểu gì cả. Đến lượt Giản Thanh cất tiếng đọc sang sảng, tả cảnh phồn hoa của chốn đế đô có những đoạn rất bay bướm, Thái hậu nắc nỏm khen hay. Chiều lòng bà, vua Uy Mục bèn chấm cho chàng họ Nguyễn đỗ trạng. Biết được chuyện chỉ vì đẹp trai mà Nguyễn Giản Thanh đoạt mất chức trạng nguyên của Hứa Tam Tỉnh, người làng mình xứng đáng hơn, các bậc trí giả làng Vọng Nguyệt (tục gọi là làng Ngọt), huyện Yên Phong, Bắc Ninh, tỏ ra bất bình, bèn đặt tên cho Nguyễn Giản Thanh là "Mạo Trạng nguyên". Tên gọi này có hai nghĩa, mạo là diện mạo, là vẻ mặt, đồng thời cũng có nghĩa là giả mạo, còn dân gian thì lưu truyền câu "Trạng Me đè Trạng Ngọt".

Hoàng Văn Tán[sửa]

  • Vào cuối thời Lê Sơ (đầu thế kỷ XVI) ở làng Xuân Lôi, huyện Vũ Ninh, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc (nay là thôn Xuân Bình, xã Đại Xuân, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh) có cậu bé tên là Hoàng Văn Tán gia cảnh tuy nghèo túng nhưng rất thông minh và giỏi đối đáp. Một hôm có cụ Chánh mang lễ và dẫn con trai đến nhập học. Nhìn lên mâm lễ lớn vừa đặt trên hương án, thầy đồ tức thì ra một vế đối có ý thử tài trò mới và các nho sinh:
Con ruồi đậu mâm xôi, mâm xôi đậu
Vì thầy chơi chữ nên vế ra này rất khó đối, cả đám học trò ngơ ngác nhíu mày im lặng, thầy đồ lắc đầu, hết hy vọng. Bất ngờ cậu bé Tán từ bếp chạy lên, tay vẫn sách siêu nước bốc hơi nghi ngút, cậu kính cẩn xin phép thầy được đối lại, thầy gật đầu bằng lòng. Cụ Chánh và đám nho sinh đứng ngây như phỗng nhìn cậu bé Tán với vẻ ngờ vực. Tán dõng dạc đọc:
Cái kiến bò đĩa thịt, đĩa thịt bò
  • Khi chuẩn bị “lều chõng” lên đường đi thi thì trời nổi cơn mưa, thầy đồ muốn khảo thí các môn sinh lần cuối bèn ra một vế đối:
Lác đác mưa sa làng Hạ Vũ (Hạ Vũ tức làng Phương Vĩ, phường Vũ Ninh ngày nay - quê thầy đồ, nhưng vấn đề ở đây là Hạ Vũ cũng có nghĩa là mưa sa).
Một lần nữa cả môn trường im lặng, thầy trầm tư vẻ mặt không vui. Bỗng nhiên có tiếng xin thầy được đối vang lên từ phía sau, thầy ngoảnh lại chính là Hoàng Văn Tán nói, thấy vậy thầy vui vẻ đồng ý nhận lời.

Tán đáp lại rằng: Ầm ầm sấm động đất Xuân Lôi. (Xuân Lôi là quê của Hoàng Văn Tán, cũng có nghĩa là sấm động mùa Xuân).

Tán vừa đọc dứt vế đối thì trên trời lóe chớp và tiếp theo là một tiếng sấm rất lớn. Thầy đồ sung sướng reo lên: "Trạng nguyên của ta đây rồi!" Và kỳ thi năm đó Hoàng Văn Tán đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ nhất danh Trạng nguyên, sau ông làm đến chức Tả thị lang bộ lễ cho nhà Mạc. Ông được giao cùng với Đông các đại học sĩ Đạo Nguyện bá Nguyễn Văn Thái thảo tờ chiếu của Lê Cung Hoàng nhường ngôi cho Mạc Đăng Dung (Đại Việt Sử ký Toàn thư chỉ chép là Nguyễn Văn Thái thảo chiếu này). Vế đối này có thuyết khác lại chép là của Nguyễn Tự Cường nhưng lời lẽ có khác đôi chút, điển tích như sau: Nguyễn Tự Cường người làng Xuân Lôi, tuy đã lớn tuổi, có vợ con rồi mà vẫn bị mang tiếng là người dốt nát. Lúc ông 30 tuổi, vợ ông cố năn nỉ một vị đại khoa để xin cho ông được phép khai tâm. Vị đại khoa nhận lời, nhưng ông Cường học tối dạ, ba ngày không thuộc một bài. Thầy không muốn dạy nữa, ngỏ ý trả ông về với vợ, nhưng bà vợ năn nỉ quá, ông bèn thương tình ra cho một câu đối, nếu đối được thì ông dạy, bằng không thì thôi. Nhân tên làng của thầy là làng Hạ Vũ và gặp lúc đang mưa, thầy liền ra câu đối: Làng Hạ Vũ mưa bay phất phới. Nguyễn Tự Cường liền ứng khẩu đối luôn là: Đất Xuân Lôi sấm động ù ù. Thầy liền cả kinh mà nói rằng: “Coi câu đối của anh thì cái khí tượng đại khoa đã biểu lộ. Thực là ít có, thế nào anh cũng thành đạt được. Như thế thì, dù anh không muốn học, tôi cũng khuyên cho đi học”. Quả đúng như lời thầy tiên đoán, ông Nguyễn Tự Cường về sau đỗ Hoàng Giáp, khoa niên hiệu Hồng Thuận thứ 16 triều vua Tương Dực nhà Lê.

Trần Phỉ Khanh[sửa]

Trần Phỉ Khanh quê ở Chi Nê, Thanh Oai, Hà Đông, đậu Thám hoa, triều Đoan Khánh, làm quan thượng thư nhà Mạc. Bấy giờ có người (không rõ ai) viết tặng đôi câu đối như sau:

歷代魁科天下有 Lịch đại khôi khoa thiên hạ hữu (Khôi khoa nhiều đời, thế gian có)
一門致仕世間無 Nhất môn trí sĩ thế gian vô (Hưu trí một nhà, thiên hạ không)

Nguyễn Bỉnh Khiêm[sửa]

Nguyễn Bỉnh Khiêm tự Hanh Phủ, hiệu là Bạch Vân cư sĩ, người làng Trung Am, huyện Vĩnh Lại (nay là xã Cổ Am, huyện Vĩnh Bảo, ngoại thành Hải Phòng). Sinh trưởng trong một gia đình danh gia vọng tộc, thân phụ ông là cụ Văn Ðịnh người học rộng tài cao, lại có đức tốt, được sung chức Thái Học Sinh, sau được tặng phong Thái Bảo Nghiêm Quận Công, mỹ tự là Văn Định, Đạo hiệu là Cù Xuyên Tiên Sinh, thân mẫu ông là Nhữ Thị Thục, con gái quan thượng thư Nhữ Văn Lan, người đất Tiên Minh, làng An Tử hạ có học vấn cao... Nguyễn Bỉnh Khiêm từ sớm đã hấp thụ truyền thống gia giáo kỷ cương của gia tộc. Ông ngoại của Nguyễn Bỉnh Khiêm là Nhữ Văn Lan, đã làm rạng rỡ dòng họ và quê hương với bảng vàng tiến sĩ, khoa thi năm Quí mùi, niên hiệu Quang Thuận, đời Lê Thánh Tông, được nhà Vua tin dùng, phong chức Thượng thư bộ Hộ. Theo Vũ Phương Đề ghi lại trong Công Dư Tiệp Ký, sinh thời ông có đến ba vợ. Bà Chánh thất họ Dương hiệu Từ Ý, quê ở Hải Dương, cũng thuộc bổn huyện, nguyên là ái nữ của quan Hình Bộ Tả Thị Lang Dương đắc Nhan. Thứ Phu nhân họ Nguyễn, hiệu là Nhu Tĩnh. Á Phu nhân họ Nguyễn hiệu Vi Tĩnh. Con cái cộng 12 người, 7 trai 5 gái. Con trưởng hiệu là Hàn Giang Cư Sĩ, sinh ra Thiết Đức, Thiết Đức sinh Đạo Tấn, Đạo Tấn sinh Đạo Thông, Đạo Thông sinh Đăng Doanh, Đăng Doanh sinh Thì Đương, Thì Đương sinh được 3 người con trai, là cháu 8 đời của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Hàn Giang cư sĩ đương thời được tập ấm hàm Trung Trinh Đại Phu, rồi sau làm đến Phó Hiến. Con thứ 2 hiệu là Túy Am Tiên Sinh, phong hàm Triều Liệt Đại Phu, tước Quảng Nghĩa Hầu. Con thứ 3 phong hàm Hiển Cung Đại Phu, tước Xuyên Nghĩa Bá, con thứ 4 là Thuần Phu, phong hàm Hoằng Nghị Đại Phu, tước Quảng Đô Hầu, con thứ 5 là Thuần Đức, tước Bá Thứ Hầu, con thứ 6 là Thuần Chính tước Thắng Nghĩa Hầu. Tất cả mấy người con đều có lập được quân công. Những năm Quang Thiệu (1516-1526), đất nước loạn lạc, Ông về ẩn cư để dạy học trò, lấy Đạo làm vui, khi nhà Lê trung hưng, bốn phương trở lại yên tĩnh ông mới chịu ra ứng thí, khi ấy đã 44 tuổi, khoa hương thi ấy, Ông được đỗ đầu, rồi năm sau, tức là năm thứ 6 đời nhà Mạc (1535), lại ra tỉnh thì được đỗ thứ nhứt, khi vào đình đối, lại đỗ Tấn Sĩ đệ nhứt danh, được bổ chức Đông Các Hiệu Thư, trong thời Thái Tông nhà Mạc, Ông có làm 2 bài thơ " Xuân thiên ngự tửu", đều được hạng ưu, rồi thăng chức Hữu Thị Lang Hình Bộ, sau thời gian ngắn lại thăng chức Tả Thị Lang, kiêm chức Đông Các Đại Học Sĩ. Trong 8 năm ở triều, Ông có dâng sớ hạch tội 18 kẻ nịnh thần, xin đem chém để làm gương, những người tàn tật mù lòa, ông cũng dạy cho họ nghề ca hát bói toán. Khi con rể là Phạm Dao ỷ thế lộng hành, vì sợ liên lụy Ông cáo quan xin về trí sĩ giữa năm Quảng Hòa thứ 2 (1542), khi mới 52 tuổi. Khi về trí sĩ, ông dựng am Bạch Vân và lấy hiệu Bạch Vân cư sĩ, mở trường dạy học cạnh sông Hàn Giang, do đó còn có tên là Tuyết Giang và được học trò gọi ông là “Tuyết Giang Phu Tử”. Học trò của ông có nhiều người cũng nổi tiếng như trạng Bùng Phùng Khắc Khoan, một nhà ngoại giao hay Nguyễn Dữ, tác giả Truyền Kỳ Mạn Lục, Lương Hữu Khánh, Nguyễn Quyền. Có người theo Lê, có người theo Mạc, có người ở ẩn. Đương thời họ Nguyễn, họ Trịnh đều phái sứ giả đến hỏi ông những việc hệ trọng. Khi ông mất, nhà Mạc cử quan phụ chính triều đình là Ứng Vương Mạc Đôn Nhượng dẫn đầu các quan đại thần về dự. Việc vua Mạc cử người được vua coi như cha về dự lễ tang nói lên sự trân trọng rất lớn của nhà Mạc với Trạng Trình. Trong buổi lễ tang ấy, Ứng Vương đã thay mặt vua truy tặng Nguyễn Bỉnh Khiêm tước Thái Phó Trình Quốc Công.

  • Tương truyền thuở nhỏ Nguyễn Bỉnh Khiêm có tên là Văn Đạt. Mẹ ông là Nhữ thị vốn tinh thông tướng số và có ước vọng là lấy chồng làm vua hoặc có con làm vua. Do đó trong quá trình dạy dỗ, bà đã truyền cho ông mơ ước ấy rồi. Một hôm khi bà đi vắng, ông Định ở nhà với con và tình cờ hát: Nguyệt treo cung, nguyệt treo cung
Không ngờ Nguyễn Bỉnh Khiêm nhanh nhảu ứng đối lại ngay: Vịn tay tiên, vị tay tiên
Khi bà về đến nhà, ông rất tâm đắc kể lại chuyện ấy thì bị bà trách nuôi con mong làm vua làm chúa cớ sao lại mong làm bầy tôi (nguyệt chỉ bầy tôi).
  • Câu đối viết cho nhà thờ họ Lều gốc Mạc ở Thường Tín - Nhị Khê:
Tứ bách niên tiền chung phục thủy (Bốn trăm năm trước, cuối cùng trở lại như ban đầu)
Thập tam thế hậu dị nhi đồng (Mười ba đời sau, khác biệt mà vẫn cùng chung)
Năm 1592, nhà Mạc thất thủ Thăng Long, họ Trịnh thi hành chiến dịch truy sát nhà Mạc thảm khốc: Lê quý Đôn viết trong Đại Việt thông sử : “Bình An vương Trịnh Tùng giết hết bọn ngụy đảng, đem quân phá hết cung điện ở Cổ Trai, hủy bia ở mộ, chặt hết cây trồng trong lăng. Đó là sự truy phạt vậy.” Trịnh Tùng đã thường xuyên giết hàng 100, hàng nghìn người họ Mạc, liên tuc, nhiều đợt, trong nhiều năm liền. Trước tình trạng trên, để giữ lấy dòng tộc, tránh nguy cơ bị tuyệt diệt, họ Mạc chủ trương đổi họ thay tên, “mai danh ẩn tích”. Đây là một sáng tạo của tổ tiên, nhờ nó mà họ Mạc vẫn phát triển mạnh như ngày nay. Tuy “ẩn tích mai danh”, nhưng tổ tiên vẫn tìm mọi biện pháp để con cháu nhận ra nhau. Các Cụ quy định và truyền lại các quy ước đổi họ như: Khử túc bất khử thủ, đệm chữ Đăng, mật hiệu trên chữ viết, mật hiệu trên hiện vật, truyền khẩu, lời văn trên gia phả...Năm 1992, đúng 400 năm sau, ban liên lạc họ Mạc được thành lập, các con cháu dòng họ Mạc và họ khác gốc Mạc tập trung gia phả lại biên soạn thành cuốn "Hợp Biên Thế Phả Họ Mạc" và đang có chiều hướng quy tụ lại đổi hết quay về họ Mạc bằng nhiều phương án khác nhau, thế mới thấy lời sấm của Trạng Trình quả là hiệu nghiệm.
  • Câu đối viết cho quan Tổng Đốc Hải Dương:

Tương truyền lúc sắp mất, Trạng Trình có giao cho con cháu một cái ống tre sơn son thếp vàng gắn bít hai đầu và dặn đến đúng năm tháng ấy ngày giờ ấy, phải để cái ống ấy vào kiệu rước lên dinh Tống Đốc Hải Dương, trao cái ống này cho quan thì sẽ cứu vãn được tình thế gia đình nhưng tuyệt đối không được ai mở xem, trừ quan Tổng đốc. Cái ống tre ấy truyền đến người cháu 7 đời cụ, mới rước lên Dinh quan Tổng đốc, đúng vào ngày giờ đã ghi trong gia phả. Khi quan mở ống, thấy một cuộn giấy, ngài rút ra xem thấy có hai câu chữ nho:

Ngã cứu nhĩ thượng lương chi ách (Tao cứu mày khỏi ách xà rơi)
Nhĩ cứu ngã thất thế chi bần (Mày cứu tao cháu bảy đời khó)
Đang lúc bận việc, quan Tổng Đốc thấy hai câu nói xấc xược gọi quan bằng mày ấy, ngài cả giận sẵn cầm chiếc quạt, ngài đứng dậy chạy lại định đánh người cháu Trạng. Nhưng vừa bước khỏi sập, chiếc xà nhà đã từ ngay trên đỉnh đầu đổ rớt xuống đánh rầm một cái. Phúc bảy mươi đời, ngài mới bước ra, nên không sao. Quan Tổng Đốc lúc đó mới giật mình, hiểu rõ Cụ Trạng đã cứu cho mình khỏi cái chết bất đắc kỳ tử. Quan phải ân cần xin lỗi người cháu Cụ, mời về tư thất thế đãi cơm rượu, rồi đưa một số tiền ra giúp, để cứu vãn cho gia đình con cháu Cụ khi đó đang lâm vào hoàn cảnh cực kỳ túng thiếu.
  • Những câu đối ở đền thờ Trạng Trình xã Lý Học huyện Vĩnh Bảo thành phố Hải Phòng:
Hải tang tang hải, duy hữu Nguyễn tộc Trạng nguyên từ vô khuyết (Bể dâu dâu bể, chỉ có đền thờ Trạng nguyên họ Nguyễn là không hề mẻ sứt)
Cổ kim kim cổ, đương cảnh danh tính hinh hương thiện bất vong (xưa nay nay xưa, họ tên ở chốn này thơm hương, tốt không quên)
Trình quốc đại danh nam dữ bắc (Đại danh của Trình quốc công Nguyễn Bỉnh Khiêm vang dội cả phương nam lẫn phương bắc)
Am hương thắng địa thục nhi từ (Đất danh thắng ở làng Trung Am vừa là trường học, vừa là đền thờ)
Hai ngọn Tốn bút hun đúc nên quả phúc
Một dải sông Hàn nuôi dưỡng tâm hoa
Kế tuyệt, phù suy Gia Cát Lượng (Nối được cái đã đứt, đỡ được cái đã suy như Gia Cát Lượng)
Tri lai, tàng vãng Thiệu Nghiên Phu (Tìm hiểu việc đã qua, dự đoán việc mai sau như Thiệu Nghiên Phu)

Phùng Khắc Khoan[sửa]

Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan

Phùng Khắc Khoan hiệu là Nghị Trai, tự là Hoằng Phu, người ở làng Bùng (nay là làng Phùng Xá, đất Sơn Tây) tục gọi là Trạng Bùng. Tương truyền rằng Khoan là anh em cùng mẹ khác cha với Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Phùng Khắc Khoan lớn lên, được mẹ cho đi Hải Dương theo học anh là Nguyễn Bỉnh Khiêm. Đến năm 1550 thì Lê Bá Ly, một trọng thần của triều Mạc đem bộ thuộc vào quy thuận triều Lê ở Thanh Hóa, đã gợi trong ông một vấn đề chọn triều đại để phò vua giúp đời. Năm hai mươi sáu tuổi (1553) ông vào Thanh Hóa quy thuận triều Lê. Năm hai mươi chín tuổi ông đỗ đầu khoa thi Hương ở Thanh Hóa. Năm Canh Thìn (1580), nhà Lê Trung hưng mở Hội thi ở Vạn Lại, Thanh Hoá, lấy đỗ sáu người, Phùng Khắc Khoan đỗ thứ hai, sau Nguyễn Văn Giai, được thăng chức Đô cấp sự trung. Năm Nhâm Thìn (1592), Lê Trung hưng thắng Mạc trở về kinh đô, Phùng Khắc Khoan được vinh phong: Trung nghĩa nội luỹ, Kiệt tiết Tuyên lực công thần, Đặc tiến kim tử Vinh lộc đại phu, Tán trị Thừa chánh sứ Thanh Hoá. Trong dịp này, nhiều đại thần cùng triều làm thơ ca ngợi công huân, đức độ của ông. Năm Đinh Dậu (1597), Phùng Khắc Khoan là chánh sứ sang sứ triều Minh. Cuối năm sau, sứ sự thành công trở về nước, Phùng Khắc Khoan được thăng chức Lại bộ Tả thị lang, tước Mai Lĩnh hầu. Trong đời Lê Thế Tông (1600 - 1619), ông lĩnh chức Công bộ Thượng thư, kiêm Quốc tử giám Tế tửu.

  • Câu đối tự thuật:
Đương lúc vội vàng chàng những muốn...
Bây giờ thong thả thiếp tha hồ...
Ở đây Trạng Bùng đã khéo vận dụng câu ca dao:"Đương khi tắt lửa cơm sôi, lợn kêu con khóc chồng đòi tòm tem...Bây giờ lửa đã cháy lên, lợn no con nín tòm tem thì tom"
  • Đối đáp với Công Chúa Liễu Hạnh:

Đến khi nhà Lê khôi phục được kinh thành Thăng Long, thì Phùng Khắc Khoan được cử đi sứ triều Minh bên Tàu. Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan hoàn thành chuyến đi sứ từ Trung Quốc về đến Lạng Sơn, trên đường đi qua một ngôi chùa, trước sân có ba cây thông, một cô gái xinh đẹp ngồi đó tự bao giờ, vừa đàn vừa hát. Phùng Khắc Khoan lên tiếng ghẹo:

Tam mộc xâm đình, tọa trước hảo hề nữ tử (Ba cây che sân, một cô gái đẹp ngồi đó).
Không ngờ cô gái đối ngay: Trùng sơn xuất lộ, tẩu lai sứ giả lại nhân (Núi non mở đường, người sứ giả đi, đó là một vị quan)
Trạng Bùng vừa ngạc nhiên vừa khâm phục cô gái. Bởi vế ra đối của ông tuy là lời lẽ dung dị, nhưng dùng cách ghép chữ không dễ đối: ba chữ “mộc” [木] (cây), ghép lại thành chữ “sâm” [森] (rậm rạp); chữ “hảo” [好] (tốt, đẹp), do chữ “ nữ” [女] (phụ nữ) và chữ “tử” [子] (con) ghép lại. Cô gái cũng dùng lời lẽ bình thường, và cũng sử dụng lối ghép chữ: hai chữ “sơn” [山] (núi), ghép lại thành chữ “xuất” [出] (ra, mở); chữ “sứ” [使] (đi sứ), do chữ “lại” [吏] (quan lại) và chữ “nhân” [人] (người) ghép lại.
Ông hứng khởi đọc luôn câu khác: Sơn nhân bằng nhất kỷ, mạc phi tiên nữ lâm phàm (chữ “sơn” [山] (núi) ghép với chữ “nhân” [人] (người), thành chữ “tiên” [仙] (tiên); chữ “bằng” [朋] có chữ “kỉ” [几] (ghế); chữ “nhất” [一] ghép với chữ “kỉ” [几] thành chữ “phàm” [凡] (trần tục). Cả câu có nghĩa: Cô gái miền núi ngồi trên ghế, phải chăng là nàng tiên giáng trần?
Cô gái cũng đáp lại một cách tài tình: Văn từ đối trường cân, tất thị học sinh thị trướng. Lại vẫn dùng lối ghép chữ: chữ “văn” [文] ghép với chữ “tử” [子], thành chữ “học” [學]; chữ “đới” [帶] có chữ “cân” [巾] (cái khăn); chữ “trường” [長] ghép với chữ “cân” [巾] thành chữ “trướng” [帳] (màn). Cả câu có nghĩa: Chàng văn nhân chít khăn dài, chính là cậu học sinh nhìn vào màn đấy chăng?
Phùng Khắc Khoan thấy vậy, muốn hỏi lai lịch thì đã biến mất rồi, chỉ thấy gỗ nằm ngổn ngang, hình ra bốn chỗ: “Mão khẩu công chúa”, và có một cây gỗ dựng viết bốn chữ “Thủy mã dĩ tẩu”. Những người cùng đi tỏ vẻ không hiểu, ông Phùng giảng giải: “Mộc” [木] là cây gỗ, ghép với chữ “ mão” [卯] thành chữ “liễu” [柳], ghép với chữ “khẩu” [口] ra thành chữ “hạnh” [杏]. Tiên nữ vừa rồi chính là công chúa Liễu Hạnh. Còn chữ “băng” [冫] ghép với chữ “mã” [馬], là họ Phùng [馮] của ta; chữ “dĩ” [已] nằm cạnh chữ “tẩu” [走] chính là chữ “khởi” [起]. Chắc công chúa muốn ta khởi công xây dựng ngôi chùa. Sau đó, Phùng Khắc Khoan lập tức xuất tiền tiến hành khởi công trùng tu ngôi chùa này

Sứ thần Đại Việt và Hoàng Đế nhà Minh[sửa]

Minh Hiếu Tông
  • Sứ Thần Ngô Kính Thần và vua Minh Hiếu Tông (Hoằng Trị):

Năm 1493, vừa đỗ Hoàng Giáp, Ngô Kính Thần được Lê Thánh Tông cử đi sứ Trung Quốc. Tại Cung Đình vua Minh ra câu đối và bắt sứ Đại Việt đối lại:

Nhật hỏa, Vân yên, bạch trú thiêu tàn Ngọc Thỏ. Nghĩa là: Mặt trời là lửa, mây là khói, ban ngày đốt cháy vầng trăng.
Ngô Kính Thần hiểu rõ dụng ý và mục đích đe dọa của vua Minh, ý bóng gió của câu này là kẻ mạnh sẽ thắng kẻ yếu, tức là Đại Việt phải thuần phục Thiên triều.
Cần phải khẳng định ý chí và sức mạnh quật cường của Đại Việt, ông đọc: Nguyệt cung, Tinh đạn, hoàng hôn xạ lạc Kim Ô. Nghĩa là: Trăng là cung, sao là đạn, chiều tối bắn rơi mặt trời.
Vế đối lại thật giỏi về nghĩa về chữ. Lại thấy trăng lưỡi kiềm như cánh cung, những vì sao tròn như viên đạn, đây là sự hình dung thật tuyệt. Song, hay hơn cả là vế đối tỏ rõ sức cứng rắn của người nước Việt, không lời đe dọa nào làm cho run sợ, sẵn sàng đối phó với kẻ thù. Vế đối lại hình tượng sắc sảo, khí phách quật cường. Nếu người Minh dùng “lửa mặt trời” (NHẬT HỎA) để đốt cháy “trăng Đại Việt” (THIÊU TÀN NGỌC THỎ) thì dân Đại Việt lại dùng cái “cung mặt trăng” (NGUYỆT CUNG) để bắn rụng “mặt trời phương Bắc” (XẠ LẠC KIM Ô). Nghe xong vế đối, vua Minh nổi giận lôi đình, ra lệnh bắt Ngô Kính Thần tống giam vào ngục tối. Việc làm cực kỳ vô lý của vua Minh đã làm cho câu chuyện bi hùng và danh tính của người đối lại tồn tại và vang vọng mãi. Trước đây, người ta vẫn gán vế đối này cho Mạc Đĩnh Chi đời nhà Trần.
  • Sứ Thần Giang Văn Minh (1573 - 1638) và vua Minh Tư Tông (Sùng Trinh):
Minh Tư Tông

Năm 1637, vua Lê Thần Tông cử Thám Hoa Giang Văn Minh làm chánh sứ sang Trung Quốc để bàn chuyện bang giao. Vào ngày khánh thọ của vua Minh Sùng Trinh, các sứ giả các nước đến cống lễ thiên triều, đều mũ áo chỉnh tề, đem phẩm vật đến mừng đúng theo phép tắc. Chỉ mỗi sứ thần An Nam là Giang Văn Minh thì không thấy đâu cả. Vua Minh nổi giận, cho thị vệ đến nơi công quán, đòi sứ giả đến hỏi nguyên do. Bọn lính đến nơi thấy sứ thần An Nam đang nằm trên giường, ôm mặt khóc nức nở. Đem lệnh tuyên triệu ra bắt buộc, ông mới gắng gượng thất thểu đi theo chúng và triều kiến nhà vua. Trả lời câu hỏi và cũng là lời trách cứ vì tội vô lễ, sứ thần Đại Việt quỳ xuống tâu trình: "Chúng tôi tự biết việc dự lễ khánh thọ là hệ trọng, vắng mặt thật là điều trọng tội, kính xin thánh hoàng lượng thứ cho. Nguyên do chỉ vì hôm nay lại đúng vào ngày giỗ tổ của thần. Thần được nhận trọng trách đi sứ xa quê hương lâu ngày, gia đình ở quê thì neo đơn, đến ngày giỗ tổ mà không thắp được cây hương tưởng niệm thì thấy xót xa trong dạ. Vì vậy mà không thể nào tham dự được cuộc vui". Vua Minh liền ra một vế đối bảo đối được thì sẽ tha tội thất lễ:

Vế ra là: Đồng trụ chí kim đài dĩ lục (Cột đồng đến nay rêu đã xanh).
Vế ra của vua Minh nhằm nhắc lại một sự kiện lịch sử của dân Đại Việt. Số là vào năm 40 sau Công nguyên, Hai Bà Trưng đã phất cờ khởi nghĩa chống lại ách độ hộ của nhà Hán. Mã Viện là một viên tướng tài ba của vua Hán được vua Hán phong là Phục Ba tướng quân, đem quân sang đàn áp cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng khiến 2 bà thất trận phải tự vẫn. Tục truyền sau khi thắng lợi, Mã Viện đã dựng: “Cột đồng Đông Hán” làm phân giới với lời tuyên bố: “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt”. Đến khi Minh Thành Tổ đánh bại nhà Hồ đã sai quân chặt gẫy cột đồng này, ở đây Minh Tư Tông gợi ra có ý muốn hỏi rằng cột đồng đó đâu mà rêu nay đã xanh, nghĩa là cột đồng đã gẫy mà sao Giao Chỉ chưa bị diệt
Giang Văn Minh đối: Đằng giang tự cổ huyết do hồng (Sông Đằng từ xưa máu còn đỏ)
Giang Văn Minh không chịu kém nhắc cho vua Minh biết rằng nhiều sương máu của người phương Bắc vẫn còn đỏ cả sông Đằng vậy, tại sao dân Giao Chỉ vẫn chưa bị diệt đều do nguyên nhân ở đây cả. Máu vẫn đỏ là vì máu loang ra từ những trận Ngô Quyền diệt Hoằng Thao, Lê Hoàn diệt Hầu Nhân Bảo, Trần Hưng Đạo diệt Thoát Hoan. Không thể bắt bẻ gì về ngôn từ, vì nó quá chỉnh, còn nội dung quá sâu sắc bởi ba lần chiến thắng ở sông Bạch Đằng của Ngô Quyền và Trần Hưng Đạo khiến cho kẻ thù phương Bắc phải kinh hồn bạt vía. Trước hằng trăm văn võ bá quan, vua Minh hổ thẹn và căm giận nên đã tìm mọi cách để hãm hại Giang Văn Minh. Ngày 12-6 Mậu Dần, tức 12-7-1638 vua Minh ra lệnh giết ông bằng cách mổ bụng để xem lá gan của sứ thần Đại Việt, có thuyết nói rằng câu đối trên là của Phùng Khắc Khoan.

Lê Công Hành[sửa]

Lê Công Hành người làng Quất Động, huyện Thường Tín (Hà Tây), tên thật là Trần Quốc Khái, sau này vì có công nên được nhà Lê ban quốc tính họ Lê đổi thành Lê Công Hành. Theo Gia Phả Họ Mạc, tổ tiên Lê Công Hành là người họ Mạc. Khi nhà Mạc bị nhà Lê đánh bạt lên Cao Bằng, nhiều người họ Mạc sợ nhà Lê trả thù nên đổi họ. Ông Khái đổi sang họ ngoại là họ Trần, còn có thuyết ông Khái họ Bùi vì ông có làm con nuôi họ Bùi một thời gian. Thuở nhỏ ông thông minh, lanh lợi, có tài đối đáp. Thời vua Lê Chân Tông (1643 – 1649), ông đỗ Tiến sĩ và được cử đi sứ Trung Quốc. Có dịp đi ra nước ngoài, ông để dành nhiều thời gian tìm hiểu, nghiên cứu nghề thêu, cách thêu rồng, thêu phượng, thêu hoa. Về nước, ông dạy nghề thêu cho con cháu và người làng, dần dần nghề thêu lan rộng khắp nơi. Do có công lao to lớn phổ biến, truyền nghề thêu, nghề lọng trong dân gian, nên sau ngày ông mất (12 tháng 6 năm Tân Sửu – 1661), nhân dân nhiều nơi đã làm đền thờ ông. Hàng năm, những người làm thợ thêu nước ta đã đến ngày ông mất để làm ngày giỗ tổ nghề. Tại Festival chuyên đề nghề truyền thống Huế tổ chức lần đầu tiên vào năm 2005, nghề thêu cùng với nghề chằm nón đã được chọn tôn vinh, quảng bá. Tương truyền, ngay từ khi còn niên thiếu, ông đã nổi tiếng thông minh. Có lần đi đắp đê, vì sức yếu, không vác được hòn đất to, ông bị chôn chân ở đê. Một viên quan thị đi qua, thấy vậy hỏi duyên cớ, ông khai là học trò sức yếu. Viên quan thị liền nói: "Nếu là học trò, ta ra cho một vế câu đối, đối được, ta tha cho về".

Viên quan thị đọc: Ông quan thị, cắm đường cái tiêu, trị hồng thủy, cho dân được cậy.
Lê Công Hành liền đối lại: Trai Quất Động, thi đỗ bảng nhãn, phù quân vương, phỉ chí mới cam.
Vế trên có bốn thứ quả: thị, (chuối) tiêu, hồng, cậy. Vế dưới cũng có bốn tên quả: quất, nhãn, (bồ) quân, cam. Quan thị vỗ ngực kể công thì cậu học trò cũng hiên ngang tỏ bày chí khí.

Nguyễn Đăng Cảo[sửa]

Nguyễn Đăng Cảo vốn người làng Hoài Bão, huyện Tiên Du, ưa phóng đãng, ít chịu kiềm chế, ngoài món rượu ngon và thịt cầy, ông chẳng còn thích gì nữa. Tính ông hay ngạo mạn, thường chẳng coi ai ra gì. Lúc vào thi đình, lẽ ông phải đỗ đầu, nhưng triều đình cố ý để ông xuống hàng thứ ba nên ông chỉ đỗ Thám Hoa. Khi làm quan trong triều, do nói năng không kiêng giữ nên mấy lần bị biếm chức.

  • Đối đáp với chủ thuyền buôn:

Từ nhỏ Nguyễn Đăng Cảo đã rất thông minh học giỏi, 13 tuổi đọc sách một lượt là thuộc hết, mọi người suy tôn là thần đồng. Vốn là người ưa tự do phóng khoáng, ông thường đi du ngoạn và giao thiệp rộng rãi với mọi người, sớm thể hiện tính cách sắc sảo. Năm 16 tuổi một hôm đi chơi, gặp một thuyền buôn, ông hỏi người chủ cho xem tấm vải gấm và hỏi giá bán.

Ông chủ thuyền vốn là người hay chữ nên ra một vế đối thử tài Đăng Cảo, như sau: Hữu nhất thuần cẩm, thượng cầm hạ thú, sắc nhiều toàn thuyền, khang ninh phúc thọ (có một tấm gấm quý, trên con cầm, dưới con thú, màu huyền sắc đẹp, mạnh khoẻ giàu sang sống lâu)
Đăng Cảo có đồng tiền đúc mang theo, nghĩ ngay ra vế đối lại: Hữu nhất văn tiền, nội phương ngoại viên, diện đế tứ tự, thông bảo khai nguyên (Có một đồng tiền, trong thì vuông, ngoài thì tròn, mặt đề bốn chữ, thông bảo khai nguyên)
Người chủ hàng nghe xong rất cảm phục liền biếu tặng Đăng Cảo tấm vải gấm quý đó
vua Khang Hi nhà Thanh
  • Đối đáp với sứ thần Mãn Thanh:

Trong khoảng 10 năm 1688 đến 1697 theo sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục và Lịch triều hiến chương loại chí đã ghi lại, nhiều vụ lấn chiếm biên giới nước ta của quan lại nhà Thanh đã xảy ra. Một lần, Đăng Cảo nhận mệnh nhà vua mang lễ vật lên biên giới gặp sứ nhà Thanh để tìm cách sao cho quân Thanh không kéo về Thăng Long.

Đến Lạng Sơn, sứ thần nhà Thanh ra câu đối rằng: Điểu nhập phong, thực tận trùng nhi hoá phượng? (Chim vào gió ăn sâu mà hoá phượng) - chữ “phượng” do chữ “Điểu” viết trong lòng chữ “phong” mà thành.
Đăng Cảo liền đối rằng: Nhân cư nham, đả thi thạch chĩ thành tiên (Người ở cạnh núi, đẽo đá để thành tiên) - Chữ “nhân” đứng bên cạnh chữ “nham”, bỏ chữ “thạch” thành chữ “tiên”.
  • Đối đáp với vua Thanh Thánh Tổ (Khang Hy):

Vua Khang Hy nhà Thanh dùng áp lực để ép các nước nhỏ láng giềng phải cắt tóc kiểu đuôi sam của dân tộc Mãn, điều này khiến vua Lê Hy Tông lúng túng không biết ra sao bèn sai sứ thần là Thám Hoa Nguyễn Đăng Cảo sang thương lượng. Nguyễn Đăng Cảo lập luận sắc bén khiến các quan lại Trung Hoa đuối lý đều đổ cho thiên tử Khang Hy, Nguyễn Đăng Cao bèn lập tờ trình dâng lên Hoàng Đế nhà Thanh và được gọi vào kiến giá. Tại sân rồng, vua Khang Hy đưa ra vế đối nói rằng nếu đối được sẽ bãi bỏ lệnh ấy.

vế ra là: Lão khuyển lạc mao, do hướng đình tiền thệ nguyệt (con chó già rụng hết lông còn hướng ra sân cắn bóng trăng)
Nguyễn Đăng Cảo đối: Tiểu oa đoản cảnh, mạn cư tỉnh đề khuy thiên (chú ếch nhỏ cổ ngắn, ngồi dưới đáy giếng dòm trời)
Vua Khang Hy biết sứ thần An Nam xỏ lá nói mình là ếch ngồi đáy giếng, nhưng vế đối liêm luật chặt chẽ không thể bắt bẻ được đành phải hạ lệnh bãi bỏ việc cắt tóc đuôi sam cho người Việt.

Nguyễn Quý Đức[sửa]

tranh thờ Nguyễn Quý Đức
  • Nguyễn Quý Đức húy là Tộ, tự Thể Nhân hiệu Đường Hiên, ông sinh tại làng Thiên Mỗ, thuộc Thăng Long (tức làng Đại Mỗ, huyện Từ Liêm, Hà Nội ngày nay). Xuất thân trong một gia đình nho nghèo, cha ông là người khai khoa của họ Nguyễn Quý làng Thiên Mỗ. Trước khi về quê dưỡng lão, ông được gia phong Thái phó Quốc lão, vẫn được tham dự chính sự, được chúa ban 2 bài thơ tiễn, lại cấp cho xe ngựa và ruộng lộc (lộc điền). Thường ngày, ông dạo chơi quanh vùng, dựng đình Lạc Thọ để có chỗ họp bạn xướng họa thơ văn. Cuối năm Kỷ Hợi (1719), chúa Trịnh Giang nhân lên chơi Sài Sơn, có ghé ông thăm và mời ông cùng đi, sau khi mất ông được truy tặng là Thái tể, ban tên thụy là Trịnh Mục. Sau lại truy tặng ông là Đại tư không, sắc phong làm Cung thần tuấn đạt định sách Đại vương, và được dân làng thờ làm Phúc thần thưởng đẳng.

Ngay từ nhỏ, Nguyễn Quý Đức đã nổi tiếng là người thông minh, hay chữ, có tài ứng khẩu linh hoạt hơn người. Chuyện rằng một hôm sau buổi học sáng, lúc trở về qua một quán nước, Đức ghé vào chơi. Chợt có ông quan huyện đi qua cũng vào nghỉ. Ông huyện thấy Đức mặt mũi sáng sủa, bèn hỏi: "Cậu đã học sách gì rồi?" Đức đáp đã đọc hết sách Luận ngữ.

Ông huyện liền ra một vế đối, dùng toàn chữ của Luận ngữ: Thực vô cầu bão, cư vô cầu an, quân tử chí (Ăn không cần no, ở không cầu yên, say đạo học, đúng chí quân tử)
Cậu bé Đức lập tức ứng khẩu đối ngay cũng bằng các chữ trong sách ấy: Chiêu nhi bất lai, huy nhi bất khứ, xã tắc thần (Vẫy không chịu lại, xua không chịu đi, phò xã tắc, đáng mặt bầy tôi)
  • Lại một hôm trâu của Đức bị lính quan phủ bắt giữ bởi cậu bé mải chơi để trâu xổng xuống phá một khu ruộng trồng khoai của làng Cầu Đơ.
Thấy cậu bé láu lỉnh, quan phủ ra vế đối: Khoai Đơ xanh tốt nhờ về Phủ
Đức nghe xong đối luôn: Lĩnh Mỗ vàng trơn bởi có Nghè
Ông phủ thấy đối nhanh, lại có khẩu khí hơn người, bèn trao trả trâu cho Đức

Các chúa Nguyễn[sửa]

1 - Những câu đối của Quốc Chúa Minh Vương Nguyễn Phúc Chu (1675 - 1725):

Thiên Túng Đạo Nhân Nguyễn Phúc Chu là một vị chúa rất sùng bái Phật giáo, ngài là con trưởng của Chúa Nghĩa, khi lên kế nghiệp Chúa, Ngài mới có 16 tuổi nhưng đã có đức tính tốt, biết chiêu hiền đãi sĩ, biết nghe lời can gián, bỏ xa hoa, nhẹ thuế mà siêu dịch cho dân, được dân chúng yêu quý, thường gọi Ngài là Quốc Chúa hay Chúa Minh. Noi gương các Tiên Chúa, Chúa Minh đã chú trọng mở rộng bờ cõi về phương Nam đến tận Hà Tiên.ngài không chỉ sáng tác thơ văn viết về phong cảnh cùng chùa chiền ở kinh đô Thuận Hóa và quanh miền, mà còn sáng tác nhiều câu đối nữa, tất cả đều được ghi lại trong sách Hải ngoại ký sự, một tập bút ký có nhiều giá trị về văn học và sử liệu, dưới đây là một số câu đối của ngài:

  • Câu đối viết dán trước Đại Giới Đàn chùa Thiền Lâm:
Thích thị trì luật, nho giả lý trung, tổng yếu tu thân thành ý, tự nhiên kính trực hồ nội, nghĩa phương hồ ngoại (Cửa Phật giới luật, nhà Nho trung dung, chỉ cốt thành ý chính tâm, tự nhiên ngoài có nghĩa phương trong có chính trực)
Quân tử sắc cơ, thiền nhân tập định, đồng qui kiến tánh minh tâm, đoan do giới thận bất đổ, khủng cụ bất văn (Quân tử cơ vi, Thiền sư nhập định, đều để minh tâm kiến tánh, bởi vì răn chỗ chẳng thấy, sợ chỗ chẳng nghe)
  • Câu đối ban tặng chùa Quốc Ân - Thuận Hóa:
Bát bảo xán kim lương, hiển nhật lâm quang, tiện hữu nhân hữu cảnh (Bát bảo rực rường vàng, vầng nhật chiếu thiền môn, mến được có người có cảnh)
Ngũ vân sinh ngọc đống, xuân quang triển tọa, hỷ bất tức bất ly (Năm mây ngời cột ngọc, ánh xuân soi bảo tọa, vui thay không mất không xa)
  • Câu đối ở Chánh điện chùa Thập Tháp - Bình Định:
Phật tính viên dung, trạm nhược hư không, mạc năng trắc kỳ biên tế (Phật tính tròn đầy, trong trẻo tựa hư không, khó lường được giới mốc)
Pháp thân vô tướng, cảo như hao nhật, thục cảm nghĩ kỳ cao minh (Pháp thân vô tướng, sáng như mặt trời hiện, đâu dám chuyện nghĩ bàn)

2 - Câu đối của Quốc Chúa Ninh Vương Nguyễn Phúc Chú (1697 - 1738):

Nguyễn Phúc Chú còn có tên là Trú hay Thụ (ở ngôi chúa 1725-1738), là chúa Nguyễn thứ 7 trong lịch sử Việt Nam. Chánh quán của ông ở Gia Miêu (huyện Tống Sơn, Thanh Hóa), và ông là con trai trưởng của chúa Nguyễn Phúc Chu và bà Từ Huệ phu nhân Tống Thị Được. Khi trưởng thành, nhờ có tài văn võ, Nguyễn Phúc Trú được cử giữ chức cai cơ tước Đỉnh thịnh hầu, đến năm 1715 được thăng làm chưởng cơ, làm phủ đệ tại dinh cơ Tả Sùng. Sau khi nối ngôi được tôn là Thái phó tước Đỉnh Quốc công, hiệu là Văn Truyền đạo nhân (vì mộ đạo Phật), đương thời gọi là Ninh vương (tục gọi là chúa Ninh).

  • Câu đối ban cho chùa Linh Phong (Bình Định) vào năm 1733:
Hải ngạn khởi lương nhân, pháp vũ phổ thiên tư phật thổ (Bờ biển gặp duyên may, mưa pháp cùng trời thấm nhuần đất Phật)
Linh Phong ngưng thoại khí, tường vân biến địa ấm nhân gian (Núi linh đọng khí tốt, mây lành khắp chốn che chở cõi người)

Nguyễn Quỳnh và Đoàn thị Điểm[sửa]

Trạng Quỳnh đối đáp với những nhân vật khác[sửa]

Nguyễn Quỳnh là một danh sĩ thời Lê-Trịnh (vua Lê Hiển Tông), từng đỗ Hương cống nên còn gọi là Cống Quỳnh. Ông nổi tiếng với sự trào lộng, hài hước tạo nên nhiều giai thoại nên trong dân gian vẫn thường gọi ông là Trạng Quỳnh dù ông không đỗ Trạng nguyên. Ông còn có tên Thưởng, hiệu Ôn Như, thụy Điệp Hiên, quê tại làng Bột Thượng, xã Hoằng Lộc, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Thân sinh ông là ông Nguyễn Bổng và bà Nguyễn Thị Hương. Thuở nhỏ, ông học với ông nội và cha (vốn là giám sinh ở Quốc Tử Giám). Năm 1696, Quỳnh thi đỗ Giải nguyên, nhưng đi thi Hội nhiều lần bị hỏng. Về sau, triều đình bổ nhậm ông làm giáo thụ các huyện Thạch Thất, Phúc Lộc (Sơn Tây), tiếp đến làm huấn đạo phủ Phụng Thiên ở kinh thành Thăng Long. Năm 1718, đỗ khoa Sỹ vọng được bổ làm tri phủ Thái Bình, rồi về làm Viên ngoại lang ở Bộ Lễ; sau bị giáng xuống chức Tu soạn ở Viện Hàn lâm. Tuy không đỗ cao, Quỳnh vẫn nổi tiếng là người học hành xuất sắc. Đương thời đã có câu: "Nguyễn Quỳnh, Nguyễn Nham, thiên hạ vô tam" (nghĩa là thiên hạ không có người thứ ba giỏi như hai ông). Sách "Nam Thiên lịch đại tư lược sử" đã nhận xét về ông: "... Nguyễn Quỳnh văn chương nổi tiếng ở đời, nói năng kinh người, thạo quốc âm, giỏi hài hước...". Tác phẩm còn lại của Nguyễn Quỳnh, gồm một số bài ký, văn tế mẹ, văn khóc em (vốn tài hoa, nhưng chết yều ở tuổi 14) và hai bài phú chép trong tập: "Lịch triều danh phú". Lịch triều danh phú là tuyển tập của các danh sĩ thời bấy giờ, tất cả đều đỗ đại khoa, chỉ có hai người đỗ Hương cống là Nguyễn Quỳnh và Đặng Trần Côn.

  • Nhà ông Bảng Nhãn Đoàn Doãn Nghi - cha Đoàn Thị Điểm - dạy học trò đông lắm. Trạng Quỳnh ngày ngày giả vờ đến xem bình văn, để ngấp nghé cô Ðiểm. Học trò biết ý, vào thưa với quan Bảng, ngài bắt vào hỏi. Quỳnh thưa: "Tôi là học trò, thấy trường quan lớn bình văn, tôi đến nghe trộm". Quan Bảng nói: "Ta biết hết rồi, anh đừng giả danh học trò mà bắt chước tuồng chim chuột. Có phải học trò thì ta ra cho một câu đối, không đối được thì đánh đòn!"
vế ra: Thằng Quỷ ôm cái Đấu, đứng của Khôi nguyên
vế đối: Con Mộc tựa cây Bàng, dòm nhà Bảng nhãn
vế trên: chữ Quỷ (鬼) ghép với chữ Đấu (斗) thành chữ Khôi (魁), vế dưới chữ Mộc (木) bên cạnh chữ Bàng (旁) là chữ Bảng (榜). Quan Bảng thấy Quỳnh xuất khẩu thành chương có bụng yêu, giữ Quỳnh lại nuôi ăn học. Có thuyết khác cho rằng vế ra là của Bảng Nhãn Phạm Quang Trạch (1653 - 1716) người xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, Hà Nội (ông Trạch đỗ Bảng nhãn năm 1684, đời Lê Hi Tông) chớ không phải của Đoàn Doãn Nghi.
  • Trạng Quỳnh biết bọn quan thị và quan võ trước giờ không ưa nhau, bèn nghĩ cách cho chúng tỉ võ với nhau một bữa, đồng thời để xem cái dốt nát của chúng đến mức nào. Một hôm, Quỳnh đến nhà viên quan hoạn giữ chức giám ban, đọc cho nghe một câu đối như sau: Thị vào chầu, thị đứng, thị trông, thị muốn ấy, thị không có gậy. Trạng giải thích cho hắn hiểu chữ “thị” đây có nhiều nghĩa, gồm cả: chầu, đứng, trông, ấy, gậy…rồi nói kháy rằng mình đọc thấy ở bên dinh quan đề đốc.
Quỳnh nói xong thì kiếu ra về rồi đi ngay đến nhà quan đề đốc. Gặp quan, Quỳnh khoe rằng vừa đọc được một câu đối hay ở dinh quan giám ban như sau: Vũ ỷ mạnh, vũ ra vũ má, vũ bị mưa, vũ bện xoắn lông! Đọc xong, Quỳnh lại còn ra vẻ xuýt xoa thán phục: "Chữ vũ tai ác thật. Một từ mà đồng âm, diễn được bốn, năm nghĩa: mạnh, ra, múa, mưa, lông… Thế thì có thánh hoá mới đối lại được!"
Từ hôm đó trở đi, quan đề đốc và quan giám ban kình nhau ra mặt. Cho đến một hôm, Quỳnh nghe đám gia nhân kháo nhau: hai nhà quan kia kéo “quân” hỗn chiến một trận kịch liệt. Xong trận, cả hai đều tơi tả.
vế đối khác: Đình không dừng, đình thế thì thôi, đình gặp sét, đình tung cả nóc
  • Một ông quan huyện vào quán ngồi bệ vệ lắm, Quỳnh giả làm học trò xác, mon men đến đứng bên, hễ thấy quan ăn miếng trầu nào nhả bã ra thì lại cúi xuống nhặt. Quan hỏi: "Mày là ai". Quỳnh đáp: "Bẩm, tôi là học trò". Quan lại hỏi: "Học trò sao lại lẩn thẩn thế?". Quỳnh thưa: "Bẩm, chúng tôi thấy phương ngôn thường nói: Miệng kẻ sang có gang có thép!, chúng tôi nhặt xem gang thép như thế nào.
Quan thấy Quỳnh có ý xược, ra oai thét: "Ðã xưng là học trò, thì phải đối ngay câu phương ngôn ấy đi, đối được thì tha cho, không sẽ đánh đòn!" Quỳnh chỉ chờ có vậy đọc luôn: Ðồ nhà khó vừa nhọ vừa thâm.
Gần đây có một nhân vật (khuyết danh) đối thêm 1 câu như sau: Lời thiên hạ là bạc là vàng
  • Câu đối vịnh Đồng Cô:
Cô lô cô lốc, ốc…
Nhẩy lên nhẩy xuống, ong
  • Trong phủ Chúa có bà Quận, tính hay làm duyên lại thích tò mò. Ði đâu cũng muốn mọi người chú ý đến mình. Nghe gì, thấy gì bà cũng hỏi tường tận cho rõ ngọn ngành… Từ lâu Quỳnh đã định cho bà một vố cho chừa. Một trưa hè, biết bà Quận sắp sang nhà mình, Quỳnh về trước ra bờ ao, một chân đứng trên bờ đá, còn chân kia cứ đu đưa, đá đá vào bèo… Bà Quận đến thấy lạ – sẵn tính lắm chuyện – liền hỏi: "Trạng làm gì thế". Trạng chỉ chờ có vậy liền đáp: Rảnh rỗi, nắng cực ra đá bèo chơi, bà chúa thẹn bỏ mặt bỏ đi thẳng.
vế đối: Rộn ràng, mưa rũ vào lộng eo đã! (Hoài Anh Võ Quang Thạch)
  • Năm đó, nhà chúa mừng sinh được con trai, các quan trường bèn nảy ra ý nịnh hót chúa, bàn nhau ra đề thì nói về điềm lành của đất nước. Đoán được ý ấy, Trạng Quỳnh nghĩ ra cách làm đôi câu đối phải hàm được hai nghĩa: bề ngoài, đọc lên nghe như lời ca ngợi công đức của Chúa và sự an vui của mọi người, nhưng ẩn ý của nó lại là một sự phủ định. Nội dung câu đối như sau:
Quan tắc cổ, dân tắc cổ, đái hàm quan Nghiêu Thuấn chi dân (Nghĩa là: Quan cũng theo phép xưa, dân cũng theo phép xưa, đội ơn quan, dân được sống đời Nghiêu Thuấn)
Thượng ung tai, hạ ung tai, ỷ đầu lai Đường Ngu chi đức (nghĩa là: Trên cũng vui thay, dưới cũng vui thay, dựa vào đám đầu lại có đức độ thời Đường Ngu)
Mới nghe đọc lần đầu, chúa Trịnh đã khen: "Hay quá! Xứng đáng cho giải nhất!" Quan chủ khảo liền đứng lên tâu với Chúa: "Khải chúa! Trong hai câu ấy, thần thấy có cái ẩn ý không thuận". Chúa Trịnh nói: "Quan thật đa nghi quá. Ca tụng công đức của chúa như vậy mà còn gì không thuận?" Viên quan thưa: "Khải chúa, cứ theo cái nghĩa chữ Hán thì hai câu ấy đúng là hay thật, nhưng Quỳnh là loại thâm nho, từng đã dùng chữ nghĩa chơi khâm nhiều người, và chắc hắn không bao giờ bằng lòng thứ văn chương một nghĩa. Theo sự hiểu biết cạn hẹp của thần, thì hai câu ấy xướng theo nghĩa đồng âm trực tiếp nghe ra ngại lắm, không dám đọc lên để chúa thưởng lãm". Chúa nói: "Ta cho phép, quan cứ nói". Quan phân tích: "Quan tắc cổ, dân tắc cổ" có nghĩa là "trên cũng câm, dưới cũng câm," thưa tắc cổ là câm không dám nói đấy ạ! Còn "đái hàm quan Ngiêu Thuấn chi dân" tức là "đái vào hàm bọn quan dám bảo rằng dân chúng đang sống dưới thời Nghiêu Thuấn". Vế dưới: "Thượng ung tai, hạ ung tai" có nghĩa là "đứa trên thối tai, đứa dưới cũng thối tai", là cả trên dưới, ai ai cũng là một lũ điếc đấy ạ. Vì điếc hết nên không biết rằng "ỷ đâu lai Đường ngu chi sĩ" nghĩa là "ỉa vào đầu lũ nha dám bảo rằng kẻ sĩ đang mở mặt giữa đời Đường Ngu". Nhà Chúa tức lắm nhưng không có cớ gì để trừng trị Quỳnh ngay được, tuy lần ấy Quỳnh bị đánh hỏng nhưng lại có cơ hội đả kích vào thói xu nịnh của đám quan trường và "chọc" nhà chúa một trận nên thân, còn mình thì vẫn giữ tròn khí tiết.

Đoàn Thị Điểm và nhân vật khác[sửa]

Đoàn Thị Điểm có biệt hiệu là Ban Tang, quê quán ở làng Hiến Phạm (còn gọi là Giai Phạm, tên nôm là làng Giữa), huyện Văn Giang, tỉnh Bắc Ninh, nay là huyện Châu Giang tỉnh Hải Hưng. Khi ông Đoàn Doãn Nghi dạy học ở Thăng Long, Ông có lấy vợ lẽ là con gái của quan Thái Lĩnh Bá họ Vũ, nhà ở phường Hà Khẩu, gần Hồ Hoàn Kiếm. Nguyên vào một buổi tối rằm Trung Thu, Ông Hương Cống họ Đoàn cùng mấy người bạn đi xem bày cỗ triển lãm Trung Thu ở kinh thành, thấy nơi đây có một cô gái xinh đẹp rất có duyên thì đâm ra mê mẩn, liền cậy người mối lái đến hỏi cưới. Năm 1703, người vợ họ Vũ nầy sanh được một con trai đầu lòng, đặt tên là Đoàn Doãn Luân; qua 2 năm sau, năm 1705, sanh thêm một đứa con gái đặt tên là Đoàn Thị Điểm. Cô Điểm, mặc dầu là gái nhưng rất được gia đình nâng niu, ngay từ thuở nhỏ được học chữ nghĩa giống hệt như anh Luân, học đủ Ngũ Kinh và Tứ Thư. Ngoài ra Cô Điểm còn được mẹ dạy nghề Nữ công làm những món khéo léo đặc biệt để tham dự hội Triển Lãm như: Những khúc mía được làm thành lầu cao gọi là Đài Chín Từng, những trái hồng ngâm dùng làm hình các Cô Tiên múa nón trong đêm Hội Long Trì, những vỏ trái bưởi được cắt xếp thành hình hoa quỳnh..v..v..Lúc bấy giờ, giặc giã nổi lên đánh phá khắp nơi, cha và anh thì đã mất, cô Điểm cùng mẹ, chị dâu và 2 cháu phải bỏ làng Vô Ngại, tản cư đến làng Chương Dương bên bờ sông Nhị Hà, gần Hà Nội. Năm ấy là năm 1739, Cô Điểm được 35 tuổi. Cô mở trường dạy học, mong đem hết sở học bình sanh truyền lại cho thế hệ sau, đào tạo lớp người mới, vừa có kiến thức cao, vừa có đạo đức để giúp dân giúp nước. Cô rủi sanh làm phận Nữ lưu, nên dù học hành tài giỏi đến bực nào đi nữa cũng không được phép ra ứng thí để thi thố tài năng, nên việc mở trường dạy học là một lối thoát cho tinh thần của Cô, và Cô cũng nhận thấy, từ trước tới nay chưa có một phụ nữ nào dạy học mà có học trò thành đạt cả. Cô quyết tâm làm nên sự lạ, nên xin mở trường dạy học đào tạo nhân tài. Đúng với lòng mong ước của Cô, trong số học trò, có Ông Đào Duy Doãn ở làng Chương Dương, sau nầy thi đậu Tiến Sĩ năm 1763 (nhưng rất tiếc Cô Điểm không hưởng được niềm vui nầy vì Cô đã mất năm 1748). Trong thời gian Cô Điểm dạy học, Ông Nguyễn Kiều nhiều lần đến xin cầu hôn và cuối cũng cô cũng mủi lòng, năm đó Cô Điểm 37 tuổi..v..v..Ông Nguyễn Kiều, hiệu là Hạo Hiên, lớn hơn Cô Điểm 10 tuổi), tại làng Phú Xã huyện Hoài Đức, 18 tuổi đậu Giải Nguyên, 21 tuổi đậu Tiến Sĩ, là người có tài văn học lỗi lạc. Năm 1717, Nguyễn Kiều được bổ làm quan Đốc Đồng ở Nghệ An, và năm 1736 được thăng chức Thị Lang. Ông là bậc danh nho nổi tiếng từ thời còn trẻ, văn hay chữ tốt, sớm đỗ đại khoa nên tính khí có phần kiêu ngạo. Nhiều nhà quyền quí gọi Nguyễn Kiều đến gả con gái cho. Vợ đầu tiên của Nguyễn Kiều là Cô Lê Thị Hằng, con gái của quan Thượng Thơ Lê Anh Tuấn, dưỡng phụ của Cô Điểm. Cô Hằng mất sớm và không có con. Người vợ kế là Cô Đoan, con gái của quan Tham Tụng Nguyễn Quí Đức. Cô Đoan sanh được 2 con trai và 1 con gái, rồi cũng qua đời lúc chưa tới 30 tuổi..v..v..Cô Điểm về nhà chồng, sống với chồng rất tâm đầu ý hợp, khi rảnh thường hay xướng họa thơ văn. Nhưng ở với nhau chỉ được 7 năm thì cô Điểm mắc bạo bệnh qua đời, Nguyễn Kiều vô cùng thương tiếc người vợ tài ba lỗi lạc mà lại vắn số. Ông quàn quan tài vợ tại Nghệ An đến một tháng sau mới đưa linh cữu trở về quê nhà của Bà an táng. Trong thời gian nầy, Ông lập đàn cúng tế rất nghiêm bên bờ sông để tế lễ Bà, ông đọc một bài văn tế rất bi ai thống thiết. Dưới đây là những giai thoại đối đáp của Đoàn Thị Điểm và những nhân vật đương thời:

1 - Với anh trai Đoàn Doãn Luân (1703 - 1735):

  • Đoàn Doãn Luân là con trưởng của vợ kế ông Đoàn Doãn Nghi, tương truyền khi Đoàn Doãn Nghi dạy học ở Thăng Long, Ông có lấy thêm một bà vợ nữa là con gái của quan Thái Lĩnh Bá họ Vũ, nhà ở phường Hà Khẩu, gần Hồ Hoàn Kiếm. Nguyên vào một buổi tối rằm Trung Thu, Ông Hương Cống họ Đoàn cùng mấy người bạn đi xem bày cỗ triển lãm Trung Thu ở kinh thành, thấy nơi đây có một cô gái xinh đẹp rất có duyên thì đâm ra mê mẩn, liền cậy người mối lái đến hỏi cưới. Đoàn Doãn Luân được thân phụ dạy cho chữ Hán ngay từ lúc 3 tuổi, đến khi 5 tuổi thì biết ráp thành câu, đến năm 10 tuổi thì học thông Kinh Sử, đến tuổi trưởng thành thì thi đậu Hương cống, nhưng sau đó lại rớt kỳ thi Hội. Đoàn Doãn Nghi hỏi cưới con gái của bạn học cho con trai của mình. Bạn học ấy tên là Lê Hữu Hỷ, con gái của Hỷ tên là Lê Thị Vy. Sau lễ Hỏi ít lâu, chẳng may Cô dâu bị bệnh đậu mùa, cứu sống được nhưng mặt bị rỗ hoa và chân tay lóng cóng. Bên nhà gái thấy vậy cho người sang xin hủy bỏ cuộc hôn nhân nầy vì e rằng không đảm bảo hạnh phúc vợ chồng. Nhưng Đoàn Doãn Luân nhứt quyết giữ hạnh người quân tử, một dạ thủy chung, không đổi Ó vì sắc đẹp, làm mọi người đều kính phục. Năm 1726, vợ Doãn Luân sanh đặng con gái đầu lòng, đặt tên là Đoàn Lệnh Khương, 3 năm sau sanh thêm một trai đặt tên là Đoàn Doãn Y. Ngay từ khi lọt lòng, 2 cháu Khương và Y đều được Cô ruột là Điểm chăm sóc tận tình. Sau khi cha mất, Đoàn Doãn Luân đưa vợ con về ở luôn quê nhà là làng Hiến Phạm, sau đó lại chuyển qua ở làng Vô Ngại. Tại đây, Đoàn Doãn Luân mở trường dạy học, bởi chị dâu trước đây là một tiểu thư khuê các, nhưng vì bịnh đậu mùa làm cho gương mặt trở nên xấu xí, tay như có tật, nên Cô Điểm đứng ra thay thế chị dâu lo việc tề gia nội trợ, lại giúp anh trong việc giao thiệp với bên ngoài. Cô Điểm tỏ ra rất đảm đang và lịch thiệp trong mọi công việc. Mỗi khi anh Luân đau ốm, Cô thường thay thế anh Luân giảng sách cho đám học trò. Gia đình họ Đoàn đang sống an vui như thế thì Đoàn Doãn Luân bị bạo bịnh đột ngột từ trần, để lại 2 đứa con thơ chưa đầy 10 tuổi với một người vợ gần như tật nguyền, và một mẹ già tóc bạc. Điều này khiến cô Điểm nghiễm nhiên trở thành trụ cột của gia đình, nhưng cô vẫn nuôi dạy các cháu nên người và đều thành đạt cả. Tương truyền cô Điểm, khi lên 6 tuổi, đang học Sử Ký Tư Mã Thiên, anh là Đoàn Doãn Luân lấy một câu trong Sử Ký ra câu đối:
白蛇當道貴拔劍而斬之 Bạch xà đương đạo, Quý bạt kiếm nhi trảm chi (Rắn trắng giữa đường, ông Quý tuốt gươm mà chém) ông Quý ở đây là tên huý của Hán Cao Tổ Lưu Bang
Cô Điểm liền lấy một câu cũng trong Sử Ký đối lại: 黄龍傅舟禹仰天而歎曰 Hoàng long phụ chu, Vũ ngưỡng Thiên nhi thán viết (Rồng vàng đội thuyền, Ông Vũ ngửa mặt lên Trời mà than) ông Vũ ở đây là vua Đại Vũ nhà Hạ
  • Một hôm, anh trai Đoàn Thị Điểm là Đoàn Doãn Luân xuống ao rửa chân, thấy em đang trang điểm trước gương, bèn ra câu đối: 對鏡畫眉一點番成兩點 Đối kính hoạ mi, nhất điểm phiên thành lưỡng điểm (Soi gương kẽ lông mày, một nét hoá ra hai nét). Trong đây có chữ Điểm là tên của bà
Đoàn Thị Điểm đối lại: 臨池玩月隻輪轉作雙輪 Lâm trì ngoạn nguyệt, chích luân chuyển tác song luân (Tới ao ngắm trăng, một vầng hoá ra hai vầng). Trong đó có chữ Luân là tên của anh bà.
  • Có lần Đoàn Doãn Luân từ ngoài đi vào nhà, thấy em gái đang ngồi bên rổ kim chỉ, liền đọc:
Huynh lai đường thượng tầm song nguyệt (Anh trai đến nhà trên tìm 2 mặt trăng)
Song nguyệt là 2 mặt trăng, mà theo chữ Hán, 2 chữ Nguyệt ghép lại là chữ Bằng: Bè bạn, bằng hữu, nên câu trên còn có nghĩa là: Anh trai đến nhà trên tìm bạn.
Cô Điểm liền đối lại: Muội đáo song tiền tróc bán phong (Em gái đến trước cửa sổ bắt nửa làn gió)
Bán phong là nửa làn gió, mà cũng có nghĩa là phân nửa chữ Phong tức là chữ Sắt nghĩa là con rận. Nên câu đối trên có nghĩa là : Em gái đến trước cửa sổ bắt con rận.
  • Khi hay tin chị dâu sanh được con gái đầu lòng là Đoàn Lệnh Khương, trong đêm rộn rịp vui mừng, Cô Điểm đùa với anh Luân, đọc rằng: Bán dạ sinh hài, Hợi Tý nhị thời vị định (Nửa đêm sanh con, Hợi Tý 2 giờ chưa định)
Đoàn Doãn Luân liền đối lại: Lưỡng tình tương phối, Kỷ Dậu song hợp nãi thành (Hai tình phối hợp, Kỷ Dậu 2 hợp mà thành)
Hai vế đối đều có lối chơi chữ rất độc đáo, 2 chữ Hợi và Tý ghép lại thành chữ Hài; chữ Kỷ và chữ Dậu ghép lại thành chữ Phối.

2 - với quan Tham Tụng và quan Thượng Thư:

  • Có một lần quan Tham Tụng Nguyễn Công Hãn sang chơi bên dinh của Thượng Thư Lê Anh Tuấn, thấy Cô Điểm đang đi một mình bên bờ dậu, ông dừng lại, bảo Cô Điểm làm câu đối lấy đề tài là đi một mình. Chỉ giây lát, Cô Điểm đọc:
Đàm luận cổ kim tâm phúc hữu (Bàn chuyện xưa nay, tim bụng là bạn)
Truy tùy tả hữu cổ quăng thần (Đi theo trái phải, tay chân là bờ tôi)
  • Thượng thư Lê Anh Tuấn nhân không có con muốn đưa bà về làm con nuôi, để dâng cho chúa Trịnh Giang. Ông bèn ra đầu đề khác: "Một ngày không thấy như là ba thu" và bảo ccô Điểm vịnh thơ quốc âm. Cô Ðiểm liền ngâm rằng:
Những màng mây khắc giang cầm hạc
Ngỡ đã và phen đổi lá ngô
Lê Anh Tuấn khen ngợi không ngớt rồi ngỏ ý muốn tiến bà vào cung chúa Trịnh. Nhưng bà không bằng lòng, bèn lại cùng anh là Doãn Luân dời nhà ở tới chỗ người cha đang dạy học ở làng Lạc Viên, huyện Yên Dương, tỉnh Kiến An để tránh trước những sự không hay có thể xảy ra vì việc từ hôn ấy.

3 - Với Tràng An tứ hổ:

  • Bấy giờ, ở kinh đô Thăng Long có bốn danh sĩ được gọi là: "Tràng An Tứ Hổ" gồm Nhữ Đình Hiền (1659 - ? ), Nguyễn Công Thái (1684 - 1758), Nguyễn Bá Lân (1700 - 1786) và Vũ Diệm (1705 -  ? ) cùng rủ nhau đến nhà bà Đoàn Thị Điểm để thử tài. Bà ra câu đối: Đình tiền, thiếu nữ khuyến tân lang (Trước sân, thiếu nữ mời ăn trầu). Tân lang là trầu cau, lại đồng âm (Hán) với tân lang là chàng rể mới. Tràng An Tứ Hổ đều chịu phục không nghĩ ra câu đối lại, trên đường về có người hỏi chuyện thì Tràng An Tứ Hổ giải thích rằng: "câu thách đố của Hồng Hà nữ sĩ tài tình mà lắt léo ở chỗ cô ta dùng từ ngữ đồng âm khác nghĩa. Thiếu nữ là cô gái trẻ và cũng là làn gió nhẹ. Tân lang là chàng rể mới, nhưng cũng là cây cau. Thành ra câu văn muốn hiểu "gió nhẹ vờn cây cau" hay "cô gái mừng chàng rể mới" hoặc "cô gái mời trầu cau" cũng đều đúng cả. Nếu hấp tấp đối theo một nghĩa thì chẳng bõ mua cười, bọn chúng tôi đành thoái là vì như vậy đó".
Phải chờ đến gần 300 năm sau khi văn hóa phương Tây đã xâm nhập vào Việt Nam mới có người là Trường Văn Nguyễn Phước Thắng đối lại được câu trên như sau: Các hậu, trưởng nam hoài cựu ước ("Sau lầu, người con trai lớn nhớ lời nguyện ước cũ"; hoặc; "Sau lầu, làn gió lớn thổi ôm lấy Kinh Cựu Ước". Vì "Trưởng nam còn có nghĩa là "làn gió lớn" hay làn gió phương Đông (thuộc Chấn trong Bát Quái), "Hoài" còn có nghĩa là "ôm lấy", Cựu ước" là lời "ước nguyện cũ", cũng có nghĩa là Kinh Cựu Ước trong đạo Thiên Chúa)
Vế đối khác 1 : Sơn thượng, đại gia luyện kim đan (Thiền Long Nguyễn Phước Thạnh) ( Xét nghĩa từ "đại gia" trong từ điển Hán Việt có hai nghĩa danh từ : là "người có thế lực" và "bác ruột". "kim đan" là dược phẩm hay phép thuật giúp kéo dài tuổi thọ, nghĩa khác là cây kim dài, que dài nhọn đầu dùng để đan len sợi. Vậy vế đối có thể xét theo bốn nghĩa là "ông đại gia chế luyện thuốc trường sinh kim đan" hoặc "bà bác ruột luyện tập đan áo bằng cây kim đan" hoặc " ông đại gia có nghề làm kim đan áo" hoặc "bác ruột đang chế luyện thuốc trường sinh kim đan" đều rõ nghĩa cả (bà bác ruột là cô ruột, dì ruột ở hàng lớn hơn cha mẹ). Ngoài ra, chữ "đại" đối chữ "thiếu", chữ "kim" (nay) đối chữ "tân" (mới).
Vế đối khác 2: Thư nội, tiểu sinh tầm hậu nghệ (Huỳnh Hữu Đức) (Từ trong sách cậu học trò tìm học nghề cho mai sau. Hậu nghệ ngoài nghĩa nghề nghiệp mai sau còn là tên của chồng Hằng Nga: Hậu Nghệ)
  • vế ra: Hổ thật thành hổ giấy (Đoàn thị Điểm) ("Tràng An tứ hổ" định thử tài bà Điểm bị bà ra câu đối mà chịu bó tay, nhân đó bà ra tiếp vế đối này với ý rằng Hổ này chỉ là hổ danh là xấu hổ hay hổ giả mà thôi. Từ đó trong dân gian xuất hiện câu thành ngữ "Tràng An tứ hổ, nghểnh cổ nhìn nhau" còn lưu truyền cho tới tận ngày nay)
vế đối: Sư giả hóa sư già (Trường Văn Nguyễn Phước Thắng) (Ý nói: 4 danh sĩ Tràng An khâm phục Bà, ngỡ Bà là thầy (sư) "giả", nhưng không ngờ là bậc thầy "già" dặn nên chẳng có gì phải xấu hổ khi thua một bậc nữ nhi văn chương tài hoa xuất chúng. Nhưng ngầm ý ăn miếng trả miếng (vì bị chê là hổ giấy) nên chê khéo Bà dữ như Sư tử, và đã...già! Chữ Sư ở đây ngoài nghĩa là bậc thầy, còn có nghĩa là sư tử (Lân Sư Rồng) để đối với chữ Hổ)

4 - Những câu đối của Đô Ngự Sử Nguyễn Kiều (1695 - 1752) với Đoàn Thị Điểm:

  • Nguyễn Kiều hiệu là Hạo Hiên, sinh tại làng Phú Xá, huyện Từ Liêm, nay thuộc ngoại thành Hà Nội. Thuở trẻ, ông nổi tiếng hay chữ, có tài văn chương. Khoa Ất Mùi (1715) đời vua Lê Dụ Tông, ông đỗ Tiến sĩ, được bổ làm quan, dần lên đến chức Đô ngự sử, tước bá. Sau khi góa vợ, khoảng năm 1742, ông lấy nữ sĩ Đoàn Thị Điểm làm vợ kế. Cũng trong năm ấy, ông được cử làm Chánh sứ cùng Nguyễn Tông Quai làm Phó sứ, dẫn đoàn sang nhà Thanh (Trung Quốc). Bấy giờ đoàn sứ bộ nước ta sang Trung Quốc về tới Quảng Tây bị nghẽn đường bởi dân chúng vùng này nổi dậy khởi nghĩa vũ trang chống lại nhà Thanh nên buộc phải nán lại để lánh nạn mà không kịp về An Nam ăn tết, Nguyễn Kiều liền ứng tác ra đôi câu đối trong bối cảnh xa xứ nhớ vợ:
Tứ thơ niềm khách bên đèn mộng
Tiếng pháo hò xe rộn ngõ ngoài
  • Năm Mậu Dần, tháng hạ bà Điểm đang ngồi với ông chồng ở tư thất bình văn, tập hợp các bài văn cũ để làm thi tập cho cả nhà. Đột nhiên bức màn đỏ che trước cửa, kế bên ông bà ngồi, bị gió cuốn lên làm bụi bay tứ tung. Bà Điểm bấm đốt ngón tay rồi đọc câu thơ rằng:
Bắc khuyết vân trình chiêu thiếp thụy (Cửa Bắc xe mây điềm thiếp rõ)
Nam thùy xuân vũ trước quân ân (Bờ Nam mưa ấm tỏ ơn vua)
Nghe qua, Nguyễn Kiều bồn chồn hỏi ý nghĩa câu thơ nhưng bà chỉ mỉm cười không nói. Nhưng bà biết điềm xấu sắp xảy ra với mình, còn chồng sẽ được thăng quan”. Quả đúng như vậy, ít lâu sau do có công trong chuyến đi sứ, Nguyễn Kiều được bổ làm Đốc đồng trấn Nghệ An. Lúc đó, Đoàn Thị Điểm không muốn theo chồng đi, vì ở nhà còn mẹ già và các cháu thiếu người chăm sóc, cũng như linh tính báo sẽ có điều không lành trong chuyến đi xảy đến với bà. Nhưng Nguyễn Kiều hết lời nài nỉ, cuối cùng bà phải chiều chồng, làm bổn phận người vợ, xuống thuyền cùng ông đi vào Nghệ An. Lúc thuyền đến bến Đền Sòng, nơi thờ công chúa Liễu Hạnh, bà bị cảm rất nặng. Biết mình không thể qua khỏi, bà trăng trối với chồng: "Chàng nên cố gắng lo tròn việc nước để trở về kinh sớm ngày nào tốt ngày đó, chớ nên ở lâu chốn biên thùy này mà dấn thân vào nơi gió bụi hiểm nguy". Trối xong, bà từ trần, lúc đó là ngày 11 tháng 9 năm Đinh Mão (1748), hưởng được 44 tuổi.
  • Theo gia phả họ Đoàn, tổ tiên Đoàn Thị Điểm trước họ Lê và theo con đường võ nghiệp. Nguyên tằng tổ là Lê Công Nẫm, làm quan võ tới chức Thái Thường tự Thiếu Khanh, được phong tước Thiêm hào tử. Đến đời cụ thân sinh Lê Doãn Nghi vì nằm mộng thấy một vị thần bảo ông đổi sang họ Đoàn thì mới hiển đạt. Do đó, ông đã đổi là Đoàn Doãn Nghi. Về sau con cái hiển đạt, ông đã xây miếu thờ vị thần báo mộng cho mình tại bản thôn. Hiện nay, miếu thờ đó vẫn được con cháu họ Đoàn ở thôn Giai Phạm hương khói. Về việc này trong nhà thờ họ còn lưu đôi câu đối như sau:
Vũ liệt văn khôi quang thế phả (Võ giỏi văn tài ngời phả họ)
Lê tiền Đoàn hậu ký Thần ngôn (Lê xưa Đoàn mới nhớ lời Thần)

Trạng Quỳnh và Đoàn Thị Điểm[sửa]

1 - Những vế ra Trạng Quỳnh không đối được, hiện đã được hậu thế giải mã giúp:

  • Có một lần, Trạng Quỳnh và Thị Điểm nhìn thấy nhau từ hai cửa sổ đối diện nhau, Đoàn Thị Điểm ngẫu hứng bèn ra một vế đối: Song song là hai cửa sổ, hai người ngồi trong cửa sổ song song. Vế ra rất oái oăm, “song song” 12 ”hai cửa sổ”. Nhiều nghĩa: “song song” 2 vừa có nghĩa sóng đôi, ngang bằng nhau, vừa có nghĩa được thông suốt (nghĩa “sóng đôi, ngang bằng nhau” đã được Việt hoá). Cùng âm: “song song” 1 – “song song” 2. Cũng lưu ý rằng, nếu ngắt nhịp giữa “ngồi” và “trong”, thì “cửa sổ song song” lại có thể hiểu theo một cách khác, là hai lần cửa, hoặc hai cửa sổ cùng nằm trên hướng nhìn (hai người không ngồi gần nhau). Bên cạnh đó, hiện tượng trùng điệp (âm hay từ) cũng được sử dụng, chỉ có 8 âm tiết được dùng để lắp đầy cho 14 âm tiết của vế đối, hai-song song-hai, song là hai và song cũng có nghĩa là song cửa. Lại gặp một vế đối quá hóc búa, Trạng Quỳnh bí quá không đối được đành giả bộ tảng lờ, đi ra chỗ khác.
Hậu bối Trường Văn Nguyễn Phước Thắng xin phép được đối 2 câu:
Không không tức không trống rỗng, không sắc gì ngoài trống rỗng không không!
Tam tam tức ba chữ tam, ba trò gàn tán ba chữ tam tam!
Ông Nguyễn Hữu Quyên ở "Hanoi-Amsterdam" cũng có câu đối như sau: Loáng loáng cùng một con ngòi, một nhịp vắt chéo con ngòi loáng loáng
Ông Hoàng Kim Long ở Biên Hòa - Đồng Nai cũng tham gia đối 1 câu: Trùng trùng dáng nước non cao, nước trong cá lội non cao trùng trùng
Một nhân vật khuyết danh ở Rạch Giá - Kiên Giang cũng có 2 câu đối:
Thon thon đối bóng hai người, hai người e ngại dáng cười thon thon
Minh minh bầu quyển thái dương, cỏ cây chào đón gọi đường minh minh
vế đối khác 1: Đại đại tức tất cả đời, Tất Đạt ngự trị tất cả đời đại đại (khuyết danh)
vế đối khác 2: Khuyết khuyết ấy nửa vành trăng, nửa Cuội đứng cuối nửa vành trăng khuyết khuyết (khuyết danh)
vế đối khác 3: Lộ lộ rõ cặp Cò bay, cặp Sáo lượn dưới cặp cò bay lộ lộ (khuyết danh)
vế đối khác 4: Xa xa có 1 cánh buồm đỏ thắm, 1 nàng Tô thị đứng nhìn 1 cánh buồm đỏ thắm xa xa (khuyết danh)
vế đối khác 5: Thiên thiên tức ngàn ông Trời, ngàn mây khoe sắc ông Trời Thiên Thiên (Hoài Anh Võ Quang Thạch)
  • Một lần Trạng Quỳnh đến nhà Đoàn Thị Điểm chơi bị chó đuổi chạy rồi phải nhảy tót lên cây hồng. Đoàn Thị Điểm ra nhìn thấy rồi ra vế đối: Thằng Quỳnh ngồi trên cây cậy, dái đỏ hồng hồng và nói rằng nếu Trạng Quỳnh đối được mới đuổi chó đi mà mời vào nhà chơi. Hồng là cây hồng, quả hồng… Nhưng cây hồng cùng giống với cây cậy, Trạng Quỳnh nghĩ nát óc không ra nên phải ngồi mãi trên cây
Hậu bối Trường Văn Nguyễn Phước Thắng xin phép được đối: Cô Điểm vít ngọn cành bòng, vú vàng cam cam (Chữ Quỳnh trong Hán tự có nghĩa là thứ Ngọc đỏ, Ngọc có thể liên tưởng đến Ngọc Hành nghĩa là dái. Chữ "bòng" có nghĩa đèo bòng khi đối với chữ cậy có nghĩa là ỷ lại, cậy nhờ. Chữ "bòng" đọc trại thành "bồng" để đối với chữ "cạy" (khi chữ "cậy" đọc trại thành "cạy"). Chữ Điểm trong Hán tự có nghĩa là cái chấm. Chấm lớn thì tròn, cho phép liên tưởng đến núm vú và vú. Cam và bòng là 2 cây cùng giống. Hồng hồng và cam cam cùng là từ láy toàn bộ đều chỉ về màu sắc)
Vế đối khác của Vũ Trình Tường: Mụ Điểm đái dưới gốc sung, ghe chua ngái ngái (Cây sung và cây ngái cùng họ với nhau và cùng có quả ăn được. “sung - ngái” đối với “cậy - hồng”, lấy mùi vị (ngái ngái) để đối với màu sắc (hồng hồng).
  • Một lần giáp tết Nguyên Đán trời mưa rả rích, Đoàn Thị Điểm ngồi gói nem. Trông thấy Trạng Quỳnh đội mưa đi mua rượu về, cô bảo muốn nhắm nem thì ngồi xuống cùng gói với cô. Quỳnh trả lời: Chả thích nem, chỉ thích giò. Thị Điểm liền ra một vế đối: Trời mưa đất Thịt trơn như Mỡ, Dò đến hàng Nem, Chả muốn ăn. Câu đối cũng rất lắt léo dùng toàn chữ: Thịt, Mỡ, Dò, Nem, Chả khiến Trạng Quỳnh lại một lần nữa bị bế tắc.
Ông Trường Văn Nguyễn Phước Thắng có đối 3 câu:
Vua giận rời Cung lẹ tựa Tên, Thương nàng lễ Giáo, Nỏ thèm trách (Nỏ là tiếng địa phương ở vùng Hà Tĩnh , Bình Trị Thiên, có nghĩa như chẳng, không)
Trăng đổ hoàng Cung đẹp tựa Tiên, Thương về gốc Việt, Nỏ thèm ngủ
Trăng xuống xứ Việt đẹp tựa Tiên, Câu lẫn ánh Liềm, Nỏ thèm ngủ
Cung, Tên, Tiên (roi), Việt, Thương, Giáo, Câu, Liềm, Nỏ là các loại khí giới trong bộ 18 ban binh khí
Ông Thiền Long Nguyễn Phước Thạnh đối 2 câu:
Quỹ thu chục Hào phí qua Ải, Lũy tiến triệu Quan, Thành bội thu
Dừa già củ Hũ to hơn Chĩnh, Kiệu ngang lò Vại, Lọ cần nghỉ (Lọ cũng có nghĩa là không cần đến)
vế đối khác 1: Gió ẩm bánh Mì mốc bởi Men, Cuốn lên ngọn Lá, Cam lòng chịu (Cao Nghiêm)
vế đối khác 2: Biển động trời Đen, tối tựa Đêm, Rớ vào gọng Nhá, Chài chân té (khuyết danh)
vế đối khác 3: Đất tốt Dâu Tơ mượt tựa Nhung, Sa vào chợ Vải, Len cũng mặc (Vũ Trình Tường)
vế đối khác 4: Trăng xuống đá Bi tròn giống Đĩa, Líp tới hang Sên, Cóc thèm chơi (Hoài Anh Võ Quang Thạch) (Bi, Đĩa, Líp, Sên, Cóc là phụ tùng xe đạp)
vế đối khác 5: Đường tối ổ Gà đen tựa Mực, Bò tới quán Lươn, Cóc thèm vô (Vanlu)
vế đối khác 6: Thằng bạn nghe Cọp nhại như Két, Chim gặp tổ Ngỗng, Hổ thẹn lui (khuyết danh)

vế đối khác 7: Ngõ sáng nhà Qué rực như Đèn, Trâu húc cửa Trạch, Ếch nhảy ra (khuyết danh)

  • Lần khác, cô Điểm đi lên phố Mía ở Sơn Tây gặp ngay Trạng Quỳnh ở trên đó, cô lại ra vế đối: Lên phố Mía, gặp cô hàng Mật, cầm tay Kẹo lại hỏi thăm Đường. Trong câu này có 4 từ: Mía, Mật, Kẹo, Đường đều chỉ những đồ ngọt khiến Trạng Quỳnh một lần nữa lại bó tay. Ngoài ra, vế ra còn khó ở chỗ: từ Mía mới sinh ra Mật, Kẹo, Đường.
vế đối do ông Thiền Long Nguyễn Phước Thạnh đối: Đến hàng Thịt ghé anh quầy Giò, lựa chân Dồi tới đựng mấy Bì
vế đối khác 1: Bà đồ Nứa, đi cáng võng Tre, đến bụi Trúc thở dài hí Hóp (khuyết danh, (Hóp là tiếng địa phương dùng để chỉ một loại cây cùng họ với tre trúc)
vế đối khác 2: Ông lái Trâu ngồi xe chở Ngựa, qua đàn Dê than vắn bệt Bò (khuyết danh)
vế đối khác 3: Xuống làng Sen thấy chị tiệm Gương, ngẩng đầu Ngó tới muốn trao Tơ (Trường Văn Nguyễn Phước Thắng)
vế đối khác 4: CÔ TÚ LAN CẦM BÔNG HOA CÚC, MẶC YẾM ĐÀO NGỒI LƠ MA LƠ MƠ (khuyết danh)

2 - Giai thoại Da Trắng Vỗ Bì Bạch:

  • Trạng Quỳnh một hôm bắt gặp nữ sĩ Đoàn Thị Điểm đang tắm, vừa tắm vừa ngâm thơ ca hát. Trạng ta hình như mê mệt nữ sĩ đã lâu nên lên tiếng xin tắm chung, hay ít nhất cũng xin nữ sĩ cho chiêm ngưỡng thân hình kiều diễm để có hứng nay mai lên đường đi sứ sang Tàu. Nữ sĩ không chút gì hờn giận lại đọc lên câu đối:
Da trắng vỗ bì bạch (ngụ ý bảo ông Trạng Quỳnh nếu đối được câu đối kể trên, nàng sẽ hết sức chiều theo ý của Trạng)
Câu đối này thật hay, xem dễ nhưng thật ra rất khó, bởi nó vừa tả 'trạng thái' đang tắm của nữ sĩ, vừa đối chữ nôm DA TRẮNG với chữ Nho BÌ BẠCH, liên kết với nhau bằng động từ Vỗ. Bì nghĩa là da (như bì cuốn, bánh tầm bì), Bạch tức trắng (như bạch diện thư sinh, Bạch Mi đạo nhân). Bì-bạch gọi chung nhau lại biến thành một phó từ hỗ trợ cho động từ vỗ. Vỗ vào da trắng lúc đang tắm gây ra tiếng kêu bì-bạch. Câu đối đó chỉ có 5 từ thôi nhưng rất súc tích rất ý nhị, dễ thương và dư sức vượt không gian và thời gian, nó có thể xảy ra vào bất cứ thời đại nào hoặc bất cứ nơi nào trên thế giới với chi tiết thay đổi chút ít. Lối đối đáp biền ngẫu này thật ra rất thịnh hành trong tiếng Việt, thịnh hành hơn cả tiếng Tàu. Bởi ở chỗ tiếng Hán hoặc chữ Nho trong dạng đơn thuần chỉ có một ngôn ngữ mà thôi. Trong khi đó tiếng Việt được lợi thế ở chỗ chứa chấp cả tiếng Nôm lẫn tiếng Hán. Hầu hết những từ ngữ tiếng Nôm đều có tương đương tiếng Hán, và đa số dân chúng dù chỉ có học chữ nghĩa đôi chút đều có thể nhận diện ra. Thành ra ngoài mặt mang tiếng chỉ một ngôn ngữ Việt - nhưng thật ra người ta có đến hai thứ ngữ ngôn, tiếng Hán và tiếng Nôm pha trộn lẫn nhau. Nếu dùng tiếng Việt theo thể chế song hành - kẹp Nôm với Hán -- người ta có thể phát sinh ra hàng trăm hàng ngàn câu đối khác nhau. Câu đối "Da trắng vỗ bì bạch" là một câu đối điển hình nhất, lợi dụng tính cách song hành của tiếng Việt - bao gồm các từ ngữ tương đương giữa hai thứ Nôm và Hán. Da trắng như nhìn qua gương thấy mình chính là bì bạch. Da trắng chỉ là phiên dịch tiếng Nôm của Bạch Bì dùng thoát một chút thành ra bì bạch. Cũng ở chỗ câu đối được thịnh hành trong dân gian từ ngàn xưa nên người Việt rất quen việc đối đáp chơi chữ. Tục truyền ông Trạng nhà ta trước câu đối thách thức của Đoàn nữ sĩ đã lúng túng không ít để rồi ông đành tạm ngâm ngay một câu đáp, chứ lâu quá không khéo bà Đoàn tắm xong thì hết chuyện.
Trạng đáp: Trời xanh màu thiên thanh
Những việc gì xảy ra sau đó không ai có thể biết được. Nữ sĩ họ Đoàn có thực chiều theo ý muốn của Trạng hay không, sau câu đáp có vẻ rất đúng 'tông' của ông Quỳnh, việc đó không hề thấy ghi lại trong văn học. Trời tiếng Hán gọi Thiên, xanh tiếng Hán là thanh. Trời xanh màu thiên thanh, nghe ra khá thơ mộng và đối đáp có vẻ chỉnh. Trong các sách vở về văn chương hoặc giai thoại làng Nho, người ta thường thấy chỉ có một câu đáp 'Trời xanh màu thiên thanh' dành cho câu đối 'Da trắng vỗ bì bạch'. Giai thoại Đoàn Thị Điểm với Trạng Quỳnh có vẻ kết thúc lửng lơ ở chỗ đó, không ai để ý khám phá gì thêm. Gần đây theo nghiên cứu của các học giả hiện đại thì câu đáp đích thực của Trạng Quỳnh là: Bẩy Xanh la thất thanh. Bẩy tức thứ bẩy, Trạng Quỳnh là người con thứ 7 trong nhà. Bẩy là Thất trong chữ Nho, Xanh là tên gọi thân mật của Trạng ở trong làng lúc còn niên thiếu, cũng mang nghĩa màu xanh. Tức Thanh theo tiếng Hán Việt. Bẩy Xanh viết theo chữ Nho là Thất thanh, đồng thời cũng một phó từ hỗ trợ cho động từ kêu hoặc la. "Bẩy xanh la thất thanh" còn mang hàm ý anh 7 bị xanh mặt rồi hoảng hốt la thất thanh. Câu đáp này có vẻ chỉnh nhất và có vẻ 'Trạng Quỳnh' nhất bởi không những nó thích hợp với những đòi hỏi căn bản của chơi chữ mà lại còn thích hợp với hoàn cảnh, với...sự cố của những gì xảy ra ngày ấy. Thì ra thói quen của Hồng Hà nữ sĩ lúc tắm vẫn mặc nguyên quần áo, Trạng biết dư thói quen của nữ sĩ khi tắm vẫn mặc nguyên quần áo! Do đó dù nữ sĩ có cho phép ông Bẩy Xanh dòm trong lúc tắm, ông cũng sẽ kêu thất thanh vì quá sức thất vọng. Tức câu đáp này được thốt lên lúc bà Đoàn chưa chịu thua.
Gần đây có một số người đối thêm vài câu nữa nhưng có câu tương đối được cũng có câu chưa chuẩn về ngữ nghĩa cho lắm, vậy đưa cả vào đây để tham khảo:
vế đối 1: Rừng sâu mưa lâm thâm (Nguyễn Tài Cẩn - Từ Hán Việt chỉ Rừng là lâm, sâu là thâm. Lâm thâm hợp lại tạo nên một phó từ mô tả thêm trạng thái của trận mưa. Mưa thế nào, mưa lâm thâm)
vế đối 2: Biển Tây có hải âu (Biển Tây viết theo tiếng Hán là Hải Âu cũng dùng để chỉ chim hải âu)
vế đối 3: Lên núi gặp Thượng Sơn ('Lên núi' theo chữ Nho: thượng sơn, cũng có thể tên một người, Lê Hoàng Thượng Sơn)
vế đối 4: Bắp vàng đợi Ngô Huỳnh (Gợi nên ý ai đó đã luộc hoặc nướng xong vài trái bắp vàng để dành chờ ông Ngô Huỳnh (bắp= ngô/vàng= huỳnh)
vế đối 5: Mực đen dính Mặc Huyền (Mực theo tiếng Hán là Mặc/Đen gọi theo chữ Nho là Huyền/Mặc Huyền là tên người)
vế đối 6: Gấu vàng hụt Hoàng Hùng (Gấu chữ Nho là Hùng/Vàng tức Hoàng)
vế đối 7: Lụa đỏ phủ hồng nhung (Lụa chữ Nho là Nhung/Đỏ tức Hồng)
Việc truy tìm giải đáp cho câu đối Da trắng vỗ bì bạch tự nhiên trở thành một trò chơi chữ vui vui trên mạng, được nhiều người tham gia. Càng tham gia người ta càng thấy nó không khó như rất nhiều người đã hằng tưởng. Bởi tiếng Hán Việt thật ra đã quá quen thuộc với người Việt, và những người tham gia trò chơi đó khám phá thêm rằng ai cũng có thể thành một nhà Nho 'con cóc' hết mà không cần phải theo học Hán Văn ở cấp đại học. Nếu dùng tên người vào câu đáp, việc đối đáp chơi chữ sẽ dễ dàng thêm ra. Như hai thí dụ dùng tên người, ông Sơn và ông Huỳnh kể trên. Tuy nhiên nếu quan sát kỹ câu đối của bà Đoàn đưa ra, người ta có thể sẽ rất thất vọng - và cũng có thể tiếc nuối cho Trạng Quỳnh là đằng khác, nếu chính Trạng đã đáp: "Trời xanh màu thiên thanh". Bởi câu đối đơn giản của bà Đoàn thật ra hàm chứa một số yếu tố cơ bản và đòi hỏi thiết yếu như sau. Thứ nhất, nó phải mang màu sắc, Da Trắng, Da phải có màu, màu trắng. Thành ra các câu như: 'Rừng sâu mưa lâm thâm; Biển Tây có hải âu; Lên núi gặp Thượng Sơn', v.v. bắt buộc phải bị loại ra ngoài vòng chiến. Ta chỉ còn lại 'Bắp vàng đợi Ngô Huỳnh'; 'Mực đen dính Mặc Huyền', và 'Gấu vàng hụt Hoàng Hùng', hoặc hơi lỏng lẻo một chút: 'Lụa đỏ phủ Hồng Nhung', là những câu đáp dùng đến màu sắc - như Da trắng vỗ bì bạch. Thứ hai, bên chữ nôm như DA TRẮNG phải được nối kết với bên chữ Hán BÌ BẠCH bằng một động từ 'chỉ động tác' Vỗ. Đây có lẽ là yếu tố đã khiến Trạng lúng túng không ít bởi MàU thiên thanh hoàn toàn không phải một thứ động từ chỉ động tác. Cùng lắm 'màu' chỉ có thể viết tắt cho 'có màu' hay 'là màu'. Một thứ động từ TO BE ở tiếng Anh dùng để chỉ sắc thái: "Trời xanh có màu thiên thanh". Đoàn Nữ sĩ rất dễ dàng từ chối ước muốn nghịch ngợm, mang đầy tính cách lều...chổng của Trạng, mà không sợ...mất lòng! Những câu đáp tân thời như: Bắp vàng/Mực đen/Gấu vàng/Lụa đỏ/vẫn còn có chỗ đứng ở vòng thứ hai này, bởi cả 7 câu đáp đều sử dụng động từ để liên kết phần Nôm với phần Hán. Thứ ba, 'cụm từ' bì bạch thật ra là một phó từ - tức trạng từ (adverb) theo lối gọi ngày trước. Nó hỗ trợ cho động từ VỖ. Nhìn kỹ nó mô tả một trạng thái quá độ của động tác vỗ. Vỗ trong khi tắm, hoặc vỗ vào chỗ nào đó trên thân thể đến nỗi có tiếng kêu bì bạch. Dưới đây là bảng kê một loạt những vế đối khác về chữ thì chuẩn còn ngữ nghĩa có cái đạt cái chưa để tham khảo:
vế đối khác 1: Tóc đen xông phát hắc (khuyết danh)
vế đối khác 2: Quạ vàng đội kim ô (khuyết danh)
vế đối khác 3: Tay tơ sờ tí ti (khuyết danh)
vế đối khác 4: Nhà vàng ngồi đường hoàng (khuyết danh)
vế đối khác 5: Áo vàng mặc trang hoàng (khuyết danh)
vế đối khác 6: Đêm đen sờ dạ thâm (khuyết danh)
vế đối khác 7: Đêm đen nhìn tối thui (khuyết danh)
vế đối khác 8: Mây đen quyện ô vân (Phạm Tuyên)
vế đối khác 9: Tóc xanh thấy phát thương (khuyết danh)
vế đối khác 10: Béo phù thở phì phò (Lê Anh Chí)
vế đối khác 11: Áo xanh lay lục phục (Lê Anh Chí)
vế đối khác 12: Quần áo vung phùng phục (Lê Anh Chí)
vế đối khác 13: Đá chàm sờ lam nham (Lê Anh Chí)
vế đối khác 14: Suối đỏ khoan thông hồng (khuyết danh)
vế đối khác 15: Giấy đổ viết chu da (khuyết danh)
vế đối khác 16: Sen xấu mọc liên tục (khuyết danh)
vế đối khác 17: Lưỡi đỏ ngó thiệt hồng (khuyết danh)
vế đối khác 18: Ra vào đòi giao hợp (khuyết danh)
vế đối khác 19: Mũi thấp hun tị ti (khuyết danh)
vế đối khác 20: Giếng nhỏ bé tỉnh tinh (khuyết danh)
vế đối khác 21: Con thầy múa Sư Tử (khuyết danh)
vế đối khác 22: Ngựa ông ăn mã tổ (khuyết danh)
vế đối khác 23: Con rể ở tử tế (khuyết danh)
vế đối khác 24: Đá đen chèn hắc thạch (Ngọc Châu)
vế đối khác 25: Ngỗng bạc réo ngân nga (Dương Hồng Kỳ)
vế đối khác 26: Áo đen hát y… ô... (Dương Hồng Kỳ)
vế đối khác 27: Đại gia ở nhà to (khuyết danh)
vế đối khác 28: Xương liền cọ cốt kết (khuyết danh)
vế đối khác 29: Rùa vàng lồng Quy Hoàng (khuyết danh)
vế đối khác 30: Rùa đen lèn Quy Hắc (khuyết danh)
Ghi chú 2 câu 29 và 30: Hình tượng con “Rùa- mu Rùa” nhân gian VN thường liên hệ và dùng ví biểu tượng “mu… bộ phận sinh dục nữ”; còn hình tượng “đầu Quy” nhân gian thường dùng gọi “đầu dương vật nam= đầu quy”. Người xưa còn có lệ “cắt bao Quy- phần da bọc đầu dương vật bé trai”. Theo Hán Nôm thì Quy nghĩa là Rùa. Khi giao hợp thì Rùa cái cõng Rùa đực trên lưng- hai lồng làm một…
vế đối khác 31: Mấn đen chùm váy thâm (Đuyên Hồng)
vế đối khác 32: Bạn trẻ khóc nỉ non (Đuyên Hồng)
vế đối khác 33: Chị kia khóc tỉ tê (Đuyên Hồng)
vế đối khác 34: Đàn nhỉ kêu tí ti (Đuyên Hồng)
vế đối khác 35: Vợ hiền buồn thê lương (khuyết danh - mặc dù chỉnh phần Vợ Hiền và Thê Lương nhưng chữ Thê Lương lại không đối được với chữ Bì Bạch vì không là tứ láy, điệp ngữ)

3 - Những câu Trạng Quỳnh đã đối được:

  • Trạng Quỳnh sau nhiều keo thất bại trước Đoàn Thị Điểm trở lên liều lĩnh, một hôm ông đột nhập vào phòng riêng của bà nằm sẵn trong giường. Khi Đoàn Thị Điểm tắt đèn đi ngủ vào trong màn quờ quạng vô tình chạm tay phải của ấy của Quỳnh, bà lập tức ra thắp đèn lên rồi ra vế đối bảo rằng lần này mà không đối được sẽ mách cha đuổi Quỳnh đi:
vế ra: Trướng nội vô phong phàm tự lập (Trong trướng không có gió mà sao cột buồm dựng lên)
may thay hôm đó Trạng Quỳnh lại nghĩ ra ngay đối lại: Hung trung bất vũ thuỷ trường lưu (Trong bụng không có mưa mà nước vẫn chảy)
  • Một ngày xuân đi hội cùng nhau, Đoàn Thị Điểm nhìn thấy cây xương rồng, ra vế đối muốn thách Trạng Quỳnh: Cây xương rồng trồng đất rắn, long vẫn hoàn long
Long, chữ Hán là rồng, mà tiếng nôm nghĩa là không chặt.

Trạng Quỳnh liền đối lại là: Quả dưa chuột tuột thẳng gang, thử chơi thì thử

Thử là con chuột, nhưng tiếng nôm nghĩa là làm thử, chưa phải làm thiệt. Chữ nghĩa rất chỉnh mà nội dung lại thể hiện được khả năng “đĩ mồm” của Quỳnh, cũng từ đó Trạng Quỳnh và Đoàn Thị Điểm cũng cắt tình đoạn nghĩa không quan hệ với nhau nữa. Theo các học giả ngày nay thì vế đối này là của Nguyễn Đức Tâm đối đáp với một ông khác lạ là bạn của thầy đồ Mỹ Lý.

Đoàn Thị Điểm và Trạng Quỳnh với nhà Thanh[sửa]

Lôi động Nam bang (nghĩa là: Sấm động cả nước Nam) - sứ nhà Thanh
Vũ qua Bắc hải (nghĩa là: Mưa qua cả biển Bắc) - Trạng Quỳnh
Bấy giờ vua Càn Long nhà Thanh phái Hàng Địch Lộc và Nhiệm Lan Chi sang An Nam, Trạng Quỳnh được cử đóng giả làm anh lái đò đi đón sứ thần, ngồi trên thuyền bất ngờ sứ thần đánh rắm, vì chữa thẹn nên mới đọc câu đối như thế nhưng không ngờ Trạng Quỳnh vạch quần tè ngay xuống sông để đối lại.
安南一寸土不知幾人耕 An Nam nhất thốn thổ, bất tri kỷ nhân canh (An Nam có một tấc đất, không biết bao nhiêu người cày) - Sứ nhà Thanh
北國大丈夫皆由此途出 Bắc quốc chư đại phu, giai do thử đồ xuất (Các đại phu nước phương Bắc, đều do từ chỗ ấy mà ra) - Đoàn thị Điểm
Sau khi lên bờ, Đoàn Thị Điểm đã được bố trí sẵn đóng giả sẵn làm bà bán nước ngồi ở ven đường. Khi sứ nhà Thanh đi ngang qua bà cố tình vén váy hở ra để sứ thần nhìn thấy, sứ liền đọc như vậy có ý chê phụ nữ nước Nam lẳng lơ đĩ thõa, không ngờ bị bà Điểm đối lại thành ra lại bẽ mặt.

Nguyễn Nghiễm[sửa]

Nguyễn Nghiễm tự Hy Di, tôn huý Thiều, hiệu Nghi Hiên, biệt hiệu Hồng Ngư cư sĩ, sinh tại làng Tiên Điền huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Quê tổ của ông ở làng Canh Hoạch, huyện Thanh Oai, trấn Sơn Nam (nay thuộc Hà Nội). Ông là cha của đại thi hào Nguyễn Du. Vào đầu thế kỷ 17, tổ 5 đời của ông là Nguyễn Nhiệm (cháu Nguyễn Thiến nhà Mạc) vào Tiên Điền sinh cơ lập nghiệp. Năm 1724 đời Lê Dụ Tông, Nguyễn Nghiễm đỗ thi Hương khi mới 16 tuổi. Năm 1731 đời Lê Duy Phường, ông đỗ Hoàng giáp (nhị giáp tiến sĩ). Nhờ công sách lập Trịnh Doanh, Nguyễn Nghiễm được thăng làm Tham chính Sơn Nam (1741). Ít lâu sau, ông đổi làm Tế tửu Quốc Tử Giám. Năm 1743, ông được thăng làm Thừa chỉ Viện hàn lâm, tước Xuân Lĩnh bá. Năm 1746, nhờ có công lao, ông được phong làm Hữu thị lang bộ Công, thăng lên tước hầu và được đặc cách dự chức Bồi tụng trong tướng phủ. Đầu năm 1750, triều đình quy cho ông trách nhiệm để thất thủ Thanh Hoa nên ông bị giáng làm Đại học sĩ đông các. Cuối năm đó, Trịnh Doanh đi đánh quân khởi nghĩa của thủ lĩnh Tương ở Sơn Tây, sai Nguyễn Nghiễm làm Tán lý giữ trách nhiệm hộ giá. Ông cùng tham gia dẹp được quân Tương, nên được thăng làm Thiêm đô ngự sử. Đầu năm 1752, ông được lệnh ra 4 đạo Sơn Tây, Hưng Hóa đánh hoàng thân Lê Duy Mật. Thắng trận trở về, ông được khôi phục chức cũ. Sang năm 1753 ông lại có công trận, được thăng làm Phó đô ngự sử. Cuối năm 1753, Nguyễn Nghiễm được Trịnh Doanh giao làm Đốc lĩnh ở Thanh Hoa để dẹp các lực lượng nổi dậy trong vùng núi. Nguyễn Nghiễm tiến quân đến nơi, các lực lượng nổi dậy không chống nổi, bỏ chạy sang Ai Lao. Ông chia quân tiến vào Ai Lao nhưng quân khởi nghĩa đã chạy xa, nên mang quân trở về. Năm 1755, ông được cử làm Hiệp trấn Nghệ An. Năm 1756, ông được gọi về triều thăng làm Vực quận công đi đánh lực lượng nổi dậy ở Kinh Bắc. Cuối năm 1757, Nguyễn Nghiễm được thăng làm Tả thị lang bộ Hình. Đầu năm 1761, triều đình xét công đánh quân nổi dậy, Nguyễn Nghiễm được thăng làm Ngự sử, rồi Thượng thư bộ Công và vào phủ làm Tham tụng (Tể tướng), từ đó thôi không giữ việc quân mà phụ trách đội Nghiêm hữu thuộc vệ quan thị hậu. Ít lâu sau, Nguyễn Nghiễm thêm chức Trung thư giám Quốc Tử Giám và kiêm coi Đông các, rồi làm Tổng tài Quốc sử quán. Mùa hạ năm 1764, ông được thăng hàm Thiếu phó. Năm 1767, Trịnh Doanh chết, Trịnh Sâm lên thay thăng ông làm Thái tử thái bảo, tước Xuân quận công, Đại tư không. Cuối năm 1771, ông đã 64 tuổi, bèn xin về hưu ở làng Tiền Điền, được thăng làm Đại tư đồ. Nhưng tháng 3 năm sau (1772), Trịnh Sâm lại mời ông ra làm Tể tướng, rồi Thượng thư bộ Hộ. Ngày 17 tháng 11, tính theo dương lịch là ngày 07 tháng 1 năm 1776, ông qua đời, thọ 68 tuổi. Trịnh Sâm ban tên thụy cho ông là Trung Cần và truy phong Thượng đẳng phúc thần.

  • Câu đối do Đức Bảo - sứ nhà Thanh - tặng Nguyễn Nghiễm:
兩朝名宰相 Lưỡng triều danh Tể tướng (Hai triều làm tể tướng)
一世大儒師 Nhất thế đại Nho sư (Một đời danh đại nho)
Đức Bảo là sứ thần của vua Càn Long viết tặng Tể tướng Nguyễn Nghiễm vào trước tháng Chạp năm Tân Tỵ (1761) một ngày, đến đời Minh Mạng trùng tu Càn Long Tân Tỵ, Lạp tiền nhất nhật sách phong Chánh sứ Đức Bảo đề. Bên trái là: Minh Mệnh Giáp Ngọ… vọng phụng… ư Vĩnh Tường tân tu.
  • Câu đối đề tại đền thờ:
Ngư Hải tú chung anh khí tráng (Bến Ngư Hải có khí tốt chung đúc nên những con người khoẻ mạnh)
Hồng Sơn tuấn cực tướng môn cao (Núi Hồng cao sinh ra nhièu cửa tướng nên càng rất cao)

Phạm Đình Trọng và Nguyễn Hữu Cầu[sửa]

Phạm Đình Trọng là danh tướng đời Lê - Trịnh. Quê: Khinh Dao, huyện Giáp Sơn, phủ Kinh Môn, trấn Hải Dương (nay là huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương). Đỗ Tiến sĩ 1739, làm phó đô ngự sử, vào Phủ chúa làm Bồi tụng, sau chuyển làm Thống lĩnh quân, đánh dẹp cuộc khởi nghĩa Nguyễn Hữu Cầu ở Hải Dương, Kinh Bắc và Nghệ An. Đầu 1751, bắt được Nguyễn Hữu Cầu đưa ra Thăng Long, được thăng làm thượng thư Bộ Binh, tước Hải quận công. Sau làm trấn thủ Nghệ An. Ông mất tại trấn sở. Triều đình truy tặng tước Đại vương.

  • Thuở nhỏ Nguyễn Hữu Cầu và Phạm Ðình Trọng cùng học với nhau một trường. Trọng thường được thầy khen nhưng riêng Cầu thì vẫn không phục Trọng. Một hôm thầy đi đám, cho Cầu và Trọng cùng theo. Lúc về, nhà đám biếu thầy một cái thủ lợn, Cầu và Trọng tị nạnh nhau mãi không ai chịu xách. Thầy thấy vậy, ra một câu đối bảo hễ ai đối hay thì miễn xách.
Thầy đọc: Huề trư thủ (nghĩa là "Xách đầu lợn")
Trọng đối lại: Phan long lân (nghĩa là "Vin vẩy rồng")
Còn Cầu thì đối: Phá Tần diệt Sở
Thầy gõ vào đầu Nguyễn Hữu Cầu một giáo quạt, chê câu ấy chẳng đâu vào đâu cả, mà lại thừa chữ. Rồi thầy bắt Cầu phải xách thủ lợn. Nhưng Cầu vẫn gân cổ cãi: "Tôi đối sai thật, nhưng ý tôi là muốn bóc vẩy rồng kia, chứ không thèm vin vẩy rồng như thằng Trọng".
  • Một hôm khác, thầy lại ra một câu đối: Mười rằm trăng náu, mười sáu trăng treo
Trọng đối rằng: Tháng giêng rét dài, tháng hai rét lộc
Còn Cầu thì đối là: Tháng mười sấm rạp, tháng chạp sấm động
Thầy nghe xong bảo: "Thằng Trọng có khẩu khí làm quan to, còn thằng Cầu thì chỉ làm giặc!". Rồi sau đó, ông thầy sợ không nhận dạy Cầu nữa. Trước lúc ra về, Trọng bảo Cầu: "Tao sẽ cầm quân tiêu diệt mày!" Cầu đáp: "Nếu tao làm giặc thì tao sẽ đánh tan những đứa ra luồn vào cúi!"
  • Khi Cầu đã theo học ông thầy khác, một hôm nhà có việc phải mổ bò thết khách, nhân đó ra cho học trò câu đối rằng: Tề hoàng ngưu (nghĩa là "Giết bò vàng")
Cầu nhanh nhẩu đối ngay: Trảm bạch xà (nghĩa là "Chém rắn trắng")
Thầy lắc đầu bảo đối sai luật. Cầu đáp: "Tôi chỉ cốt lấy ý chứ không cần luật. Vả lại "giết bò vàng" đối với "chém rắn trắng" mà không đúng luật à?" Thầy khen: "Thế thì mày có chí lớn đấy! Cố lên con ạ!" Sau đó, Cầu bỏ văn theo học nghề võ. Khoảng năm 1731, Cầu tham gia phong trào nông dân khởi nghĩa do Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ lãnh đạo, được Cừ hết sức yêu mến và gả con gái cho.
  • Nguyễn Hữu Cầu là người xã Lôi Động, huyện Thanh Hà, Hải Dương, Việt Nam . Lúc bấy giờ là khoảng triều đại vua Lê Hiển Tông (1740- 1786). Ông là thủ lĩnh một cuộc khởi nghĩa nông dân Đàng Ngoài vào giữa thế kỷ 18 thường được mọi người ca ngợi là Hạng Võ nước Nam. Nguyễn Hữu Cầu xuất thân trong gia đình nông dân nghèo, nhưng lại có tài cả văn lẫn võ . Ông bơi lội rất giỏi nên được gọi là quận He, từ tên một loài cá ở biển Đông. Hữu Cầu vì nhà nghèo nên đi làm cướp, sau theo Nguyễn Cừ khởi nghĩa, được Cừ yêu quý gả con gái cho. Chẳng bao lâu ông nổi tiếng là một viên tướng giỏi võ nghệ, dũng cảm gan dạ và nhiều mưu lược làm cho triều đình ở Thăng Long kinh hoàng, lo lắng. Chúa Trịnh Doanh sai Hoàng Ngũ Phúc, Phạm Đình Trọng đánh. Phạm Đình Trọng là bạn học với Nguyễn Hữu Cầu nhưng hai người có thù với nhau. Khi ra trận, Trọng đưa vế đối:
Thổ triệt bán hoành, thuận giả thượng, nghịch giả hạ (Chữ “thổ 土” bỏ nửa nét ngang, để xuôi là chữ “thượng 上”, để ngược là chữ “hạ 下”) Ý Phạm Đình Trọng nói rằng: anh chỉ là đất, nếu hàng thì sẽ được thăng quan tước, mà chống lại thì sẽ bị hạ ngục.
Nguyễn Hữu Cầu đối: Ngọc tàng nhất điểm, xuất vi chúa, nhập vi vương (Chữ “ngọc 玉” có một dấu chấm, đưa ra thì thành chữ “chúa 主”, dấu đi thì thành chữ “vương 王”) Ý Nguyễn Hữu Cầu nói: tôi là ngọc chứ không phải là đất như anh, tôi chỉ hoặc làm chúa, hoặc làm vua thôi chứ đâu thèm làm quan.
Trọng dọa Cầu, thuận thì sống, nghịch thì chết. Cầu chẳng sợ, tỏ cái chí muốn làm vua làm chúa của mình. Năm 1751, Phạm Đình Trọng đem quân vào đánh phá trại. Hữu Cầu chạy đến làng Hoàng Mai thì bị bắt, đóng cũi đem về nộp chúa Trịnh. Trịnh Doanh , cùng lúc đó dẹp được Nguyễn Danh Phương, bắt mang về Kinh đô, đi đến làng Xuân Hy , huyện Kim Anh, gặp người của Phạm Đình Trọng giải Nguyễn Hữu Cầu đến. Trịnh Doanh bèn mở tiệc khao quân, bắt Danh Phương dâng rượu, Hữu Cầu thổi kèn. Hữu Cầu nuốt nhục hầu chúa, khi về kinh thành định vượt ngục nhưng không thành. Tháng 3 năm 1751, ông bị hành hình. Phạm Đình Trọng mang quân về quê ông, quật mộ bố Nguyễn Hữu Cầu, giết 3 họ gia quyến ông.

Trần Văn Trứ[sửa]

Trần văn Trứ người làng Từ Ô, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương là người nổi tiếng thanh liêm và nhân hậu. Ông đỗ Tiến sĩ, hay sáng tác thơ văn, có làm nhiều chức quan to ở trong triều, cuối cùng thấy chính sự trong triều quá đỗi mục nát, liền cáo lão về trí sĩ, ai nấy đều tiếc. Thời gian về nhà, ông biết viên tri huyện huyện mình (Thanh Miện) là kẻ rất hách dịch, hễ ai qua dinh mà không xuống ngựa, xuống cáng đều bị hắn đánh đòn. Một hôm, nhân đi chơi qua huyện, ông mượn một con bò cỡi đi, nghênh ngang không chịu xuống. Lính huyện lôi ông vào quan. Ông kêu là thầy đồ già đi dạy học ở tỉnh xa mới về nên không hay biết lệ này, vả lại lệ quan buộc phải xuống ngựa chứ không buộc xuống bò. Lão huyện thét lác một hồi, truy hỏi sách nọ, vặn sách kia để thử thách thầy đồ. Sau chừng như thấy ông đối đáp trôi chảy, ung dung, lại có tuổi tác, nên cũng có ý nể, lão huyện liền bảo ông: "Lý ra tội nhà thầy phải đánh đòn, nhưng ta nể cái bộ râu của thầy nên tha đòn cho. Vậy thầy phải đối câu đối ta ra để tạ ơn nghe!"

Rồi lão huyện ra vế đối rằng: Huyện quan Thanh Miện kiến vô lễ nhi dục công (Quan huyện Thanh Miện thấy kẻ vô lễ nên muốn đánh)
Ông nghè Từ Ô thấy nói "nể cái bộ râu" bèn cười khẩy và đọc: Tiến sĩ Từ Ô hạnh hữu tu nhi đắc thoát (Tiến sĩ Từ Ô may nhờ có râu mà thoát đòn)
Lão huyện nghe xong, biết ngay đó là tướng công họ Trần, sợ toát mồ hôi, vội sụp xuống lạy lục van xin rối rít. Ông nghiêm sắc mặt, chỉnh cho một hồi về đạo đức khiêm tốn, chăn dân ... rồi bỏ đi. Thế là cái lệ "hạ mã" hống hách, vô lý kia cũng bị hạ luôn từ đó.

Đoàn Lệnh Khương[sửa]

  • Câu đối cứu giúp người nghèo:

Bà Đoàn Lệnh Khương là con ông Đoàn Doãn Luận, cháu gái bà Đoàn Thị Điểm, quê ở Yên Tiên, huyện Yên Mỹ (Hưng Yên). Nghe tiếng bà Lệnh Khương rất hay chữ, một ông lão nhà nghèo ở trong làng nọ, không nơi nương tựa, đã xin gặp bà và trình bày với bà về hoàn cảnh và điều mong ước của mình: "Tình cảnh của tôi rất nghèo. Tôi muốn xin bà một đôi câu đối để đi kiếm ăn. Bất kỳ đám nào, việc hiếu, việc hỷ, tôi đều có thể dùng câu đối ấy để đến mừng hay đến viếng. Bà hãy làm ơn giúp tôi". Lời yêu cầu thật hóc búa, chưa từng có câu đối nào vừa mừng đám cưới lại có thể viếng cả đám ma. Thương tình cảnh ông lão nghèo khổ đã tin tưởng và ngỏ lời nhờ vả, bà Lệnh Khương vận dụng kiến thức văn học, kiến thức cuộc đời mà bà đã có được để giúp ông lão. Và điều ông lão nhờ bà đã được làm xong, câu đối ấy như sau:

Nhất đức tại thiên tuỳ sở phú
Thất tình ư ngã khởi vô tâm
Bà giải nghĩa cho ông lão: “Người ta ở đời gặp may hay rủi, vui hay buồn đều ở cái đức. Phàm lấy vợ, lấy chồng, buôn bán làm ăn… may rủi, lành dữ đều cũng do cái đức cả”. Đó là ý của vế đầu. Còn vế sau thì thế này:” Con người ta có bảy tình: mừng, giận, buồn, sợ, yêu, ghét, muốn (hỉ, nộ, ai, cụ, ái, ố, dục). Cho nên gặp việc vui thì ta vui; gặp việc buồn thì ta buồn, hỏi ai lại vô tâm cho được”.
  • Câu đối khóc chồng:

Ông Đoàn Doãn Luân đỗ đầu xứ Kinh Bắc, nối nghiệp cha xa chốn quan trường sống bằng nghề dạy học, chẳng may qua đời sớm khi mới 30 tuổi, để lại hai đứa con nhỏ được Đoàn Thị Điểm bảo bọc nuôi dạy khôn lớn. Đoàn Lệnh Khương thông minh hiếu học lại được cô chỉ dạy chu đáo nên sớm bộc lộ tài năng văn chương ứng đối. Nghe tiếng Đoàn Lệnh Khương, có một cung phi muốn tiến cử cô gái họ Đoàn vào cung làm vợ hoàng tử Duy Kỳ (tức vua Lê Cảnh Hưng sau này), nhưng cô một mực từ chối, chỉ muốn nối gót tổ phụ làm nghề dạy học. Chẳng những từ chối việc tiến cung mà Đoàn Lệnh Khương còn từ chối nhiều mối mai với các đấng mày râu khác. Tuy nhiên cuối cùng, gần giống như số phận của người cô ruột Đoàn Thị Điểm, năm 31 tuổi Đoàn Lệnh Khương đã chấp nhận mối tình với nho quan Nguyễn Xuân Huy. Về làm vợ kế cho viên Đốc đồng trấn Sơn Nam chưa tròn bảy năm thì chồng bị bạo bệnh qua đời, khi trước đó vài ngày người con riêng của ông Nguyễn Xuân Huy cũng bệnh mất. Đoàn Lệnh Khương đau xót khôn nguôi và đã viết đôi câu đối khóc phu quân:

Tuyền hạ thừa hoan, ưng tri quân hữu tử (Dưới suối vàng vui vầy, biết chàng có con)
Mộng trung đối thoại, thùy vị thiếp vô phu (Trong giấc mộng chuyện trò, ai bảo thiếp không chồng)
Sau đó, Đoàn Lệnh Khương về Thăng Long nối gót người cô Đoàn Thị Điểm mở trường dạy học ngay tại làng mà ngày xưa ông bà nội của cô đã sống với nhau ở phường Hà Khẩu, nằm trong khu vực phố Hàng Buồm ngày nay. Nghe tiếng Đoàn Lệnh Khương, học trò từ các nơi về học rất đông, nhiều người đỗ đạt. Đương thời, bà được nhân dân kinh thành Thăng Long yêu mến, trân trọng gọi là Nữ học sư.

Lê Quý Đôn[sửa]

Thuở thiếu thời[sửa]

tượng Lê Quý Đôn tại trường THPT Lê Quý Đôn - Thành phố Hồ Chí Minh
  • Lê Quý Đôn thuở nhỏ tên là Lê Danh Phương, quê ở làng Diên Hà, huyện Diên Hà, trấn Sơn Nam Hạ (nay là thôn Phú Hiếu, xã Độc Lập, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình). Lê Quý Đôn là con trai của tiến sĩ Lê Phú Thứ (có tài liệu gọi là Lê Trọng Thứ); nổi tiếng thông minh từ nhỏ, có trí nhớ tuyệt vời, làm quan thời Lê - Trịnh; là người có nhiều thành tựu nghiên cứu xuất sắc trên các lĩnh vực: triết học, sử học, văn hóa, văn học…Một lần, Lê Danh Phương cùng các bạn thiếu niên thường ra cái ao rộng trước cổng làng để tắm. Một hôm, giữa buổi trưa hè, cậu bé Lê Danh Phương cùng các bạn chơi trò “nhảy trội”. Bỗng có một vị quan lớn đi qua; có ý hỏi đường đến thăm nhà quan Thượng Thư Lê Phú Thứ. Cậu bé Lê Danh Phương chẳng những không chỉ đường, lại còn thản nhiên đứng dạng hai chân, dang hai tay ra để cản đường (mặc đầu lúc này cậu đang trần truồng). Rồi cậu nói: “Đố ông biết chữ gì đây? Nếu biết, cháu sẽ đưa ông về nhà, còn nếu không thì đợi đấy!” Vị quan lớn rất khó chịu và không muốn trả lời… Lê Danh Phương liền giải thích: “Chữ Thái (太), thế mà cũng không biết!”… Cuối cùng, vị quan lớn cũng tìm đến được nhà bạn. Ông rất ngạc nhiên khi thấy cậu bé trần truồng hồi nãy, bây giờ lại đang ngồi im trên cái ghế đẩu ở trong vườn nhà quan Thượng. Khi nghe vị quan bạn thuật lại chuyện với một thái độ vừa bực dọc, vừa kinh ngạc, quan Thượng thư Lê Phú Thứ cảm thấy rất ngượng ngùng, xấu hổ với bạn; lập tức gọi Lê Danh Phương vào nhà để mắng, rồi ra điều kiện: cậu phải làm ngay một bài thơ với đầu đề "Rắn đầu biếng học" để xin lỗi cha và bác bạn của cha; nếu không làm được thì sẽ bị đánh đòn thật đau, thật nhiều. Chỉ một lát sau, Lê Danh Phương đã viết xong bài thơ và thoát được đòn roi của cha.
Nội dung bài thơ như sau: Chẳng phải Liu Điu vẫn giống nhà, Rắn đầu biếng học lẽ không tha, thẹn đèn Hổ Lửa đau lòng mẹ, nay thét Mai Gầm rát cổ cha, Ráo mép chỉ quen lời lếu láo, Lằn lưng chẳng khỏi vệt năm ba, từ nay Trâu Lỗ xin siêng học, kẻo Hổ Mang danh tiếng thế gia (Để thể hiện lời tự thú, tự trách, tự hứa của bản thân trước người cha và người bạn của cha mình, ngoài việc sử dụng thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật nghiêm trang, ngắn gọn, chặt chẽ; ngoài việc sử dụng những yếu tố ngôn từ trong một số câu tục ngữ và đơn vị thành ngữ tiếng Việt rất tế nhị; ngoài việc sử dụng kết hợp từ thuần Nôm với một vài từ Hán - Việt và điển cố văn học khá hợp lý, Lê Danh Phương còn chú ý sử dụng nhiều danh từ tiếng Việt chỉ một số loài bò sát, nhất là một số loài rắn độc. Từ rắn là một danh từ chỉ động vật thuộc loài bò sát, thân dài có vảy, không chân, di chuyển bằng cách uốn thân. Trong bài thơ Rắn đầu biếng học của Lê Danh Phương, từ rắn đầu là danh từ đã được chuyển hóa thành tính từ để chỉ từ rắn trong rắn mặt - một khẩu ngữ; nói về hạng trẻ con không chịu nghe theo những lời dạy dỗ của cha mẹ, bất chấp cả sự răn đe của người trên và trở nên rất bướng bỉnh, khó bảo. Tương tự, từ liu điu là một danh từ chỉ loài rắn nhỏ, có nọc độc ở hàm trên, đẻ con, sống ở ao hồ, ăn ếch nhái đã được tác giả sử dụng trong câu phá đề theo biện pháp tu từ ẩn dụ để chỉ hạng người không được học hành, bình thường. Từ hổ lửa là một danh từ chỉ loài rắn độc có khoang, màu đỏ như màu lửa được tác giả dùng trong câu thực thứ nhất theo phép chuyển nghĩa thành tính từ thể hiện một phản ứng tâm lý hổ thẹn của con người; ở đây là người mẹ. Từ mai gầm là danh từ chỉ chung loài rắn độc còn có tên là cạp nong, cạp nia. Rắn cạp nong thân có nhiều khoang đen - vàng xen kẽ. Rắn cạp nia thân có nhiều khoang đen - trắng xen kẽ, cỡ nhỏ hơn cạp nong. Từ mai gầm là danh từ được tác giả sử dụng trong câu thực thứ hai theo phép chuyển nghĩa thành động từ thể hiện thái độ giận dữ, bực tức của con người; ở đây là người cha. Từ ráo trong rắn ráo là danh từ chỉ loài rắn lành, cỡ trung bình, lưng màu nâu, bụng màu vàng, ăn ếch nhái được tác giả sử dụng trong câu luận thứ nhất theo phép chuyển nghĩa thành động từ ráo mép chỉ thói quen nói dối rất xấu của người con trước cha mẹ. Từ lằn trong thằn lằn là danh từ chỉ loài động vật thuộc nhóm bò sát, thân và đuôi dài phủ vảy, bốn chi khỏe, sống ở bờ bụi, ăn sâu bọ được tác giả dùng trong câu luận thứ hai theo phép chuyển nghĩa thành tính từ để chỉ hậu quả ở việc xử phạt của người cha đối với con mình về chuyện biếng học. Từ trâu là danh từ chỉ rắn hổ trâu - một loài rắn hổ mang rất lớn, rất khoẻ, rất độc, da màu đen được tác giả dùng trong câu kết thứ nhất theo phép chuyển nghĩa thành địa danh chỉ ấp Trâu; quê hương Mạnh Tử (Trung Quốc). Tương tự, từ lỗ là danh từ liên quan đến nơi ở của rắn, được tác giả dùng trong câu kết thứ nhất cũng theo phép chuyển nghĩa thành địa danh chỉ nước Lỗ; quê hương Khổng Tử (Trung Quốc). Từ hổ mang là danh từ chỉ loài rắn độc có tập tính ngẩng đầu, bạnh mang để đe dọa kẻ địch được tác giả dùng trong câu kết thứ hai theo phép chuyển nghĩa thành tính từ chỉ một trạng thái tâm lý của con người (xấu hổ mang danh). Bên cạnh việc dùng hai từ địa danh (Trâu, Lỗ) chỉ quê hương của Mạnh Tử, Khổng Tử; tượng trưng cho Nho học, khi viết bài thơ Rắn đầu biếng học, Lê Danh Phương còn lựa chọn những từ trong một số câu tục ngữ Việt và trong một số đơn vị thành ngữ tiếng Việt để đặt vào những vị trí cần thiết ở đầu đề và cả trong tám câu thơ của bài thơ: từ Rắn đầu trong đầu đề và trong câu thừa đề có trong thành ngữ "Rắn đầu rắn mặt"; từ liu điu trong câu phá đề có ở tục ngữ: "Trứng rồng lại nở ra rồng, liu điu lại nở ra dòng liu điu"; từ giống trong câu phá đề có trong thành ngữ "Giống nào ra giống ấy"; từ đau lòng trong câu thực thứ nhất có trong thành ngữ "Đau lòng xót ruột"; cụm từ nay thét mai gầm trong câu thực thứ hai xuất phát từ thành ngữ "Nay thét mai gào"; từ ráo mép trong câu luận thứ nhất có trong thành ngữ "Ráo mồm ráo mép"; cụm từ năm ba trong câu luận thứ hai bắt nguồn từ câu tục ngữ "Năm bà ba chuyện"; cụm từ siêng học trong câu kết thứ nhất bắt nguồn từ câu tục ngữ "Siêng làm thì có, siêng học thì hay"; cụm từ hổ mang danh trong câu kết thứ hai có trong thành ngữ "Xấu hổ mang danh"; và từ thế gia trong câu kết thứ hai có trong thành ngữ "Thế gia vọng tộc". Nhờ phối hợp sử dụng ngôn từ và thể loại hết sức nhuần nhuyễn, tinh tế, Lê Danh Phương qua bài thơ Rắn đầu biếng học đã nói lên đầy đủ những khía cạnh trong nội dung lời tự thú, tự trách, tự hứa của mình: tuy bản thân vốn sinh ra từ một gia đình có học, nhưng cậu lại ương bướng, ngang ngạnh, khó dạy bảo, không chăm lo học hành; và tự nhận thấy với những lỗi ấy chắc chắn cậu sẽ bị cha xử phạt nặng. Những lỗi của cậu đã làm cho mẹ rất đau lòng, xót ruột mỗi khi thắp đèn cho cậu học, mỗi lần nhóm lửa nấu cơm cho cậu ăn. Những lỗi của cậu không chỉ gợi niềm đau xót, hổ thẹn âm thầm, thường xuyên ở mẹ, mà còn dẫn đến thái độ bực tức, lo lắng, giận dữ ở cha. Dù mẹ có buồn, dù cha có giận và thậm chí nhiều lần đã bị cha xử phạt nghiêm khắc, nhưng cậu vẫn “lếu láo”; nghĩa là vẫn học bài một cách qua loa, đại khái, cốt cho có, cho xong. Mãi đến lúc này, trước một lỗi rất nặng (vừa biếng học, vừa vô lễ), cậu mới thực sự biết nhận lỗi và biết hứa từ nay chăm chỉ học hành để xứng đáng con nhà quyền thế, để xứng danh với truyền thống học phong của gia đình. Cả quan Thượng và vị khách chẳng những hết giận, mà còn tỏ ra rất thán phục về tài làm thơ của cậu bé)
vế đối: Những muốn Tự Do cho mới nhà, Thơ câu dại ý cóc mò tha, sách lề Đường Luật còng lưng mẹ, thầy thưởng Trường Ca mát bụng cha, Song Thất sao quên câu tuấn kiệt, Tứ Ngôn chăng nhớ bậc tài ba, vững lòng Lục Bát mà vui đạo, kim Cổ Phong lưu thi Việt gia (Trường Văn Nguyễn Phước Thắng) (Tự Do, Đường Luật, Trường Ca, Song Thất, Tứ Ngôn, Lục Bát, Cổ Phong là các thể loại thơ. Trong bài thơ này,Cóc dùng với nghĩa là con cóc, ý nói thơ dở, thơ con cóc; Song Thất cũng có thể hiểu là cửa sổ (song) trong nhà (thất); Tứ Ngôn có thể hiểu là ý tứ (tứ) cao lớn (ngôn, vì theo từ điển Hán Việt Đào Duy Anh, "ngôn" còn có nghĩa là cao lớn); Lục Bát cũng có thể hiểu là sông Lục, núi Bát thuộc tỉnh Bắc Ninh (bao gồm Bắc Ninh và Bắc Giang ngày nay) quê hương những làn Quan họ, một cái nôi của thơ ca Việt Nam. Ngoài ra, Lục Bát cũng có nghĩa là "lục tìm chén bát" để ăn cơm, "có thực mới vực được đạo")
  • Một hôm, một vị quan bên Liêu Xá đến thăm ông Lê Trọng Thứ. Vị quan có nghe tiếng cậu bé con quan Thượng Lê rất hay chữ, muốn trực tiếp thử tài. Nể tình, ông Lê Trọng Thứ cho gọi Lê Quý Đôn tới.
Ông khách nói: "Ta nghe cháu còn bé mà đã hay chữ, nhà cháu gần ngã ba sông, vậy ta ra vế đối là: Tam xuyên (三川)!"
Vế đối giản dị mà hóc búa, chữ tam (三) có ba nét sổ ngang nhưng dựng lên, thành ba nét sổ đứng và là chữ xuyên(川). "Tam xuyên" (三川) lại có nghĩa "ba con sông". Lê Quý Đôn chưa đáp ngay mà cứ trân trân nhìn ông khách có mang cặp kính. Ông khách rất vui vì tìm được vế đối rất hiểm, liền hỏi: "Sao, có đối được không, cháu bé?"
Lê Quý Đôn lễ phép thưa: "Dạ, cháu xin đối là: Tứ mục (四目)!".
"Tứ mục" (四目) có nghĩa "bốn con mắt". Chữ đối lại thật chuẩn, chữ "tứ" (四) viết quay dọc lại, cũng là chữ "mục" (目).

Khi vừa thành danh[sửa]

  • Sinh thời Lê Quý Đôn nổi tiếng là người thông thái, đọc và hiểu không biết bao nhiêu sách vở thời bấy giờ. Ông thi đỗ Khôi nguyên. Lẽ thường, tuổi trẻ thông minh đĩnh ngộ, đỗ đạt sớm thường hay mắc tính kiêu ngạo. Thời trẻ, Lê Quý Đôn cũng không tránh khỏi điều ấy. Chuyện kể, sau khi thi đỗ, ông liền cho treo ngay trước ngõ tấm biển với hàng chữ: "Thiên hạ nghi nhất tự lai vấn" (Nghĩa là: Ai không hiểu chữ gì thì hãy đến mà hỏi). Lần thân phụ ông qua đời, người đến viếng rất đông. Trong số đó có một cụ già mà Lê Quý Đôn không quen. Cụ tự giới thiệu lai lịch: Cháu còn nhỏ, chứ lão là bạn thân với cha cháu từ xưa. Nhưng vì nhà nghèo, đường xa, lại tuổi già sức yếu nên ít đi lại thăm hỏi nhau. Nay nghe tin cha cháu mất, lão đến để có câu đối viếng. Lão run tay, cháu hãy lấy giấy bút, lão đọc, nhờ cháu viết hộ. Lê Quý Đôn lấy giấy bút. Cụ bèn đọc: "chi". Ông Đôn không biết nên viết chữ "chi" nào bởi trong tiếng Hán có nhiều chữ "chi" viết khác nhau. Ông đành cầm bút chờ cụ già đọc tiếp xem sao, cụ lại đọc "chi". Lê Quý Đôn thấy lạ, liền hỏi: "Bẩm, "chi" nào ạ?" Cụ thở than rằng: "Đến chữ "chi" cũng không biết viết, thế mà treo bảng ngoài ngõ để cho người đến hỏi, thì sao trả lời được kia chứ?" Lê Quý Đôn ngượng chín cả người. Bây giờ cụ già mới đọc luôn hai vế đối:
Chi chi tam thập niên dư, xích huyện hồng châu kiên thượng tại Cách hơn ba chục năm, xích huyện hồng châu nay vẫn đó)
Tại tại số thiên lý ngoại, đào hoa lưu thủy tử hà chỉ (Xa ngoài mấy ngàn dặm, đào hoa lưu thủy bác về đâu)
Thấy câu đối hay và lạ, Lê Quý Đôn và cả các nho sĩ đến viếng đều kinh ngạc. Còn ông già thì phủ phục trước linh cữu mà khóc rằng: "Ới anh ơi, anh bỏ đi đâu để con anh đỗ đến Bảng Nhãn mà chưa biết chữ "chi" anh ơi". Lạy xong, cụ già chống gậy ra về. Lê Quý Đôn mời mãi nhưng cụ không chịu nán lại, bởi thế nên sau này không ai biết ông cụ hay chữ đó tên là gì. Có thuyết khác nói giai thoại này là do cụ già viết cho Cao Bá Quát.
  • Tuy bị cụ già làm cho bẽ mặt nhưng Lê Quý Đôn vẫn chưa bỏ được tính kiêu ngạo, sau đó ông đến cầu siêu cho cha ở ngôi chùa làng. Nhà sư trụ trì thấy ông thì mừng rỡ mà rằng: "Quan Bảng vừa tới, may mắn sao. Bần tăng có điều muốn nhờ quan chỉ giáo, chả là đứa tiểu đồng của bần tăng nghe người nào đó đó, về hỏi, nhưng bần tăng nghĩ không ra, nên đành theo lời quan bảng dạy "Nghi nhất tự lai vấn". Câu đối thế này, xin quan chỉ cho:
Hạ bất khả hạ, thượng bất khả thượng (dưới không thể dưới, trên không thể trên)
Chỉ nghi tại hạ, bất khả tại thượng (đúng nên ở dưới, không thể ở trên)
Lê Quý Đôn nghĩ mãi không ra, đúng lúc ấy chú tiểu chạy từ ngoài vào thưa với sư phụ là cậu đã giải được. Lê Quý Đôn giục chú tiểu nói thử xem, thì mới hay đó là chữ "nhất" (một). Đúng là trong chữ "hạ" (dưới), thì chữ "nhất" ở trên chứ không thể viết dưới. Trong chữ "thượng" thì chữ "nhất" nằm dưới và chữ "bất", chữ "khả" thì chữ "nhất" lại ngồi trên. Lê Quý Đôn biết nhà sư đã lấy ngay chữ "Nhất tự lai vấn" ông treo trước ngõ để nhạo.
  • Qua hai lần gặp cao nhân, Lê Quý Đôn đã bớt kiêu ngạo hơn nhưng cái tính tự mãn chưa thể sửa ngay được trong một sớm một chiều, ông hạ chữ "nghi nhất tự lai vấn" xuống nhưng lại viết mấy chữ: “Thiên hạ vô tri vấn Bảng Đôn” vào cái bảng, hễ đi đâu thì cho thằng đầy tớ đi trước cầm. Một hôm qua đò, ông lái đò nhìn thấy dòng chữ trên rất khó chịu liền nói: "Tôi ra câu đối ông đối được thì để bảng này cầm đi, nếu không đối được thì đập cái bảng đi!" Lê Quý Đôn đồng ý, thời gian đối là thời gian đò qua sông. Lê Quý Đôn bảo: "Ông xuất đối đi". Ông lái đò nhìn vào khoang thuyền, trên bếp đang nấu thịt con hôn trong nồi ba ông đọc luôn:
Con Ba Ba nấu nồi ba, tam tam chi cửu thật là chín chưng
Lê Quý Đôn nghĩ nát óc cho đến khi đò sang sông mà vẫn không đối được, ông lái đò đập cái bảng ấy đi, từ đó cái tật coi thường người khác của ông mất hẳn vì ông hiểu rằng "mình hay nhưng có người hay nữa". Câu một có lẽ chúng ta đã rõ ông lái đò chơi chữ “Ba ba” với hai nghĩa (số 3 và con Ba Ba) Câu hai chia thành hai phần: “Tam tam chi cửu (chơi tiếng Hán hoàn toàn có nghĩa là : ba lần ba là chín, và cửu vừa là số 9 vừa là tính từ “chín”); “thật là chín chưng” nghĩa tiếng Việt hoàn toàn như “chín ngấu, chín mùi, chín rục...
  1. Gần đây có người là Diên Minh đối như sau: Chim Đa Đa đậu nhánh đa, vô vàn trú thất khéo mà lạc nhau (Vế một dùng “Đa đa” với hai nghĩa (chim Đa Đa và nhiều), đạt tiêu chuẩn của vế xướng. Vế hai với phần một: “Vô vàn/trú thất”với từ Việt là “vô vàn”, từ Hán là “trú thất” (Thất : động, lều, chỗ trú đơn giản - còn có nghĩa là mất, thất lạc); phần hai thuần Việt “khéo mà lạc nhau”. Vô vàn:(无穷多: nhiều nhiều, đọc trại ra cho dễ nghe của nguyên từ “vô vạn” là từ Hán. Do đó, câu đối của Diên Minh có thể nói là đạt yêu cầu được 90% (vế một 50% + vế hai 40%)
  2. vế đối khác 1: Chim cô cô đáp nhà cô, đơn đơn như nhất líu lô một mình (Trường Văn Nguyễn Phước Thắng) (Theo Wikipedia, chim cô cô có 2 loại: Cô cô đầu xám (Cochoa Purpurea ) và Cô cô xanh (Cochoa viridis). Cô cô đầu xám được tìm thấy ở Bangladesh, Bhutan, Trung Quốc, Ấn Độ, Lào, Myanmar, Nepal, Thái Lan, và Việt Nam. Chim Cô cô đầu xám là một loài chim màu sắc rực rỡ, thích sống yên tĩnh, nó thường hay đứng bất động một mình trong các tán cây. Chữ cô được dùng trong từ "nhà cô" có thể hiểu theo nghĩa danh từ (như cô giáo, cô gái, cô cậu...) hoặc theo nghĩa tính từ (cô thân độc mã, cô quạnh...). Theo Từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh, chữ "cô" còn có nghĩa là một mình, chữ đơn cũng còn có nghĩa là một mình. Đơn đơn như nhất dùng ý nghĩa 1x1=1 để đối với 3x3=9 của vế ra. Có thể thay cụm từ "Đơn đơn như nhất" bỡi "Nhất nhất như nhất" mà vế đối không thay đổi ý nghĩa. Vế đối tả một con chim cô cô đậu một mình trên một ngôi nhà cô độc (hoặc ngôi nhà của cô giáo "hay cô gái, bà cô" chỉ ở một mình)
  3. vế đối khác 2: Biển mười mười cấp anh mười, thập thập đẳng bách sướng cười trăm vui (Thiền Long) ("Con ba ba" là danh từ chung chỉ con vật thuộc loài ba ba. "Nồi ba" cũng là danh từ chung; Phần đầu vế đối: "Biển mười mười" là danh từ chung chỉ biển số đăng ký cho các xe có số thứ tự 1010. Trên thực tế Biển số 1010 được gọi theo các cách: "một không một không" hoặc "mười mười" hoặc "một nghìn không trăm mười"; "Anh mười" chỉ chung người anh thứ 10; Phần hai vế đối (số hán việt) : thập = 10; bách = 100; thập thập đẳng bách: 10X10=100, phần thuần việt "sướng cười trăm vui" : diễn tả trạng thái đạt niềm vui lớn "trăm vui" vì biển số đẹp, chữ "trăm" lặp lại nghĩa chữ "bách" đối chữ "chín" lặp lại nghĩa chữ "cửu")
  4. vế đối khác 3: Đường hai hai qua nước hai, nhị nhị thành tứ đúng bài tư duy (Hoài Anh Võ Quang Thạch) (Đường 22 là quốc lộ Xuyên Á từ Tây Ninh qua Cam pu chia là nước thứ hai sau Việt Nam)
có thuyết khác lại nói vế ra này liên quan đến Trạng Trình Ngyễn Bỉnh Khiêm. Chuyện kể rằng: Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm khi lên núi Tản Viên gặp ba cô gái rất xinh đẹp mỗi cô cầm một con ba ba và một cái né ba bằng đồng liền buông lời trêu ghẹo. Mấy cô gái nói "thấy ngài giỏi chữ nghĩa như thế, vậy nhờ ngài đối hộ vế đối này nhé". Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm tỏ ý coi thường nói rằng "có câu đối nào mà ta bó tay đâu, các nàng ra câu đối đi". Các cô gái liền nói "Ba ba mà nấu nồi ba. Tam tam chi cửu thật là chín chưng". Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm chịu không đối nổi nhìn theo bóng các thôn nữ xinh đẹp xa dần về nhà đổ bệnh mà chết.

Xướng họa với sứ thần Triều Tiên[sửa]

Năm 1760 Lê Quý Đôn cùng Trần Huy Mật, và Trịnh Xuân Thụ sang Thanh tuế cống, cũng trong giai đoạn này, ở Triều Tiên dưới triều vua Yi Yong Chô (Lý Anh Tổ: 1721 - 1776) trị vì, có sai đoàn sứ bộ sang Thanh tuế cống do Hông Kyê Hi (Hồng Khải Hy) làm Chánh sứ, Chô Yơng Chin (Triệu Vinh Tiến), Yi Hui Chung (Lý Huy Trung làm Phó sứ. Hiện chưa rõ đoàn sứ bộ này lên đường vào năm nào, nhưng mùa đông năm 1760 cũng đã có mặt tại Yên Kinh. Tại đó, hai đoàn sứ bộ Việt, Triều gặp gỡ nhau trong một hoàn cảnh cùng đi lễ hết năm ở Hồng Lô tự. Họ cư xử đối đãi nhau rất chân tình: trải chiếu ở cửa chùa mời ngồi, cùng dùng bút để đàm thoại... Các sứ thần Triều Tiên bèn đưa tặng cho đoàn sứ của Lê Quý Đôn một chiếc quạt giấy hoa tiên và các thổ vật địa phương, nhân đó Lê Quý Đôn viết tặng bài thơ, và cũng đưa ra hai bộ sách Quần thư khảo biện, Thánh mô hiền phạm lục mời họ xem và đề tựa. Trong thời gian lưu lại ở Yên Kinh, hai đoàn còn có một số cuộc gặp gỡ trao đổi thư từ, thơ phú... Theo Kiến văn tiểu lục thì hai đoàn sứ bộ Việt, Triều còn có cuộc dạo chơi trên sông Tiêu Tương và cùng nhau vịnh cảnh sông Tiêu, số thơ vịnh tới hàng trăm bài, rồi đặt tên cho tập thơ là Tiêu Tương bách vịnh (Một trăm bài vịnh trên sông Tiêu Tương). Như vậy, trong thời gian ở lại Yên Kinh, Lê Quý Đôn và các sứ thần Triều Tiên đã để lại khá nhiều tác phẩm viết về mối tình giao hảo giữa họ với nhau...

Riêng mảng thơ văn xướng họa giữa Lê Quý Đôn với các sứ thần Triều Tiên, trước đây đã được nhiều nhà nghiên cứu sưu tầm, tìm hiểu và đánh giá, như: nhà sử học Trần Văn Giáp viết trong Người Việt Nam ở Triều Tiên và mối giao lưu văn hóa Việt - Triều trong lịch sử (Hội Khoa học lịch sử Việt Nam – 1997); N.NICULIN trong Tạp chí Văn học (Số 2/1987); Bùi Duy Tân trong Tương đồng văn hóa Việt Nam - Hàn Quốc (Nxb Văn hóa - 1996); và Lê Quý Đôn toàn tập. Tình hữu nghị ấy còn thể hiện qua việc đọc và nhận xét tác phẩm cho nhau. Lê Quý Đôn đã trao hai bộ sách Quần thư khảo biện và Thánh mô hiền phạm lục của mình để bạn đọc và đề tựa. Có lẽ cũng chính vì vậy mà Hồng Khải Hy phải thốt lên lời ngợi khen Lê Quý Đôn: ở Nam Ký, lời thơ đẹp như hoa, ông đứng bậc nhất...Đặc biệt là những nét tương đồng giữa 2 quốc gia được thể hiện phần nào qua 4 bài thơ: hai nước đều theo học thuật Khổng Mạnh, đào tạo nhân tài qua việc rèn giũa học tập, thi tuyển Tiến sĩ, lấy đỗ Trạng nguyên... Ngay trong đoàn sứ bộ Triều Tiên lần này cũng có tới hai Trạng nguyên là Hồng Khải Hy và Triệu Vinh Tiến. Dưới đây là nội dung của 4 bài thơ xướng họa giữa Lê Quý Đôn với các sứ thần Triều Tiên tại Yên Kinh. Dưới đây là nội dung 4 bài thơ ấy:

Bài số I:

送 朝 鮮 國 史

異 邦 合 志 亦 同 方

學 術 本 從 先 素 王

完 福 共 欣 歌 五 善

逸 才 偏 愧 乏 三 長

側 釐 白 錘 交 投 贈

端 委 洪 疇 覓 表 章

信 筆 書 黃 終歉 歉

粲花 清 論 過 揄 揚

(黎 貴 惇)

Phiên âm:

Tống Triều Tiên Quốc sứ

Dị bang hợp chí diệc đồng phương;

Học thuật bản tòng Tiên Tố Vương.

Hoàn phúc cộng hân ca ngũ thiện;

Dật tài thiên quý phạp tam trường.

Trắc ly, Bạch trụy giao đầu tặng;

Đoan ủy, Hồng trù mịch biểu chương.

Tín bút thư hoàng chung khiểm khiểm;

Xán hoa thanh luận quá du dương.

[Lê Quý Đôn]

Dịch nghĩa:

Tiễn sứ thần nước Triều Tiên

Khác bang nhưng hợp chí, cũng cùng một hướng;

Học thuật vốn cùng theo Tiên Tố Vương.

Cùng vui với cái phúc được trọn vẹn, ca lên bài ca ngũ thiện;

Riêng thẹn cho mình đem khoe tài năng mà lại không đủ tam trường.

Giấy Trắc ly và giấy Bạch trụy trao tặng lẫn nhau;

Phép Đoan ủy và phép Hồng trù tìm thấy ở biểu chương.

Thả sức viết văn sửa chữ, thật uyển chuyển,

Miệng tươi như hoa luận bàn, rõ ràng lại quá đề cao.

Bài số II.

偉 才 端 的 讓 東 方

義 理 淵 源 貫 百 王

尚 友 四 旬 梅 信 重

相 思 二 月 柳 條 長

猥 因 文 字 成 佳好

還 借 兼 從 寄 短 章

欲 寫 風 情 嫌 莫 肖

丹 臺 段 段 想 清 揚

Phiên âm:

Vĩ tài đoan đích nhượng Đông phương

Nghĩa lý uyên nguyên quán bách vương.

Thượng hữu tứ tuần mai tín trọng;

Tương tư nhị nguyệt liễu điều trường.

ổi nhân văn tự thành giai hảo;

Hoàn tá kiêm tòng ký đoản chương.

Dục tả phong tình hiềm mạc tiếu,

Đan đài đoạn đoạn tưởng thanh dương.

Dịch nghĩa:

[Bác là] bậc tài năng lớn, quả nhiên phương Đông phải nhường,

[Hiểu] nghĩa lý đến ngọn nguồn, biết rõ hàng trăm bậc quân vương.

Yêu bạn, cả bốn tuần đều coi trọng tin mai,

Nhớ nhau, mới hai tháng thấy dài như tơ liễu.

Nhân có việc chữ nghĩa, văn chương mà trở thành bạn tốt,

Lại mượn chuyện được sai đi sứ mà gửi gắm chút văn chương.

Muốn viết cho ý vị, nhưng hiềm vì chưa đủ tài,

Tại Đài son từng đoạn, từng đoạn, nghĩ đã rõ ràng.

Bài số III:

朝 鮮 國 使 鴻 啟 禧 和 诗

高碁傳譜藥 傳方

小帙編摩證百王

南記詞華之子最

神州心眼此行長

雲烟吳楚移舟夜

雨雪幽燕伐木章

奇遇只應通紵縞

拙文那得重班揚

Phiên âm:

Triều Tiên quốc sử Hồng Khải Hy Họa thi

Cao kỳ truyền phổ dược truyền phương,

Tiểu trật biên ma chứng bách vương.

Nam Ký từ hoa chi tử tối;

Thần Châu tâm nhãn thử hành trường.

Vân yên Ngô, Sở di chu dạ;

Vũ tuyết U Yên phạt mộc chương.

Kỳ ngộ chỉ ưng thông trữ cảo,

Chuyết văn na đắc trọng ban dương?

Dịch nghĩa:

Bài họa của sứ nước Triều Tiên Hồng Khải Hy

Nước cờ cao được truyền trong sách vở, như truyền phương thuốc,

Quyển trật nhỏ được bách vương dùng biên chép chứng cứ.

Ở Nam Ký, lời thơ đẹp như hoa, ông đứng bậc nhất;

Chốn Thần Châu, khóe mắt, tấm lòng ấy cứ dặc dài.

Khói mây âm u ở Ngô, Sở, nhớ cuộc cùng nhau đi thuyền ban đêm;

Mưa tuyết trắng xóa ở U Yên được tình bạn bè sưởi ấm

Cuộc kỳ ngộ này nên hợp lại thành sợi tơ, dây gai,

Văn chương vụng về sao đáng được biểu dương, coi trọng ?

Bài số IV:

李 徽 中 和 詩

浮木差 渺 渺自何 方

南 指 星 辰 別 友 王

煙 濕 五 湖 衣 帶 緩

芝 倉 三 島 髮 眉 長

倉 茫 膜 外 山 河 遠

絡 續 花 前 錦 繡 章

歸 橐 盎 然 皆 越 字

春 風 燕 薊 馬 蹄 揚

Phiên âm:

Lý Huy Trung họa thi

Phù sà diểu diểu tự hà phương,

Nam chỉ tinh thần biệt hữu vương.

Yên thấp Ngũ Hồ y đái hoãn;

Chi thương Tam Đảo phát my trường.

Thương mang mạc ngoại sơn hà viễn;

Lạc tục hoa tiền cẩm tú chương.

Qui thác áng nhiên giai Việt tự,

Xuân phong Yên kế mã đề dương.

Dịch nghĩa:

Bài họa của Lý Huy Trung

Bè sứ nổi trôi xa tít, từ phương nào đến ?

Trỏ vào chòm sao phương Nam, từ biệt quân vương [mà đến đây].

Ở Ngũ Hồ khói mây ẩm thấp, áo đai nới lỏng;

Tại Tam Đảo cỏ linh chi xanh thẫm, tóc mi mọc dài.

Nơi mạc ngoại mênh mang, non sông xa hút;

Hoa phía trước tiếp nối nhau rực rỡ như gấm thêu.

Chứa đầy túi đưa về đều là chữ Việt;

Gió xuân thổi tới Yên Kế cũng là lúc ngựa cất vó.

Trịnh Sâm và Nguyễn Khản[sửa]

Nguyễn Khản là anh Nguyễn Du và là con trai đầu của Xuân quận công Nguyễn Nghiễm; quê ở xã Tiên Ðiền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà tĩnh. Lúc trẻ, Khản học rất thông minh, 14 tuổi đã đậu tam trường, 20 tuổi đậu hương cống, 24 tuổi được tuyển vào làm tả tư giảng cho con chúa Trịnh Sâm, 27 tuổi đậu Tiến sĩ. Sau khi đỗ đạt, Khản làm quan ở triều, được Trịnh Sâm hết sức yêu mến, xem như người bạn thân thiết. Chúa Trịnh Sâm là con trưởng của Minh Đô Vương Trịnh Doanh, mẹ là bà Chính phi Nguyễn Thị Ngọc Diễm. Năm Ất Sửu (1745), ông được lập làm Thế tử. Trịnh Doanh tỏ ra cẩn trọng việc nuôi dạy con, bổ dụng 2 tiến sĩ là Dương Công Chú và Nguyễn Hoàn làm tư giảng cho Trịnh Sâm. Tháng 10 năm Mậu Dần (1758), Trịnh Doanh phong cho ông làm Tiết chế thuỷ bộ chủ quân, Thái uý Tĩnh Quốc Công mở phủ Lượng Quốc và hết thảy công việc triều chính được giao cho Trịnh Sâm làm. Mùa xuân năm Đinh Hợi (1767), Trịnh Doanh qua đời, Trịnh Sâm lên nối ngôi, tiến phong là Nguyên Soái Tổng Quốc Chính Tĩnh Đô Vương. Nhà riêng của Khản ở gần hồ Kim Âu và xóm Bích Câu, trong vườn có trồng nhiều cây cỏ lạ, Trịnh Sâm thường lui tới thăm viếng và tỏ ý rất thích thú. Mỗi lần Trịnh Sâm đi chơi đâu, hoặc thưởng hoa, hoặc câu cá, thế nào cũng đến rủ Khản cùng đi. Nhà Chúa lại còn đặc ban cho Khản được mặc áo chẽn tay, tự do ra vào nơi cung cấm. Khi nhà Chúa thưởng ca, thường sai Khản ngồi hầu, được mặc thường phục ngồi ngay cạnh Chúa, cầm chầu điểm hát. Những hôm Trịnh Sâm ngự chơi hồ Tây, chỉ có bà Chúa Chè (Ðặng thị Huệ) và Nguyễn Khản là được ngồi cùng thuyền, ba người cười cười nói nói chẳng khác gì là một nhà. Tính Khản hào hoa phong nhã, rất sành sỏi trong việc ăn chơi. Việc bày biện núi non bộ cùng các chậu hoa, cây cảnh ở trong cung đều phải qua tay Khản thì mới vừa ý nhà Chúa. Khản lại thích hát xướng, thạo âm luật, trong nhà không mấy khi dứt tiếng sênh ca; thường dựa vào nhạc phủ để đặt ra các điệu hát mới, hễ làm được bài nào là các nghệ nhân ngoài giáo phường lại tranh nhau truyền tụng. Nhân dân đương thời có câu: "ÁN phách tàn truyền lại bộ ca" (Gõ phách truyền tụng bài hát mới của quan Lại bộ). Chính là chỉ việc ấy. Tương truyền, có một hôm Nguyễn Khản mệt không vào chầu, và không theo Trịnh Sâm đi câu được. Trịnh Sâm bèn gửi cho Khản bài thơ như sau:

vế xướng: Ðã phạt năm đồng bỏ buổi chầu, lại phạt năm đồng bỏ buổi câu, nhắn bảo ông bay về nghĩ đấy, hãy còn phạt nữa chửa tha đâu!
Nhà Chúa trách yêu thế thôi, chớ khi nào nỡ phạt Khản. Khản cũng biết vậy, liền làm bài thơ trả lời một cách rất khôn khéo rằng: Váng vất cho nên phải cáo chầu, phiên chầu còn cáo nữa phiên câu, trông ơn phạt đền là thương đến, ấy của nhà vua chớ của đâu
Chúa xem thơ họa, rất hài lòng, lại sai người mang quà đến để tặng Khản.

Phạm Nguyễn Du[sửa]

  • Phạm Nguyễn Du vốn tên là Phạm Vĩ Khiêm, hiệu là Thạch Động, Dưỡng Hiên. Ông sinh trong một gia đình nhà nho tại làng Thạch Động, tổng Đặng Điền, huyện Chân Lộc, nay là xã Nghi Thạch, huyện Nghi Lộc tỉnh Nghệ An, đỗ hoàng giáp năm 40 tuổi, ông được bổ làm giám sát ngự sử đạo Hải Dương sau đổi làm đốc đồng Nghệ An (chức quan cấp trấn bậc phó thuộc văn ban, lo việc xét xử, án kiện giúp việc trấn thủ) rồi được thăng làm Đông Các Đại học sĩ. Tổ tiên ông vốn họ Mạc, gốc ở Hải Dương, chạy loạn vào Nghệ An thay tên đổi họ sau khi nhà Mạc bị lật đổ. Gia đình ông vốn là một gia đình gia giáo. Văn bia nhà thờ họ Phạm do chính Phạm Nguyễn Du soạn cho biết đôi nét về cha mẹ ông (bản dịch): “Năm Nhâm Tý (1732), cha ta đi thi Hương không đậu, thế là ông trở về sống thanh bần, hiền lành, trung hậu, hoà thuận với mọi người ở quê nhà. Sáng dạy học trò, chiều vác cuốc thăm đồng. mẹ ta người họ Nguyễn rất cần cù, tiết kiệm, mến khách. người Diễn Châu thường đi lánh nạn qua thôn ta. Đối với những người có học thức, mẹ ta thường mời về ở. Đối với những người nông dân già yếu, mẹ ta lo lắng việc ăn uống chu đáo, chưa bao giờ kể công. Mẹ ta là người con dâu hiếu thảo cúng tế tổ tiên, thờ phụng cha mẹ thành tâm. Mẹ thường nói với ta rằng: Công đức của ông bà tổ tiên rất to. Sau này con lớn lên phải lo cúng tế chu đáo và phải truyền cho con cháu đời sau biết điều đó”. Khi quân Tây Sơn kéo ra Bắc, ông lẩn tránh ở vùng rừng núi Thanh Chương. Cũng có tài liệu nói ông mộ quân chống Tây Sơn nhưng không thành rồi mất, ông được vua Lê Chiêu Thống ban chiếu chỉ ngày 20-3-1787 (dịch) như sau: “Sắc phong cho Tiến sĩ Phạm Nguyễn Du, hiệu là Đạm Hiên, quê ở núi Tiên, chức vụ hàn lâm thị độc - Phạm Nguyễn Du là người liêm khiết trong trắng, trung thực, hiền lành được dân làng thờ cúng ngưỡng mộ, tiếng thơm lưu truyền muôn thưở. Nay phong Thần lượng Đại vương”. Tương truyền, lúc vợ chết ông có làm mấy câu đối thờ:
Sử ngã tất sanh, khanh tất tử (Ai khiến tôi phải sống, mình phải chết?)
Hạp dư vi phụ, nhĩ vi phu (Sao không để tôi làm vợ mình làm chồng!)
Hốt tầm Đông xá, Tây lân, hoặc hữu nương hề, giai viết bất (Chợt tìm Đông xá, Tây lân, hoặc có nàng chăng, đều nói chẳng)
Thí vấn Nam tào, Bắc đẩu, kỳ vi Khiêm dã, đinh hà như? (Ví hỏi Nam tào, Bắc đẩu, hay còn Khiêm đó, định làm sao?)
Có một người kia vào nhà xin ăn, lân la đọc hết mấy câu đối rồi gật gù ra chiều tán thưởng. Ông Du thấy vậy mới hỏi: "Ông thấy sao? Được không?" Người ăn mày đáp: "Dạ được đấy, nhưng chưa thật hay". Ông Du liền hỏi: "Thế ông có thể làm hay hơn không?" Người ăn mày đáp: "Thưa, tôi chỉ biết làm câu đối nôm thôi!" Ông Du bảo cứ làm thử, người ăn xin liền đọc:
Đất chẳng là chồng, đem gởi thịt xương sao lợi
Trời mà chết vợ, thử coi gan ruột mần răng
Câu này rất xuất sắc: chẳng những đối rất chỉnh(“trời” đối với “đất”, ‘’vợ” đối với “chồng”, “gan ruột” đối với “thịt xương”,”răng’’đối với “lợi” rất chỉnh, mà còn sử dụng được câu tục ngữ”Sống gửi thịt, chết gửi xương” nói về người con gái đi lấy chồng tức là trao thân gởi phận cho chồng, khi sống cũng như khi chết. Thế thì nay chết đi sao lại đem xương thịt mà gởi cho đất? Đất có phải là chồng đâu? Ý tưởng của vế dưới cũng rất độc đáo: Trời mà chết vợ thử xem trời có héo gan héo ruột không? Câu đối trên có thuyết khác lại nói của Tri Huyện Hòa Vang Bùi Hữu Nghĩa viết để khóc vợ, ông này có viết 2 đối câu đối 1 Nôm 1 Hán

Nguyễn Hữu Chỉnh[sửa]

Nguyễn Hữu Chỉnh người xã Đông Hải, huyện Chân Lộc (nay là huyện Nghi Lộc, Nghệ An). Trước theo Hoàng Đình Bảo (là cháu Hoàng Ngũ Phúc) đánh giặc biển có công, đổi bổ sang quản lãnh đội Tuần hải, rồi chuyển bổ quản lãnh cơ Tiền ninh thuộc trấn Nghệ An. Kế đó, kiêu binh nổi loạn ở Thăng Long, giết Hoàng Đình Bảo và đang sắp sửa xốc vào Nghệ An thanh trừng đám tay chân của quận Huy, quận Việp. Cái họa sát thân đã ở trước mắt, Nguyễn Hữu Chỉnh liền bàn với Trấn thủ Nghệ An là Vũ Tá Dao - em rể Hoàng Đình Bảo - viết mật thư "xui" hai tướng Hoàng Đình Thể và Khôi Thọ - vốn là hai thuộc tướng của Hoàng Ngũ Phúc - chiếm lấy Thuận Hóa, bản thân Vũ Tá Dao cũng chiếm lấy Nghệ An, đem binh lực ở hai đất ấy hợp lại sẽ thoát khỏi họa hoạn. Vũ Tá Dao không dám theo, Nguyễn Hữu Chỉnh bèn vượt biển chạy vào Quy Nhơn đầu hàng Nguyễn Nhạc. Về với Tây Sơn, Nguyễn Hữu Chỉnh tỏ ra năng nổ trong việc giúp sức cho anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ bình định Bắc Hà. Ông có công lớn trong việc đập tan cơ đồ mấy trăm năm của họ Trịnh. Tiếp đến là hàng loạt sự kiện: Nguyễn Huệ bí mật rút quân về Nam, Nguyễn Hữu Chỉnh xin đi theo, được cho giữ đất Nghệ An; họ Trịnh khởi binh mưu nối lại ngôi Chúa, vua Lê gọi Nguyễn Hữu Chỉnh về kinh thành bảo vệ, uy quyền của Nguyễn Hữu Chỉnh từ đấy lên đến tột đỉnh; Nguyễn Huệ e ngại, sai Vũ Văn Nhậm đánh ra Bắc, Nguyễn Hữu Chỉnh thua trận, bị bắt, và rồi: "Văn Nhậm kể tội Hữu Chỉnh là kẻ bất trung, sai xé xác Hữu Chỉnh ở cửa thành để rao cho mọi người biết".

  • Tương truyền, năm 10 tuổi Nguyễn Hữu Chỉnh đi học, thầy đồ bảo viết đôi câu đối Tết dán ngoài cổng, Chỉnh viết như sau:
Mở khép càn khôn có ra tay mới biết
Ra vào tướng tướng thử liếc coi
  • Câu đối dán ở của phủ Đại Hưng:

Cuối năm 1786, khi quân Tây Sơn rút hết về Nam, tình hình Bắc Hà đã rối ren lại càng thêm rối ren. Bấy giờ, Nguyễn Hữu Chỉnh ở Nghệ An, nhờ có Hoàng Viết Tuyển và Nguyễn Như Thái giúp sức, thế lực ngày một mạnh. Chúa Trịnh Bồng liền hạ lệnh cho các tướng đưa quân đi đánh Nguyễn Hửu Chỉnh nhưng tất cả đều lần lượt bị thất bại. Trong lúc đó, Hoàng Tự Tôn Lê Duy Kỳ đem quân đến đánh Đinh Tích Nhưỡng ở Hải Dương, chiến trận kéo dài trong mấy tháng vẫn không phân thắng bại. Thạc Quận Công là Hoàng Phùng Cơ, thấy chính sự rối bời, cũng kéo quân về Sơn Tây. Trịnh Bồng sai Bùi Thế Toại đánh nhau với Nguyễn Hữu Chỉnh ở Nho Lâm, Đông Thành, Nghệ An nhưng Bùi Thế Toại bị đại bại. Sau, Trịnh Bồng lại sai em là Kỳ Quận Công đem quân đi đánh Nguyễn Hữu Chỉnh lần nữa, nhưng quân của Kỳ Quận Công chẳng khác gì một lũ ô hợp, đã thế, lương thực không đủ, vũ khí cũng thiếu thốn, cho nên, không thể đối đầu với lực lượng của Nguyễn Hữu Chỉnh. Được thể, Nguyễn Hữu Chỉnh bèn ồ ạt cho tiến quân ra. Trịnh Bồng hoảng sợ chạy trốn khỏi kinh thành Thăng Long. Bấy giờ, nhân thấy phủ chúa không còn ai, Hoàng Tự Tôn liền bí mật sai người đến đốt hết mọi dinh thự của nhà chúa. Lúc bấy giờ, các tướng của Nguyễn Hữu Chỉnh bắt sống được tướng Dương Trọng Tế rồi đem giết, sau đó, bọn họ lại đem quân đi đánh chúa Trịnh, khiến Trịnh Bồng phải một phen bôn tẩu rất gian nan. Đến năm 1787, Thạc Quận Công Hoàng Phùng Cơ cũng bị bắt và bị bức tử. Kể từ đó, uy danh của Nguyễn Hữu Chỉnh nhờ vậy mà nhanh chóng nổi như cồn. Chỉnh nhân đó làm đôi câu đối mỉa mai Tự Hoàng như sau:

Thiên hạ thất tự chung, chung thất nhi đỉnh an tại (Thiên hạ mất chuông chùa, chuông mất thì vạc dựa vào đâu)
Hoàng thượng phần vương phủ, phủ phần tức điện diệc không (Hoàng Đế đốt phủ chúa, phủ cháy hỏi điện còn được chăng)
Chuông đã mất thì vạc là thứ tượng trưng cho vương quyền cũng không còn. Vua Lê dựa vào chúa Trịnh và chúa Trịnh cũng dựa vào vua Lê để cùng tồn tại nhưng nay vua đốt phủ chúa thì cung điện của vua cũng trơ. Câu đối nhận thức về mối tương quan chính trị đương thời chưa rõ rệt lắm, nhưng chính nhờ nó mà hành vi của Tự Hoàng khiến cho đời đời không quên.

Ngô Thì Nhậm và Đặng Trần Thường[sửa]

tượng thờ Ngô Thì Nhậm trong Điện thờ Tây Sơn Tam Kiệt - Bảo tàng Quang Trung, Bình Định

Ngô Thì Nhậm còn gọi là Ngô Thời Nhiệm, tự là Hy Doãn, hiệu là Đạt Hiên, là danh sĩ, nhà văn đời hậu Lê–Tây Sơn, người có công lớn trong việc giúp triều Tây Sơn đánh lui quân Thanh. Ngô Thì Nhậm xuất thân gia đình vọng tộc chốn Bắc Hà, là con Ngô Thì Sĩ, người làng Tả Thanh Oai, ngày nay thuộc huyện Thanh Trì Hà Nội. Ngô Thì Nhậm thông minh, học giỏi, sớm có những công trình về lịch sử. Ông thi đỗ giải nguyên năm 1768, rồi tiến sĩ tam giáp năm 1775. Sau khi đỗ đạt, ông được bổ làm quan ở bộ Hộ dưới triều Lê–Trịnh, được chúa Trịnh Sâm rất quý mến. Năm 1778 làm Đốc đồng Kinh Bắc và Thái Nguyên. Khi đó cha ông làm Đốc đồng Lạng Sơn. Cha con đồng triều, nổi tiếng văn chương trong thiên hạ. Sau Vụ án năm Canh Tý (1780), ông bị nghi ngờ là người tố giác Trịnh Khải nên phải bỏ trốn về quê vợ ở Thái Bình lánh nạn. Năm 1788, Nguyễn Huệ ra Bắc lần hai, xuống lệnh "cầu hiền" tìm kiếm quan lại của triều cũ. Ngô Thì Nhậm và một số thân sĩ Bắc Hà khác lần lượt ra làm quan cho nhà Tây Sơn, sử cũ viết khi được Thì Nhậm, Nguyễn Huệ mừng mà rằng: "Thật là trời để dành ông cho ta vậy", và phong cho ông chức Tả thị lang bộ Lại, sau lại thăng làm thượng thư bộ Lại-chức vụ cao cấp nhất trong Lục bộ. Cuối năm Mậu Thân (1788) do vua Lê Chiêu Thống cầu viện, 29 vạn quân Thanh kéo sang Đại Việt, với chiêu bài diệt Tây Sơn dựng lại nhà Lê. Ngô Thì Nhậm đã có kế lui binh về giữ phòng tuyến Tam Điệp - Biện Sơn (Ninh Bình) góp phần làm nên chiến thắng của nhà Tây Sơn. Năm 1790, vua Quang Trung đã giao cho Ngô Thì Nhậm giữ chức Binh bộ thượng thư. Tuy làm ở bộ Binh, nhưng Thì Nhậm chính là người chủ trì về các chính sách và giao dịch ngoại giao với Trung Hoa. Ông là người đứng đầu một trong những sứ bộ ngoại giao sang Trung Hoa. Sau khi Quang Trung mất, ông không còn được tin dùng, quay về nghiên cứu Phật học.

Đặng Trần Thường là công thần khai quốc nhà Nguyễn trong lịch sử Việt Nam, người huyện Chương Đức (nay là huyện Chương Mỹ, Hà Nội) ông đậu sinh đồ về cuối đời Hậu Lê. Tương truyền Ngô Thì Nhậm và Đặng Trần Thường có quen biết với nhau, lúc Ngô Thì Nhậm được vua Quang Trung trọng dụng thì Đặng Trần Thường đến xin Nhậm tiến cử. Khi trông thấy vẻ khúm núm làm mất phong độ của kẻ sĩ, Nhậm lên lớp: "Ở đây cần dùng người vừa có tài vừa có hạnh, giúp vua cai trị nước. Còn muốn vào luồn ra cúi thì đi nơi khác". Đặng Trần Thường hổ thẹn ra về, rồi vào Nam theo phò Nguyễn Phúc Ánh lập nhiều công trạng làm đến chức Tán lý. Bình định xong, lĩnh chức Binh bộ Bắc thành, rồi được triệu về kinh làm Binh bộ Thượng thư. Sau khi nhà Tây Sơn mất, các võ tướng và một số quan văn bị giải về Hà Nội để bị xử phạt đánh bằng roi ở Văn Miếu, trong số đó có Ngô Thì Nhậm. Chủ trì cuộc phạt đánh đòn đó lại chính là Đặng Trần Thường. Đặng Trần Thường kiêu hãnh ra vế câu đối cho Ngô Thì Nhậm:
Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai

(Vế đối hiểm hóc vì có 5 chữ ai và có chữ trần là tên đệm của Đặng Trần Thường)

Ngô Thì Nhậm khảng khái đáp: Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thì phải thế

(Vế đối lại cũng có 5 chữ thế, nói lên được hoàn cảnh và khí phách của người anh hùng. Và vế đối cũng có chữ thời là tên đệm của Ngô Thời Nhiệm).

Hai câu đối nhau chan chát, cực kỳ chỉnh không sai trật một ly. Quả là lời lẽ và từ ngữ của bậc quốc sĩ, nói theo kiếm hiệp, hào khí ngất trời. Đặng Trần Thường bắt ông phải sửa lại như câu nói "thế đành theo thế". Ngô Thì Nhậm không nói lại, Thường tức giận sai người dùng roi tẩm thuốc độc đánh ông đến chết. Về phía Đặng Trần Thường, sau này, vì làm gian Sắc phong thần cho Hoàng Ngũ Phúc, tướng của chúa Trịnh vào bậc phúc thần, triều đình kết án phải tội chém. Nhưng rồi ông lại được tha. Thường trước có hiềm khích với Lê Chất, nên Chất mới bới những việc sai phạm của Thường như khi ra coi tàu binh ở Bắc Thành, có giấu thuế đầm ao và dinh điền. Thường lại bị bắt giam. Trong ngục, Trần Thường tỏ ý mỉa mai, đến tai đình thần, nên khi kết án, đình thần xử tội giảo. Tương truyền Đặng Trần Thường ở trong ngục có làm bài Hàn Vương Tôn Phú bằng quốc âm để ví mình như Hàn Tín đời nhà Hán. Trong các giai thoại về Uy viễn tướng quân binh bộ thượng thư Nguyễn Công Trứ có mục "đối đáp với quan Tuần Phủ" vế đối cũng hệt như của Đặng Trần Thường, vậy đưa vào đoạn này để tiện nghiên cứu. Bấy giờ, Nguyễn Công Trứ lên tỉnh học được ít lâu, một chiều nọ đẹp trời, khi lang thang dạo phố thì bỗng gặp một đoàn xe ngựa của quan Tuần phủ đi hành hạt, dù lọng nghênh ngang, tiền hô hậu hoán. Đang lớ ngớ không biết đường tránh, cậu vô tình cản đường đoàn người ngựa và bị toán lính hầu bắt tới trình quan về tội vô lễ. Cậu trò vừa bị giải đến nơi, đã nghe quan quát hỏi: "Sao cậu dám thất lễ với bản quan" Trứ đáp: "Bẩm quan lớn, tiểu sinh nguyên học ở trường làng, vừa mới lên tỉnh chưa biết rõ các nghi lễ nên mới vô tình vô lễ, xin quan lớn dung thứ". Quan nói nếu cậu đúng là học trò thì sẽ ra 1 vế đối, không đối được sẽ bị phạt, vế ra là: Khách khoa bảng, khách văn chương, giữa quan khách, khách lại gặp khách. Nguyễn Công Trứ ứng khẩu đối ngay: Ai anh hùng, ai hào kiệt, trong trần ai, ai dễ biết ai. Gần đây có 1 số nhân vật đối thêm vài câu như sau nhưng chưa chuẩn về chữ lắm, vậy xin đưa cả vào để tham khảo:
vế đối khác 1: Phận yếu liễu , phận đào thơ, nữ nhi phận, phận thôi đành phận (khuyết danh)
vế đối khác 2: Tôi đốt lò, tôi nung đá, cuộc đời tôi, tôi luyện luyện tôi (khuyết danh)
vế đối khác 3: Người quân tử, người anh hùng, giữa biển người, người sẽ gặp người (khuyết danh)

Triều Nguyễn Tây Sơn[sửa]

Quang Trung và Lê Ngọc Hân[sửa]

Tượng vua Quang Trung

Vua Quang Trung tên thật là Nguyễn Huệ là em của Tây Sơn Thái Đức Hoàng Đế Nguyễn Nhạc. Khi còn nhỏ, Nguyễn Huệ thường được gọi là chú Thơm, là em thứ hai trong nhà. Trong ba anh em, Nguyễn Huệ có nhiều đặc điểm nổi trội nhất: tóc quăn, tiếng nói sang sảng như chông, cặp mắt sáng như chớp, có thể nhìn rõ mọi vật trong đêm tối. Dưới quyền của Tây Sơn vương Nguyễn Nhạc, ông được phong làm Long Nhương tướng quân khi mới 26 tuổi. Là một dũng tướng thiện chiến, hành quân chớp nhoáng, đánh đâu được đấy, Nguyễn Huệ nhanh chóng trở thành vị tướng trụ cột của vương triều Tây Sơn. Khi mà vua Thái Đức đang phải lo củng cố xây dựng triều đình, thì Nguyễn Huệ là người được trao cầm quân đánh Đông dẹp Bắc. Tất cả những chiến thăng lớn vang dội của quân Tây Sơn đều gắn liền với tên tuổi của vị tướng trẻ tài ba này. Khi đem quân ra Thăng Long lật nhào họ Trịnh chuyên quyền, Nguyễn Huệ tỏ ý tôn phò nhà Lê. Cùng với thuộc tướng là Nguyễn Hữu Chỉnh, Nguyễn Huệ vào điện Vạn Thọ tiếp kiến vua Lê. Lê Hiển Tông trân trọng mời Nguyễn Huệ ngồi ở sập bên giường ngự mà hỏi thăm yên ủi. Vua Lê Hiển Tông được Nguyễn Hữu Chỉnh mối lái ưng lời gả Ngọc Hân công chúa và nhờ ông này dò ý Nguyên soái Nguyễn Huệ, Chỉnh bèn thay mặt nhà vua mời Nguyễn Huệ vào triều kiến diện.

Lê Ngọc Hân còn gọi bà là Bà Chúa Tiên khi bà ở Phú Xuân vì dinh phủ lập ở chùa Kim Tiên. Bà là con gái thứ 9 của vua Lê Hiển Tông. Mẹ bà là Chiêu nghi Nguyễn Thị Huyền, là người xã Phù Ninh, tổng Hạ Dương, phủ Từ Sơn - Bắc Ninh (nay là xã Ninh Hiệp, Gia Lâm, Hà Nội), và là con gái trưởng của ông Nguyễn Đình Giai. Lúc vua cha và Nguyễn Huệ nói truyện, bà đứng sau bức bình phong, nghe tiếng Nguyễn Huệ ngân như chuông, lời lẽ quang minh chính đại. Đến khi thấy Nguyễn Huệ mắt phượng mày tằm, ánh nhìn như chớp, tướng mạo phi phàm thì trong lòng sinh ra cảm phục. Bà bước ra thi lễ và xin ra một vế đối và nói: "Nếu Chúa công đối được ấy là Chúa công đã trao lễ vật vậy". Nguyễn Huệ nhận lời, Ngọc Hân công chúa đã chuyển nguy thành an, chuyển thế bị động thành chủ động. Đang là kẻ bị ép duyên, Ngọc Hân công chúa trở thành chủ động tuyển phò mã.
vế ra là: Chúa công công chúa hội ngộ
Ngọc Hân công chúa tuyển phò mã bằng phương pháp thanh tao nhất, một vế đối thích hợp cho cả hai. Chàng là chúa công, nàng là công chúa cành vàng. Vừa hợp tình hợp cảnh, vừa nhắc khéo đến địa vị của nàng.
Nguyễn Huệ đối: Một mai mai một anh hùng
Nguyễn Huệ tự cho mình là anh hùng mà không đối được với giai nhân hay sao, thành anh hùng mai một hay sao? Do nghĩ như vậy nên câu đối Nguyễn Huệ có chữ ‘anh hùng’, ‘mai một’ , và chỉ gồm hai chữ này thôi. Đây là cái mà người xưa gọi là khẩu khí, khi đối, khi làm thơ. Năm 1789, sau khi đại thắng quân Thanh, Nguyễn Huệ lại phong bà làm Bắc Cung Hoàng Hậu. Bà có 2 con với Nguyễn Huệ là công chúa Nguyễn Ngọc Bảo và hoàng tử Nguyễn Quang Đức. Năm 1792, Quang Trung hoàng đế đột ngột băng hà. Bà viết bài Tế vua Quang Trung và Ai Tư Vãn để bày tỏ nỗi đau khổ cùng cực cũng như nỗi tiếc thương vô hạn cho người chồng anh hùng vắn số. Cuối cùng, Lê Ngọc Hân đưa công chúa Ngọc Bảo ra khỏi cung điện Phú Xuân, sống trong chùa Kim Tiền (Dương Xuân ở Huế) cạnh điện Đan Dương để thờ chồng nuôi con. Bà gượng sống đến ngày mồng 8 tháng 11 năm Kỷ Mùi (4 tháng 12 năm 1799) thì mất, lúc đó mới 29 tuổi
Vế ra của công chúa Lê Ngọc Hân rất khó và sẽ khó hơn nếu khoảng thời gian đối đáp là rất ngắn ngủi trong một buổi gặp gỡ cho Vua Quang Trung, có lẽ do tình thế bắt buộc lúc đó nên tuy vế đối của vua Quang Trung chưa chuẩn nhưng công chúa Lê Ngọc Hân cũng buộc phải chấp nhận. Gần đây ông Thiền Long Nguyễn Phước Thạnh có xin phép Vua Quang Trung đưa ra hai vế đối khác là:
Vế đối một: Đạo gia gia đạo liên quan (Đạo gia là danh từ chung chỉ người theo đạo giáo; Gia đạo là danh từ chung chỉ các nguyên tắc trong gia đình. Liên quan là động từ có nghĩa là có mối quan hệ với nhau có thể đối với hội ngộ (gặp nhau); Toàn ý của câu đối là đạo gia và gia đạo có liên quan với nhau ở các nguyên tắc của đạo và gia đạo). Việc kết duyên đó cũng thuộc chủ đề gia đạo)
Vế đối hai: Quốc vương vương quốc chiến thắng ("Quốc vương" là vua một nước, "vương quốc" là một nước có vua). Vế đối muốn tôn vinh những chiến công lẫy lừng của người anh hùng áo vải mà sau đó trở thành vị hoàng đế lừng danh thiên hạ)
  • Câu đối ở thượng điện đền thờ Hoàng đế Quang Trung trên núi Quyết - thành phố Vinh:
敦本國無遊民野無曠土 Đôn bản quốc vô du dân dã vô khoáng thổ (Phải coi trọng nghề nông thì nước không có dân du cư đồng không bị bỏ hóa)
抑末人都務業社不荒田 Ức mạt nhân đô vụ nghiệp xã bất hoang điền (Cần hạn chế sự yếu kém thì dân sẽ chăm lo nghề nghiệp làng xã không còn ruộng hoang)
Đây là đôi câu đối có ý nghĩa khuyến nông của thời Quang Trung.

Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ và Đặng Trần Thường[sửa]

Trong cuốn tiểu thuyết lịch sử Hoàng Lê Nhất Thống Chí có kể lại 1 giai thoại đối đáp như sau:

Nguyễn Huệ bảo Thường:

- Ngươi là học trò, vậy ta ra một vế đối. Nếu đối được thì tha, bằng không phải đánh hai mươi hèo.

Đặng Trần Thường thoát chết, hoàn hồn thưa:

- Xin Chúa công ra câu đối.

Nguyễn Huệ mỉm cười đọc rằng: Trần tục, tầm thường như Đặng Trần Thường, kẻ tiểu nhân làm gì nên đặng

Đặng Trần Thường nhăn trán chau mày suy nghĩ sợ đà sởn gai ốc, đổ mồ hôi hột mà vẫn chưa tìm ra vế đối. Trong cơn nguy khốn chợt nghe Ngô Thì Nhậm nói:

- Người thượng quân từ sánh bằng cây trúc, người trung quân tử sánh với cây ngô đồng. Nhậm tôi thời đến được Chúa công trọng dụng cho nhậm chức, sự quân tử chỉ đáng sánh với cây ngô đồng mà thôi.

Thường nghe Nhậm nói xong mừng rỡ thưa cùng Nguyễn Huệ:

- Tiểu sinh xin đọc vế đối.

Huệ hất hàm bảo:

- Ngươi hãy đọc đi. Nếu đối được ta sẽ tha không đánh!

Đặng Trần Thường đối rằng: Thời đến, chức nhậm như Ngô Thì Nhậm, người quân tử đáng sánh cây ngô

Nguyễn Huệ vỗ án quát:

- Câu đối của ngươi tuy chỉnh về văn nhưng không chỉnh về ý. Quân bay đè xuống đánh hai mươi hèo.

Thường thất kinh hỏi:

- Thưa Chúa công thế nào là không chỉnh ý?

Huệ đáp: - Ngươi lấy oán trả ân toan hại Ngô Thì Nhậm. Nhậm không lấy đó làm hiềm, nhắc ý cho ngươi đối được câu đối của ta để cứu ngươi. Đó là thượng quân tử đáng sánh bằng cây trúc, sao bảo rằng chỉ sánh bằng cây ngô. Ấy là không chỉnh về ý. Quân bay đè xuống đánh ngay.

Đặng Trần Thường bị đánh hai mươi hèo lột da cháy máu đau đớn tủi hổ rời khỏi dinh. Thường nghĩ thầm:

- Nguyễn Huệ và Ngô Thì Nhậm hùa nhau làm nhục ta. Ta nghe Nguyễn Phúc Ánh đang khởi binh ở Gia Định chống nhau với Tây Sơn, vậy thì nên vào theo Chúa Nguyễn. Trước là lập công danh với đời, sau là báo tư thù mới hả dạ.

Nghĩ xong liền tìm thuyền vượt biển vào Gia Định.

Nhữ Trọng Thai mừng thọ vua Càn Long[sửa]

vua Càn Long nhà Thanh

Nhữ Trọng Thai (cũng đọc là Nhữ Trọng Đài) người làng Hoạch Trạch, huyện Đường An. Nay quê ông thuộc xã Thái Học, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Nhữ Trọng Thai, đỗ Bảng nhãn vào khoa Quý Sửu (1733, thời Lê Thuần Tông) còn như mất năm nào thì chưa rõ. Sau khi đỗ Bảng nhãn, Nhữ Trọng Thai được bổ dụng làm quan, trải phong dần tới chức Hiến sát sứ. Họ Nhữ ở đất Đường An là một trong những dòng họ có nhiều người đỗ đại khoa. Ở thế kỉ thứ XVI, họ này có Nhữ Mậu Tổ (đỗ Tiến sĩ năm 1526 thời Mạc Phúc Nguyên). Sang thế kỉ thứ XVII, dòng họ này có nội tổ của Nhữ Trọng Thai là Nhữ Tiến Dụng (đỗ Tiến sĩ năm 1664, thời Lê Huyền Tông) và chú ruột của Nhữ Trọng Thai là Nhữ Đình Hiền (cũng tức là Nhữ Tiến Hiền, đỗ Tiến sĩ năm 1680, thời Lê Hi Tông). Đến thế kỉ thứ XVIII, ngoài Nhữ Trọng Thai đỗ Bảng nhãn vào năm 1733 như đã nói ở trên, còn có em con chú của Nhữ Trọng Thai là Nhữ Đình Toản (đỗ Tiến sĩ năm 1736, thời Lê Ý Tông) và con của Nhữ Đình Toản là Nhữ Công Chân (đỗ Hoàng giáp năm 1772, thời Lê Hiển Tông). Người xưa thường ví sự nổi danh trong khoa bảng của dòng họ Nhữ ở làng Hoạch Trạch với họ Vũ ở làng Mộ Trạch (cả hai làng này đều thuộc huyện Đường An). Sau trận Ngọc Hồi - Đống Đa, năm 1790 Nhữ Trọng Thai (lúc đó đã 95 tuổi) được vua Quang Trung cử đi cùng đoàn với người đống giả ngài là Phạm Công Trị sang Trung Quốc mừng thọ vua Càn Long và thụ phong làm An Nam quốc vương, tại Yên Kinh ông đã viết đôi câu đối mừng như sau:

Long phi ngũ thập hữu ngũ niên, ngũ số hợp thiên, ngũ số hợp địa, ngũ sự tu, ngũ hành thuận, ngũ đại đồng đường, linh lung ngũ phụng lâu tiền, ngũ sắc côn hoàng huy thể thụ (Rồng bay năm chục lẻ năm năm, số năm hợp với trời, số năm hợp với đất, năm sự trau dồi, năm hành xuôi thuận, năm đời chung sống cùng nhà, trước lầu năm chim phụng long lanh, năm sắc đan xen chói rực cây màu lộng lẫy)
Thánh thọ bát tuần phùng bát nguyệt, bát thiên vi xuân, bát thiên vi thu, bát nguyên tiến, bát khải đăng, bát phương hướng hóa, cổ vũ bát loan điện lý, bát tiên phiêu miểu tấu nghê thường (Lễ thọ nhà vua tám tuần vào dịp tháng tám, tám ngàn năm là mùa xuân, tám ngàn năm là mùa thu, tám nguyên hiền tài đến, tám khải kẻ sĩ chầu, tám cõi đổi đời, cổ vũ tám chim loan trong điện. Tám nàng tiên thăm thẳm dâng điệu múa nghê thường)
Câu đối này treo ở trụ trong ngôi điện mừng thọ vua Càn Long nhà Thanh 80 tuổi

Lê Văn Duyệt[sửa]

Tượng Lê Văn Duyệt trong Thượng Công miếu

Lê Văn Duyệt sinh tại vàm Trà Lọt, thuộc làng Hòa Khánh (nay thuộc xã Hòa Khánh, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang). Ông nội của Lê Văn Duyệt là Lê Văn Hiếu từ làng Bồ Đề, huyện Mộ Đức (Quảng Ngãi) vào đây sinh sống. Sau khi Lê Văn Hiếu qua đời vì dịch bệnh thiên thời, cha ông là Lê Văn Toại rời vùng Trà Lọt đến ngụ tại vùng Rạch Gầm, làng Long Hưng (nay thuộc huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang). Lê Văn Toại có tất cả 4 người con trai, Lê Văn Duyệt là con trưởng, ông là người thấp bé, nhưng lại có sức mạnh hơn người, từng được coi là một trong "ngũ hổ tướng" ở Gia Định. Năm 1781, một lần chúa Nguyễn Phúc Ánh bị quân Tây Sơn đánh đuổi chạy đến vàm Trà Lọt, có ngụ tại nhà ông Lê Văn Toại. Cảm ơn cưu mang, Lê Văn Duyệt được chúa Nguyễn tuyển dụng làm thái giám, lãnh nhiệm vụ bảo vệ cung quyến. Lúc bấy giờ, ông vừa tròn 17 tuổi. Tháng 11 (âm lịch) năm 1793, Lê Văn Duyệt được Nguyễn Ánh phong làm Thuộc nội Vệ úy, vì "tuy sinh ra là người (thái) giám, (nhưng là) người mạnh dữ mà đánh giỏi, có công tùng chinh". Kể từ đó, chúa Nguyễn thường bàn việc binh với Lê Văn Duyệt. Ngày mồng 1 tháng 5 năm Nhâm Tuất (tức 31 tháng 5 năm 1802), chúa Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi tại Phú Xuân, đặt niên hiệu là Gia Long. Lê Văn Duyệt được phong làm “Khâm sai Chưởng Tả quân dinh Bình tây tướng quân, tước Quận công” để cùng với Lê Chất đem bộ binh ra Bắc truy diệt vua quan nhà Tây Sơn. Năm 1820, vua Minh Mạng cử Lê Văn Duyệt vào Nam làm Tổng trấn Gia Định Thành lần thứ hai, thay cho Nguyễn Huỳnh Đức vừa mất hồi tháng 9 (âm lịch) năm 1819. Việc cai trị của ông đã góp công lớn giúp ổn định và phát triển khu vực Nam Bộ Việt Nam, khiến cho vùng này từ một khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề của chiến tranh thành một khu vực bình yên và giàu có. Thêm vào đó, Lê Văn Duyệt phản đối việc nối ngôi của vua Minh Mạng và bảo vệ các tín đồ Công giáo Việt Nam khỏi chính sách bế quan tỏa cảng và trọng Nho giáo của nhà vua. Những việc này đã khiến ông thường xuyên xung đột với nhà vua và dẫn đến việc triều đình đã hạch tội và cho phá hoại lăng mộ sau khi Lê Văn Duyệt mất. Vì việc này, người con nuôi của ông là Lê Văn Khôi đã nổi dậy chống lại triều đình. Sau khi cuộc nổi dậy bị dập tắt, Lê Văn Duyệt tiếp tục bị truy tội đến mãi đời Thiệu Trị thì vụ án mới được xét lại, và ông mới được phục hồi danh dự. Dưới đây là mấy câu đối được khắc trên bia mộ của ông:

天光生俊傑 Thiên quang sanh tuấn kiệt (Trời sáng sinh tuấn kiệt)
地好出英才 Địa hảo xuất anh tài (Đất tốt tạo anh tài)
四時花不落 Tứ thời hoa bất lạc (Bốn mùa hoa chẳng rụng)
八節鳥無飛 Bát tiết điểu vô phi (Tám tiết chim không bay)

Nguyễn Du[sửa]

Nguyễn Du tên chữ Tố Như, hiệu Thanh Hiên, biệt hiệu Hồng Sơn lạp hộ, là một nhà thơ nổi tiếng thời Lê mạt, Nguyễn sơ ở Việt Nam. Ông là một nhà thơ lớn của Việt Nam, được người Việt kính trọng gọi ông là "Đại thi hào dân tộc". Theo gia phả của dòng họ Nguyễn ở làng Nghi Xuân, Nguyễn Du sinh ngày 23 tháng 11 năm Ất Dậu (tức ngày 3 tháng 1 năm 1766 tại phường Bích Câu, Thăng Long. Cha là Nguyễn Nghiễm (1708 - 1775), sinh ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh, tên tự Hy Di, hiệu Nghi Hiên, có biệt hiệu là Hồng Ngự cư sĩ đậu Nhị giáp tiến sĩ, làm quan đến chức Đại tư đồ (Tể tướng), tước Thượng thư bộ Hộ triều Lê. Mẹ là bà Trần Thị Tần (24 tháng 8 năm 1740 - 27 tháng 8 năm 1778), con gái một người làm chức câu kế. Quê làng Hoa Thiều, xã Minh Đạo, huyện Tiên Du (Đông Ngàn), xứ Kinh Bắc, nay thuộc tỉnh Bắc Ninh. Bà Tần là vợ thứ ba của Nguyễn Nghiễm (kém chồng 32 tuổi sinh được năm con, bốn trai và một gái). Tổ tiên của Nguyễn Du có nguồn gốc từ làng Canh Hoạch, huyện Thanh Oai, trấn Sơn Nam (nay thuộc Hà Nội), sau di cư vào Hà Tĩnh, có truyền thống khoa hoạn nổi danh ở làng Tiên Điền về thời Lê mạt. Trước ông, sáu bảy thế hệ viễn tổ đã từng đỗ đạt làm quan. Năm Quý Mão (1783) Nguyễn Du thi Hương ở trường Sơn Nam, đậu Tam trường (Tú tài). Ông lấy vợ là con gái Đoàn Nguyễn Thục và ông được tập ấm chức Chánh thủ hiệu quân hùng hậu của cha nuôi họ Hà ở Thái Nguyên. Mùa Đông năm Bính Thìn (1796), Nguyễn Du trốn vào Gia Định theo Nguyễn Ánh, nhưng bị Quận công Nguyễn Thận bắt giam ba tháng ở Nghệ An. Sau khi được tha ông về sống ở Tiên Điền. Trong thời gian bị giam ông có làm thơ My trung mạn hứng (Cảm hứng trong tù). Mùa thu năm Nhâm Tuất (1802), Vua Gia Long diệt nhà Tây Sơn. Nguyễn Du ra làm quan Tri huyện Phù Dung, phủ Khoái Châu, trấn Sơn Nam (nay thuộc tỉnh Hưng Yên). Mấy tháng sau thăng Tri Phủ Thường Tín, trấn Sơn Nam Thượng (nay thuộc Hà Nội). Năm 1803, Nguyễn Du được cử lên ải Nam Quan tiếp sứ nhà Thanh sang phong sắc cho vua Gia Long. Năm 1805 Ất Sửu ông được thăng Đông Các Đại Học Sĩ (hàm Ngũ phẩm), tức Du Đức hầu và vào nhận chức ở kinh đô Phú Xuân. Năm 1807 được cử làm giám khảo kỳ thi Hương ở Hải Dương. Mùa thu năm 1808 ông xin về quê nghỉ. Năm 1809 ông được bổ chức Cai bạ ( hàm Tứ phẩm ) ở Quảng Bình. Năm Quý Dậu 1813 ông được thăng Cần chánh điện học sĩ và được cử làm Chánh sứ sang nhà Thanh. Năm 1814 ông đi sứ về, được thăng Hữu tham chi bộ Lễ (hàm Tam phẩm). Năm 1820 (Canh Thìn) Gia Long qua đời Minh Mạng nối ngôi. Lúc này Nguyễn Du được cử đi làm chánh sứ sang nhà Thanh báo tang và cầu phong, nhưng chưa kịp đi thì ông bị bệnh dịch chết ngày mồng 10 tháng 8 năm Canh Thìn (18-9-1820) thọ 54 tuổi. Mộ ông nguyên táng tại làng An Ninh, huyện Hương Trà ( gần sau chùa Thiện Mụ). Năm Giáp Thân (1824), người ta cải táng ông và đưa về quê nhà Tiên Điền, Hà Tĩnh. Năm 1965 ông được Hội đồng hòa bình thế giới của UNESCO công nhận là danh nhân văn hóa thế giới và quyết định kỉ niệm trọng thể nhân dịp 200 năm năm sinh của ông. Nguyễn Du có hai kiệt tác Truyện Kiều (Đoạn trường tân thanh) gồm 3254 câu thơ lục bát và Văn tế thập loại chúng sinh gồm 184 câu viết theo thể song thất lục bát. Ngoài ra, ông còn có một số tác phẩm đậm chất dân gian như Văn tế sống hai cô gái Trường Lưu và bài vè Thác lời trai phường nón.

Đối đáp trực tiếp và do nhân dân tặng[sửa]

  • Một lần, đại thi hào Nguyễn Du đi trẩy hội vô ý bị trượt chân ngã ngửa xuống đất. Các cô gái quanh đó nhìn thấy thế cười hô hố tỏ vẻ chế nhạo. Ông liền ứng khẩu đọc một câu:
Đất đâu có đất lạ lùng, bấm chân chẳng chịu nằm cùng thì cho (Bấm: đi đường trơn, mình phải cố bấm hai ngón chân cái cố bám vào đất. Ý Nguyễn Du nói mấy cô cũng vậy, khác gì đất này đâu)
vế đối: Trời nào mà trời xa xôi, bắc thang không tới mộng thời lại lên (Trường Văn Nguyễn Phước Thắng)
  • Tương truyền lúc còn trai trẻ Nguyễn Du (khi ấy thường gọi là cậu Chiêu Bảy), rất thích hát phường vải. Bấy giờ có làng Trường Lưu cũng thuộc huyện Nghi Xuân, là một trong những làng nổi tiếng về hát phường vải, về nghề dệt vải và về con gái đẹp. Làng Tiên Ðiền thì có nghề làm nón; con trai phường nón thường kéo nhau sang hát phường vải ở Trường Lưu. Họ đi hát vì mê hát , nhưng một phần cũng vì mê các cô gái đẹp. Trong các chuyến đi ấy, Chiêu Bảy chẳng bao giờ vắng mặt. Có một đêm hát nọ, Chiêu Bảy tình cờ gặp được một cô gái tên Cúc, người đẹp, giọng hay, tài bẻ chuyện, nhưng chỉ phải một nỗi đã sắp quá thì mà vẫn chưa chồng. Chiêu Bảy biết thóp như vậy, liền bẻ ngay một câu như sau để ghẹo chơi: Trăm hoa đua nở mùa xuân, cớ sao Cúc lại muộn màng về thu?
Chiêu Bảy vờ nói hoa nhưng kỳ thực là muốn châm chọc: Các cô gái khác đều đã đi lấy chồng sơm, sao riêng cô Cúc lại để quá lứa lỡ thì như vậy?
Nhưng cô Cúc nào phải tay vừa, thoáng nghe qua cô đã hiểu ngay ý tứ của đối phương, bèn hát đáp lại rằng: Ví chưng tham chút nhụy vàng, cho nên Cúc phải muộn màng về thu
Hoa cúc vốn là hoa nở về thu; cúc nở về thu mới là đang độ mãn khai, thế là đúng kỳ chớ không phải là muộn. Câu hỏi cũng khôn mà câu trả lời cũng thật là khéo lắm; Chiêu Bảy đành phải lảng sang chuyện khác không dám hỏi về chuyện ấy nữa
  • Câu đối ở hậu cung đền Gióng:
天降聖人平北敵 Thiên giáng thánh nhân bình Bắc địch (Trời giáng thánh nhân trừ giặc Bắc)
地流神跡鎮南邦 Địa lưu thần tích trấn Nam bang (Đất lưu thần tích trấn nước Nam)
  • Câu đối khóc vợ:
Vỗ quan tài mà than thở với hồn, đau đớn nhẽ khúc cây không biết nói
Ôm hồn bạch những nỉ non cùng phách, xót xa thay tấc lụa chẳng còn hơi
  • Câu đối viết ở khu di tích Hán Cao Tổ trong lần đi sứ nhà Thanh:
Hán mạt nhất thời vô nghĩa sĩ (Cuối nhà Hán một thời không có người giỏi)
Chu sơ tam ký hữu ngoan dân (Đầu nhà Chu ba lần ghi việc yên dân)
  • Tại nhà thờ Nguyễn Du có ghi đôi câu đối do các quan trong triều vua Minh Mạng làm để ca ngợi Nguyễn Du như sau:
一代才花為使為卿生不忝 Nhất đại tài hoa vi sứ, vi khanh, sinh bất thiểm (Một đời tài hoa, lúc đi sứ, lúc làm quan, sống không thẹn)
百年事業在家在國死猶榮 Bách niên sự nghiệp tại gia, tại quốc, tử do vinh (Trăm năm sự nghiệp, khi ở nhà, khi vì nước, chết còn vinh)
  • Tại đền thờ Nguyễn Du cũng có đôi câu đối:
Khúc đâu lưu thủy hành vân, để tiếng tài tình chung đất nước
Chốn ấy sen hồ cổ thụ, nhớ người thanh khí nặng non sông

Những câu đối vịnh Kiều của hậu thế[sửa]

Truyện Kiều tên gốc là Đoạn trường tân thanh, là truyện thơ chữ Nôm theo thể lục bát của Nguyễn Du, dựa theo tiểu thuyết " Kim Vân Kiều truyện" (金雲翹傳) của Thanh Tâm Tài Nhân, Trung Quốc. Có thuyết nói Nguyễn Du viết Truyện Kiều sau khi đi sứ Trung Quốc (1814-1820). Lại có thuyết nói ông viết trước đi đi sứ, có thể vào khoảng thời gian làm Cai bạ ở Quảng Bình (1804-1809). Thuyết sau được nhiều người chấp nhận hơn. Ngay sau khi ra đời, Truyện Kiều được nhiều nơi khắc in và lưu hành rộng rãi. Hai bản in xưa nhất hiện còn là bản của Liễu Văn Đường (1871) và bản của Duy Minh Thị (1872), đều ở thời vua Tự Đức. Nội dung truyện Kiều cơ bản như sau: Vào khoảng thời vua Minh Thế Tông (1522-1566), trong một gia đình viên ngoại họ Vương có ba người con là Thuý Kiều (trưởng nữ), Thuý Vân (thứ nữ) và Vương Quan (con trai út). Trong một lần đi tảo mộ vào tiết Thanh minh, khi đi qua mộ Đạm Tiên, Kiều đã khóc thương và không khỏi cảm thấy ái ngại cho một "kiếp hồng nhan" "nổi danh tài sắc một thì" mà giờ đây "hương khói vắng tanh". Vốn là một con người giàu tình cảm và tinh tế nên Kiều cũng đã liên cảm tới thân phận của mình và của những người phụ nữ nói chung. Cũng trong ngày hôm đó, Kiều đã gặp Kim Trọng, là một người "vốn nhà trâm anh", "đồng thân" với Vương Quan, từ lâu đã "trộm nhớ thầm yêu" nàng. Tuy chưa kịp nói với nhau một lời nhưng sau cuộc gặp gỡ này thì "tình trong như đã, mặt ngoài còn e". Kim Trọng vì tương tư Kiều nên đã quên hết cả thú vui hàng ngày, tìm cách chuyển đến ở gần nhà Kiều. Sau đó mấy tuần trăng thì Kim Kiều đã gặp nhau, Kiều đã nhận lời Kim Trọng và họ đã trao đổi món kỷ vật cho nhau. Nhiều lần Kim Trọng cũng muốn "vượt rào" nhưng Thuý Kiều là một người sắc sảo, cô đã thuyết phục được Kim Trọng. Tai họa đã đột ngột ập đến Vương gia trong lúc người thiếu nữ còn đang thổn thức với mối tình đầu. Trong hoàn cảnh bi đát như vậy, Kiều đành phải đi đến quyết định bán mình để chuộc cha, nhưng nàng không quên lời hẹn ước với Kim Trọng trước khi chàng về Liêu Dương để chịu tang chú nên đã nhờ cậy Thuý Vân thay mình trả lời hẹn ước với Kim Trọng. Mã giám sinh vốn là "một đứa phong tình đã quen" cùng với Tú bà mở hàng "buôn phấn bán hương", chuyên đi mua gái ở các chốn về lầu xanh. Thấy Thuý Kiều như là một món hàng ngon, nhất quyết mua về, lấy tiếng là làm vợ nhưng sau khi "con ong đã tỏ đường đi lối về", Thuý Kiều đã bị Tú bà bắt phải tiếp khách. Nàng nhất quyết không chịu, tự vẫn bằng dao nhưng không chết, Tú bà đành nhượng bộ cho nàng ra ở lầu Ngưng Bích. Sống một mình giữa không gian mênh mông xa vắng đó nên khi gặp Sở Khanh, một gã có "hình dong chải chuốt, áo khăn dịu dàng" và cũng khá "văn vẻ", cô như người đang sắp chết đuối vớ được cọc mà không còn bình tĩnh nhận ra lời lường gạt sáo rỗng của Sở Khanh. Kiều vội vàng tin Sở Khanh và cùng Sở Khanh trốn thoát khỏi lầu Ngưng Bích, cô nào ngờ mình đã rơi vào lưới do Tú bà giăng sẵn để giữ cô lại vĩnh viễn ở lầu xanh. Ít lâu sau, Kiều gặp Thúc sinh, tuy đã có vợ là Hoạn thư nhưng cũng là người "mộ tiếng Kiều nhi" từ lâu nên Thúc sinh đã chuộc Thuý Kiều ra khỏi lầu xanh. Tuy nhiên, vì là gái lầu xanh Kiều đã không được Thúc ông - cha của Thúc sinh - thừa nhận. Thúc ông đã đưa Kiều lên quan xét xử, Kiều cam tâm chịu kiếp lẽ mọn để được hưởng hạnh phúc yên bình của gia đình, tuy không được trọn vẹn với Thúc Sinh. Không chịu quay về lầu xanh nên lại thêm một lần nữa Kiều gặp cảnh khốn khổ, thấy Thúc sinh đau khổ khi thấy Kiều vì mình mà gặp nạn, quan kia đã cho Kiều làm một bài thơ bày tỏ nỗi niềm. Đọc thơ của Kiều, vị quan khen ngợi rồi khuyên Thúc ông nên rộng lượng chấp nhận Kiều lại cho đồ sính lễ cưới xin. Nhờ thế Kiều thoát kiếp thanh lâu nhưng chưa được bao lâu thì nàng lại mắc vạ với Hoạn Thư, vợ chính của Thúc Sinh. Kiều đã ở cùng Thúc sinh suốt một năm ròng và vẫn luôn khuyên Thúc sinh về thăm vợ cả Hoạn thư, sau chuyến đi thăm và quay trở lại gặp Kiều, Thúc sinh không ngờ rằng Hoạn thư đã sai gia nhân đi tắt đường biển để bắt Thuý Kiều về tra hỏi. Thuý Kiều bị tưới thuốc mê bắt mang đi, còn mọi người trong nhà lúc đó cứ ngỡ cô bị chết cháy sau trận hỏa hoạn. Kiều trở thành thị tì nhà Hoạn thư với cái tên là Hoa Nô. Lúc Thúc sinh về nhà, nhìn thấy Thuý Kiều bị bắt ra chào mình, "phách lạc hồn xiêu", chàng nhận ra rằng mình mắc lừa của vợ cả. Hoạn thư đã bắt Kiều phải hầu hạ, đánh đàn cho bữa tiệc của hai vợ chồng. Thế rồi, do thấy Kiều khóc nhiều, Hoạn thư bảo Thúc sinh tra khảo vì lý do gì. Thuý Kiều viết tờ khai nói rằng vì cha bị oan khiên, phải bán mình và bị lừa vào lầu xanh, sau đó có người chuộc ra làm vợ, rồi chồng đi vắng, nàng bị bắt đưa vào cửa nhà quan... rất tủi nhục, bây giờ chỉ mong được vào chùa tu cho thoát nợ trần. Đọc tờ khai xong, Hoạn thư đồng ý cho Hoa Nô vào Quan Âm các sau vườn để chép kinh. Hoạn Thư khéo léo phá vỡ dây tơ giữa Kiều và Thúc sinh, làm Kiều ra đi một cách tự nguyện. Kiều trốn khỏi Quan Âm các và đã gặp ni cô Giác Duyên, bà đã cho Kiều sang ở tạm nhà Bạc bà, một Phật tử thường hay lui tới chùa. Bạc bà đã khuyên Kiều lấy cháu mình là Bạc Hạnh, qua tay Bạc Hạnh, một lần nữa Kiều lại bị bán vào lầu xanh. Ở lầu xanh, Kiều "ngậm đắng nuốt cay" sống cuộc sống ô nhục. Một ngày đẹp trời, có một người khách ghé qua chơi, đó là Từ Hải, một anh hùng lừng danh thời đó, hai bên đã phải lòng nhau và Từ Hải chuộc Kiều về chốn lầu riêng. Sống với nhau được nửa năm, Từ Hải lại "động lòng bốn phương" mà ra nơi biên thuỳ chinh chiến. Sau khi Từ Hải chiến thắng trở về, mang binh tướng tới đón Kiều làm lễ vu quy. Lúc vui mừng cũng là lúc Thuý Kiều nghĩ đến những ngày "hàn vi", nàng kể hết mọi chuyện cho Từ Hải và muốn có sự "ân đền oán trả". Những Bạc bà, Bạc Hạnh, Sở Khanh,... đều bị chịu gia hình, còn những vị sư đã giúp đỡ Kiều trong cơn hoạn nạn đều được thưởng. Riêng Hoạn thư nhờ khéo nói "Rằng tôi chút phận đàn bà. Ghen tuông thì cũng người ta thường tình" nên được tha. Sau đó Kiều có gặp sư Giác Duyên, được bà báo rằng năm năm nữa hai người sẽ gặp nhau vì Kiều còn phải trải qua nhiều lận đận chưa đoàn tụ ngay được với gia đình. Hồ Tôn Hiến bấy giờ là một quan tổng đốc của triều đình, mang nhiệm vụ đến khuyên giải Từ Hải đầu hàng và quy phục triều đình. Hồ Tôn Hiến đã bày mưu mua chuộc Thuý Kiều, đánh vào ham muốn có một cuộc sống "an bình" của phụ nữ, nàng đã thật dạ tin người và xiêu lòng nghe theo lời Hồ Tôn Hiến về thuyết phục Từ Hải ra hàng. Sau đó, Hồ Tôn Hiến đã thừa cơ bao vây, nhìn thấy Từ Hải, Thuý Kiều định lao tới để tự vẫn nhưng chàng bị mắc mưu và đã "chết đứng giữa đàng". Hồ Tôn Hiến đang đà thắng đã ép Kiều phải "thị yến dưới màn", Thuý Kiều đã khóc thương và xin được mang Từ Hải đi chôn cất, Hồ Tôn Hiến đã chấp nhận cho "cảo táng di hình bên sông". Sáng hôm sau, để tránh lời đàm tiếu về mình, Hồ Tôn Hiến đã gán ngay Kiều cho người thổ quan. Trên con thuyền, Kiều nhớ tới lời của Đạm Tiên xưa đã nói với mình trong mộng "Sông Tiền Đường sẽ hẹn hò về sau", nàng đã quyết định nhảy xuống sông tự vẫn. Về phần Kim Trọng, sau khi hộ tang chú xong, quay trở lại thì biết tin gia đình Kiều gặp nạn, Kiều đã bán mình chuộc cha. Kim Trọng đau xót nhưng được mọi người trong nhà khuyên can hết lẽ, chàng nghe theo lời dặn của Kiều và đón cha mẹ Kiều cùng Thuý Vân sang nhà chăm lo phụng dưỡng, đồng thời vẫn đưa tin tìm kiếm nàng khắp nơi. Tuy "sâu duyên mới" nhưng chàng lại "càng dào tình xưa". Vương Quan và Kim Trọng sau đó đều đỗ đạt và làm quan. Sau nhiều ngày tháng tìm kiếm thì hai người mới dò la được thông tin của Thuý Kiều là đã trầm mình dưới sông Tiền Đường. Ra đến sông, mọi người gặp sư Giác Duyên ở đó, được biết là Thuý Kiều đã được bà cứu mang về cưu mang. Sau đó, mọi người được dẫn về gặp lại nàng Kiều, "mừng mừng tủi tủi". Sau mười lăm năm lưu lạc, Thuý Kiều đã trở về đoàn viên với gia đình. Nhưng nàng chính là người sợ việc đoàn viên hơn ai cả. Trong việc tái ngộ này, Thuý Vân chính là người đầu tiên đã lên tiếng vun vào cho chị. Nàng ghi nhận tấm lòng của Kim Trọng nhưng tự thấy mình không còn xứng đáng với chàng nữa. Tuy rằng ngoài mặt hai người đã đồng ý nhưng hai người đã thầm nói sẽ trở thành bạn "chẳng trong chăn gối, cũng ngoài cầm thơ".

Truyện Kiều bản Chiêm Vân Thị dưới tựa Thúy Kiều Truyện tường chú
  • Ông Nghè Vũ Thì Mẫn, sau đổi là Vũ Đức Mẫn (1795-1866), người ở làng Hội Thống, nay thuộc xã Xuân Hội, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, đậu Cử nhân khoa Ất Dậu – Minh Mạng 6 (1825), đậu Tiến sĩ khoa Bính Tuất (1826). Ông được coi là người đầu tiên bình luận về Truyện Kiều, tức Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du và Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân (Thánh Thán) qua đôi câu đối như sau:
Bạc mệnh trầm nhân, giai tác do ư giai sự (Mệnh bạc dìm người. Tác phẩm hay nhờ chuyện hay mới có)
Kỳ tài diệu bút, Thanh Hiên viễn quá Thanh Tâm (Bút hoa tài lạ. Ông Thanh Hiên vượt xa ông Thanh Tâm)
  • Những câu đối vịnh Kiều khác:
Kim Trọng khóc Thúy Kiều, mê rồi lại tỉnh
Thúy Kiều xa Kim Trọng, lấy hiếu làm trinh
Kiều lỗi ước nguyền, bởi hiếu nặng bán mình trả hiếu
Trọng vì tang tóc, để hoa trôi dở bước tìm hoa
Như khóc như than, bốn dây giỏ máu mười đầu ngón
Chữ tài chữ mệnh, mười khúc ngâm tiên một vẫy tay
  • Những câu đối vận dụng truyện Kiều:

1 - Câu đối tóm tắt Truyện Kiều:

Trăm năm trong cõi người ta, Kim Kiều thế mà thật lắm chuyện
Mua vui cũng được Đoạn Trường, Tân Thanh đến vậy mới truyền đời

2 - Câu đối đề tướng vôi trước cửa đền:

Mặt phi thường hàm én râu hùm, trơ như đá, vững như đồng, ngàn xưa âu cũng thế
Tay tế độ thanh gươm yên ngựa, dưới trông vào trên nhắm xuống, một đời được mấy anh

3 - Câu đối đề ảnh thờ mẹ và vợ:

Làn thu thủy, nét xuân sơn, mỗi người một vẻ
Đức cù lao, duyên hội ngộ, bên hiếu bên tình

4 - Câu đối ngày tết đề nhà nghệ sĩ:

Hoa đào cười gió, một bức Đạm Thanh, màu son phấn cũng ngây mặt sắt
Con én đưa thoi, bốn dây to nhỏ, bậc cung thương đến tạc chữ đồng

5 - Câu đối mừng vợ chồng mới cưới:

Trai anh hùng, gái thuyền quyên, phỉ nguyền sánh phượng
Kẻ thiên tài, người quốc sắc, đẹp duyên cưỡi rồng

6 - Câu đối viếng thi sĩ Tản Đà:

Đòi phen chén rượu câu thơ, “Giấc mộng” còn in trên gối đó
Phút chốc mây ngàn hạc nội, “Khối tình” nào biết gửi ai đây

7 - Câu đối phường bát âm điếu bạn đồng nghiệp:

Hóa công phũ phàng chi, lòng trắc tị, lòng chung thiên, gảy khúc đoạn trường càng tức tối
Tri âm cam tệ với, rằng hành vân, rằng lưu thủy, ngâm câu tuyệt diệu ngụ tính tình

8 - Câu đối điếu bạn đồng liêu:

Đời được mấy anh hùng, nô nức gần xa người một hội
Cuộc trải qua dâu bể, than ôi tan hợp cõi trăm năm

9 - Câu đối dán ở của buồng người vợ lẽ:

Khi vào dùng dắng, khi ra vội…
Nỗi đêm khép mở nỗi ngày riêng…
  • Nhân dịp từ đường Nguyễn Du khánh thành (năm 1924) tại Tiên Điền, Hội Khai trí Tiến Đức, Hà Nội có viếng hai đôi câu đối:
Trăm năm để tấm lòng, còn nước còn non còn truyền cổ lục
Tấc thành dâng một lễ, nhớ người nhớ cảnh nhớ buổi hôm nay
Khúc nhà tay lựa nên chương, thông minh tính sẵn
Ngụ tình nên câu tuyệt diệu, bút pháp đã tinh
  • Trong dịp kỷ niệm 200 năm sinh Đại thi hào Nguyễn Du, một số nhân vật đã làm câu đối viếng tặng cụ (được đăng trên báo Sài Gòn) như sau:

1 - Câu đối của Giáo Sư Thẩm Quỳnh:

Phong tư tài mạo khác vời, muôn đời chưa quên, nhường treo giải nhất
Sau trước xa gần khen ngợi, trăm năm trong cõi, vẹn vẻ hòa hai

2 - Câu đối của Thi Sĩ Đông Hồ:

Những đấng tài hoa, giá ngọc càng cao trong buổi mới
Một thiên tuyệt bút, cảo thơm lần giở nhớ người xưa
  • Các nho sĩ ở Huế có làm đôi câu đối tặng cho ông Nghè Mai, tức Nguyễn Mai cháu của Đại thi hào Nguyễn Du, đậu Tiến sĩ năm 1904 và cũng là câu đối ca ngợi Truyện Kiều:
Thúy Kiều truyện thị cố gia văn dịch thế trâm anh hà tất nghê thường thiên thường ký
Lục y long do thiếu niên khách song Kiều hồng phấn tranh khan quỳnh thụ tuyết lan khai
  • Câu đối của Nhà Văn Hoàng Phủ Ngọc Tường:
Trời sẵn tính thông minh, dằng dặc sơn hà một dải
Đất sinh người tuấn kiệt, rõ ràng văn hiến ngàn năm
  • Xóm hồng lâu, buổi tối nọ xảy ra một tấn bi hài kịch: hai cha con là Hoàng Văn Thiệm (1876 - 1938) và Hoàng Văn Phẩm (1905 - 1953) chạm trán nhau…Hai thế hệ không biết làm thế nào để thoát hiểm mà khỏi thương tổn đến thể diện, liền cùng quay lại quy hết lỗi cho giai nhân. Giai nhân ở đây tên Hoàng Thị Gặm (1902 - 1940) vừa là người làng mà còn ở trong họ đồng tông, biết cha con nhà này giàu có nên vừa cặp với cha đồng thời kết hợp moi tiền của con.
Người con mắng: Chẳng hổ mình sao, dám đem trần-cấu dự vào bố…
Bố cũng mắng: Tuồng gì hoa thải, mượn màu son phấn đánh lừa con…
Tư tưởng thì quả là chẳng đáng mặt trượng phu tí nào khi trút hết tội lỗi cho giai nhân như thế. Nhưng xét về đối đáp thì thật là nhất khí, vì mỗi vế lấy ngay ở hai câu 6-8 liền nhau: "Nghĩ mình chẳng hổ mình sao, dám đem trần-cấu dự vào bố kinh" và "Tuồng gì hoa thải hương thừa, mượn màu son phấn đánh lừa con đen".
  • Một cặp câu đối khác dùng để dán trước bàn thờ của hai anh chị; lưu ý khẩu khí ghen tuông của người vợ nhỏ viết câu đối:
Cùng một tiếng đồng, chớ nề u hiển mới là chị (Đáng lẽ: Chớ nề u hiển mới là chị em)
Cách năm mây bạc, tấm lòng nhi nữ cũng xiêu anh (Đáng lẽ: Tấm lòng nhi nữ cũng xiêu anh hùng)
  • Câu đối Kiều ở hiệu ảnh Hương Ký:

Thời Pháp thuộc ở Hà Nội có hiệu ảnh Hương Ký, chủ hiệu là người hay chữ sáng kiến ra lối quảng cáo bằng thi câu đối, có lần ra một vế đối bằng văn Kiều:

vế ra: Nhà Hương cao cuốn bức là, tài tử giai nhân mỗi người một vẻ
Chủ hiệu ra điều kiện rằng trong vế đối cũng dùng văn Kiều mà phải có chữ “Ký” chọi với chữ “Hương”, nghĩa là cốt để cho không ai lĩnh được thưởng, vì trong Kiều không làm gì có câu đối lại được như thế. Thấy thế, có người gửi lại một vế đối sau:
vế đối: Cô Kỳ thấp buông quần lĩnh, anh hùng hào kiệt rày ước mai ao

Truyện Kiều[sửa]

Tranh miêu tả cảnh chị em Thúy Kiều gặp gỡ Kim Trọng trong ngày Tết Thanh Minh
  • Đối đáp về nhân vật Sở Khanh:
vế xướng "Trăm điều hãy cứ trong vào một ta": Trăm nỗi bâng khuâng góp chuyện lòng, điều chi mà ngại nghĩa non sông, hãy buông lá thắm xuôi dòng vắng, cứ để hoa đào cợt gío đông, trông nẽo lầu thơ chờ hạnh ngộ, vào trong giấc mộng đợi tao phùng, một phen tâm sự hòa theo nhạc, ta sẽ cùng nhau viết thủy chung
vế họa "Ði đâu chẳng biết con người Sở Khanh": Ði mãi đường xa đã biết lòng, đâu còn mơ tưởng núi cùng sông, chẳng đem thơ ấy treo lầu vắng, biết chọn hoa nào bán chợ đông, con mắt chưa từng xanh thế tục, người quen đành tạm trắng tương phùng, Sở Tần xin nhắn thà xa cách, khanh tướng đâu mà nghĩ đỉnh chung!
  • Giai thoại đố kiều bằng phép chiết tự:
Trong một lễ hội, người con gái thách đố: Truyện Kiều anh giảng đã tài, đố anh giảng được câu này anh ơi, "biết thân đến bước lạc loài, nhị đào thà bẻ cho người tình chung".
Chàng trai cũng ất am tường truyện Kiều đặc biệt là sự tinh tế tài hoa trong việc nhận diện nghệ thuật chiết tự đã được cô gái khéo léo đan cài vào ba chữ cuối cùng của câu thơ “Nhị đào thà bẻ cho người tình chung” nên chàng đã từ tốn trả lời:
vế đối: Đi ngang trước của nàng Kiều, dừng chân đứng lại dặt dìu với ta. Tình chung nào phải ai xa, chính chàng Kim Trọng vào ra sớm chiều (hai chữ Kim Trọng (金重) nếu ghép lại thì thành chữ Chung (鍾) ý nói chung tình)
  • Giai thoại đối đáp Truyện Kiều ở phường Vải - Nghệ An:
Khởi đầu, bên nữ ra: Truyện Kiều anh đã thuộc làu, đố anh kể được một câu hết Kiều
Không cần suy nghĩ lâu, bên nam lấy ngay câu đầu và câu kết của Truyện Kiều chắp lại trả lời luôn: Trăm năm trong cõi người ta, mua vui cũng được một và trống canh
Bên nữ thách tìm chữ: Truyện Kiều anh đọc đã nhiều, đố anh kể được câu Kiều năm “CHO”?
Bên nam nghĩ một lúc thì tìm ra được 2 vế đáp:
Câu thứ nhất: Làm CHO CHO mệt CHO mê, làm CHO đau đớn ê chề CHO coi
Câu thứ hai: Đã CHO lấy chữ hồng nhan, làm CHO CHO hại CHO tài CHO cân
Bên nữ lại dồn luôn một câu tìm chữ khác: Truyện Kiều anh đã thuộc làu, đố anh kể được một câu 5 “CÒN”
Bên nam trả lời liền: CÒN non CÒN nước CÒN dài, CÒN về CÒN nhớ đến người hôm nay
Biết bên nam không phải tay vừa, bên nữ chuyển hướng hóc búa hơn: Truyện Kiều anh đã thuộc lòng, đố anh kể được một dòng chữ Nôm (về vế ra này có sách ghi câu của bên nữ rằng: Truyện Kiều anh đã thuộc làu, đố anh kể được một câu 6 người hoặc Truyện Kiều anh đã thuộc làu, đố anh kể được một câu năm “NÀY”)
Bên nam đắn đo đôi chút rồi cũng có câu đáp: NÀY chồng NÀY mẹ NÀY cha, NÀY là em ruột NÀY là em dâu (vế này toàn là chữ Nôm nhưng cũng đủ 5 chữ Này và lại có đủ cả 6 người theo yêu cầu của vế ra: chồng là Kim Trọng, cha mẹ là Vương Ông và Vương Bà, em ruột gồm Thuý Vân và Vương Quan, còn em dâu là vợ Vương Quan)
Bên nữ lại ra: Truyện Kiều anh đã thuộc lòng, đố anh kể được một dòng chữ Nho
Bên nam đối lại: Hồ công quyết kế thừa cơ, lễ tiên binh hậu khắc cờ tập công
Bên nữ tiếp: Nghe đồn anh thuộc Kiều lầu, xin anh kể được một câu năm người
Bên nam tìm được liền: Trước là Bạc Hạnh - Bạc Bà, bên là Ưng - Khuyển bên là Sở Khanh (câu 2379-2380)
Bên nữ tiếp tục đọc: Đồn rằng anh thuộc truyện Kiều, thuyền quyên xin hỏi mấy điều phân minh, năm nào Kiều lấy Thúc Sinh? Năm Nào kiều phải bán mình chuộc cha?
Nguyễn Du nào có cho biết năm nào Kiều lấy Thúc Sinh? Bên nam bèn gỡ rối bằng đòn “gậy ông đập lưng ông” thách đố lại: Thiếp hỏi chàng thế thì cũng phải, chàng hỏi thiếp Từ Hải con ai? Lẽ ra Kiều ả Vân em, cớ sao lại gọi là Kim – Vân – Kiều?
Xem chừng đối thủ này cũng hơi xương, bên nữ liền thăm dò: Trăm năm tính cuộc vuông tròn, phải dò cho đến ngọn nguồn lạch sông. Phải đâu mèo mả gà đồng, thuyền quyên muốn hỏi anh hùng trước sau. Ba quân chỉ ngọn cờ đào, đạo ra Vô Tích đạo vào Lâm Tri. Thế còn một đạo làm chi, trai anh hùng giải được, gái nữ nhi chịu tài
Khi đó các chàng nho sĩ cũng phải trả lời theo ý tứ đó: Vì ai chiếc lá lìa cành, khi săn như chỉ khi mành như tơ. Trót công rày đợi mai chờ, phải người trăng gió vật vờ hay sao. Ba quân chỉ ngọn cờ đào, đạo ra Vô Tích đạo vào Lâm Tri. Ắt còn một đạo binh uy, ở nhà giữ chốn biên thùy cho nghiêm. Anh hùng tỏ với thuyền quyên, chữ tình càng mặn, chữ duyên càng nồng!
“Đối ra đáp đã nên lời…”, đã cảm phục tài lẫn nhau. Ở phần hát xe kết và hát tiễn, hai bên nam nữ đều chọn những câu với nội dung tỏ rõ tình yêu son sắt thuỷ chung để bày tỏ. Bên nữ nói: Bây giờ gặp gỡ nhau đây, mà lòng đã chắc những ngày một hai. Khăng khăng cửa đóng then gài, nhị đào chờ đợi con người tình chung
Bên nam trả lời: Hai ta quyết chí hai ta, đá vàng cũng quyết phong ba cũng liều. Tóc tơ căn vặn hết điều, hôm sau hẹn gặp Kim Kiều kết giao
  • Ở vùng nọ có một cô gái đẹp mà có tài ăn nói, mở một quán nước bên đường để kén chồng. Các cậu cống anh đồ nghe tin kéo đến rất đông. Chàng nào cũng hăm hở tưởng mười mươi là chiếm được người đẹp; nhưng khi đến hăm hở chừng nào thì khi về lại tiu nghỉu chừng nấy, vì chưa có ai địch lại được mồm mép chua ngoa đáo để của cô gái. Một hôm, có một nho sinh nọ, chẳng biết là định đến thử tài hay là tình cờ qua đường vào quán nghỉ chân. Cô gái quen như mọi bận, lại giở cái giọng "đàn chị" ra để trêu chọc, nhưng thò ra câu nào đều bị anh chàng đập lại chan chát, thành ra cô ta đã có phần nao núng. Cuối cùng, cô ta bèn đọc một câu:
vế ra: Khen cho con...mắt tinh đời! Anh hùng đoán giữa trần ai mới già
Khi đọc cô nhấn mạnh ba tiếng khen cho con, nghỉ một tí rồi mới đọc nốt ba tiếng sau thành câu thơ có nghĩa: "Bà khen cho con đấy con ạ! Vì con cũng có cặp mắt tinh đời đấy". Nho sinh vốn là một thanh niên nhanh trí, thấy cô gái nhấn mạnh ba tiếng khen cho con thì đã hiểu ngay cái ý xỏ xiên của cô ta, anh ta bèn "tương kế tựu kế", đọc ngay một câu trong Truyện Kiều như sau:
vế đối: Vả bây giờ...mới thấy đây, mà lòng đã chắc những ngày một hai
Nhưng lúc đọc anh ta dằn mạnh ba tiếng vả bây giờ, cũng nghỉ một tí mới đọc tiếp ba tiếng sau, thành thử câu thơ lại có nghĩa là: "Cô nói hỗn với tôi thì tôi vả cho bây giờ, để cho cô thấy tôi đây là người như thế nào". Cô gái là người tinh tế, thấy nho sinh nọ trả lời mình cũng bằng một câu Kiều với ý nghĩa hóm hỉnh như vậy thì vừa phục vừa thẹn, mặt đỏ au lên, và lặng thinh ngồi mân mê tà áo chẳng biết trả lời ra sao nữa.
  • Thời kỳ kháng chiến chống Pháp, có đồng chí bộ đội tên Phạm Khoa Học (1930 - 1999) một lần đi công tác lên mạn ngược, trên đường gặp một cô gái người dân tộc Lô Lô. Mặt cô bịt kín nhưng bàn tay trắng trẻo đang đứng rửa mặt dưới suối, đồng chí này đến gần tán tỉnh rồi cũng giả vờ trượt chân va vào cô rồi cầm vào cổ tay để kéo cô khỏi ngã.
Bất chợt cô gái đọc: Người đâu vô ý vô tâm, chửa trông thấy mặt đã cầm cổ tay. Truyện Kiều có bốn câu hay, chàng mà nói được thiếp theo ngay về nhà
Đồng chí bộ đội của chúng ta vắt óc nghĩ nhưng không ra 4 câu gì gọi là hay, vì Truyện Kiều có mấy ngàn câu mà câu nào chẳng có ý nghĩa, sau cùng đành buông xuôi đánh trống lảng rồi chuồn thẳng.
vế đối: Người đâu gặp gỡ làm chi, ngày xuân lắm lúc đi về với xuân, ngỏ lời nói với băng nhân, kiếp này ai lại còn cầm gặp đây (Trích Truyện Kiều - Nguyễn Du) (Câu đầu là câu thứ 181, kề tiếp đoạn Kiều gặp Kim. Câu thứ hai là câu 1294, đoạn Kiều gặp Thúc Sinh. Câu thứ ba là câu 2207, đoạn Kiều gặp Từ Hải. Câu cuối là câu 3022, đoạn Kiều gặp lại Kim Trọng sau 15 năm đoạn trường xa cách. Câu đầu lấy 2 chữ "Người đâu" trong câu 1 của vế ra; ý nói cô gái đã có tình cảm khi gặp anh bộ đội. Câu 2 ý nói cô vẫn chưa có người yêu. Câu 3 ý nói anh bộ đội nếu yêu cô hãy nhờ người làm mai đến nhà thưa chuyện với ba mẹ của cô chứ đừng cầm tay cô giữa suối mà thiên hạ cười chê. Câu cuối ý nói cô luôn một lòng chung thủy và chờ đợi anh về sau ngày chiến thắng. Câu cuối lấy gợi ý từ "cầm cổ tay" của câu 2 vế ra. Chọn 4 câu trên vì liên quan đến 3 người đàn ông hết lòng yêu Thúy Kiều, nhằm nói hộ tấm lòng cô gái mong anh yêu cô với một tình yêu chân tình, cao quý và bền vững trước mọi thử thách của cuộc đời) (Trường Văn Nguyễn Phước Thắng)
  • Hai bài tập Kiều đối đáp của Phlanhoa và Hoàng Kim:
Bài GỬI NGƯỜI XUÂN TỰ BƯỚC CHÂN của Hoàng Kim: Còn nhiều hưởng thụ về sau, cơ duyên nào đã hết đâu vội gì? Người đâu gặp gỡ làm chi, văn chương nết đất thông minh tính trời, Khen cho con mắt tinh đời, duyên ta mà cũng phúc trời chi không? Hoa hương càng tỏ thức nồng, gặp tuần đố lá thỏa lòng tìm hoa. Khúc đâu đầm ấm dương hòa, chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài! Chút chi gắn bó một hai, dầu lòng bể rộng sông dài thênh thênh
Bài đáp lại với tựa đề "Gửi người quân tử đa tình" của Phlanhoa: Kiếp hồng nhan có mong manh, đố ai gỡ mối tơ mành cho xong. Tóc tơ căn vặn tấc lòng, hỏi điều thẹn phấn tủi hồng thì thôi. Thiền trà cạn nước hồng mai, nước non luống những lắng tai Chung Kỳ. Thấy lời tâm phúc tương tri, dễ đem gan óc đến nghì trời mây. Ngẫm duyên kỳ ngộ xưa nay, phúc nào đổi được giá này cho ngang?
Tên bài tập Kiều của Hoàng Kim bắt nguồn từ bài đường luật của Phlanhoa hoạ bài thơ “Vịnh mùa đông” của Nguyễn Công Trứ, Trong đó câu kết là “Muốn đến mùa xuân tự bước chân”. Bài này thực ra Phlanhoa hoạ không đúng với phép hoạ thờ Đường luật, nhưng Hoàng Kim lại bảo anh thích bài thơ đó, nên lấy tên làm vầy. Hai câu: “Còn nhiều hưởng thụ về sau/Cơ duyên nào đã hết đâu, vội gì?” ở trong bài tập Kiều: “Gửi quân thần nỗi niềm non nước” của Phlanhoa. Hoàng Kim lấy đó nối vào để có cớ đóng vai “quân thần” ghẹo đùa cho bài tập Kiều gửi cho Phlanhoa
  • Những câu đố Kiều gắn với thời đại mới:
Bên gái ra: Kim Kiều có phải công nhân, xưa kia từng đã góp phần đấu tranh?
Bên trai đáp: Kim Kiều chính cánh thợ ta, đem tình cầm sắt đổi ra cầm cờ!
Bên gái lại ra: Thời Kiều đã có ngân hàng, em đây chưa tỏ xin chàng chỉ cho?
Bên trai lại đối: Nhà băng…đưa mối rước vào, tiền nong thanh toán việc nào chẳng xong?
Bên gái ra nữa: Chập chờn cơn tỉnh cơn mê, đâu Kiều nào nói đến nghề tráng gương?
Bên trai đáp: Mười lăm năm bấy nhiêu lần, làm gương cho khách hồng quần thử soi!
Bên gái tiếp tục: Nổi danh tài sắc đủ điều, tại sao lại bảo nàng Kiều sứt răng?
Bên trai vẫn trả lời được: Hở môi ra những thẹn thùng, sứt răng nàng sợ chúng trông bạn cười!
Bên gái hỏi nữa: Song thu đã khép cánh ngoài, nàng Kiều chung chạ có thai bao giờ
Bên trai đối ngay: Lỡ từ lạc bước bước ra, thất kinh nàng chửa biết là làm sao!
Bên gái vẫn tiếp nữa: Đến đây hỏi khách cựu giao, chàng Kim đau bụng thế nào chàng ơi?
Bên trai chẳng phải đơn giản: Khi tựa gối khi cúi đầu, khi vò chín khúc khi chau đôi mày!
Bên nữ lại ra: Tiện đây hỏi thật một điều, em đây chưa biết nàng Kiều ai sinh?
Bên nam đáp: Hổ sinh ra phận tơ đào, nàng Kiều…hổ đẻ, chứ nào ai sinh!
Bên nữ tiếp tục: Truyện Kiều anh đã thuộc làu, đố anh biết được cô nào sinh đôi?
Bên nam trả lời: Đầu lòng hai ả tố nga, hai con đầu cả…ắt là sinh đôi!
Bên gái lại ra: Sinh ra thời buổi chiến chinh, Thúy Kiều có lấy thương binh không chàng?
Bên trai đáp: Một tay trời bể ngang tàng, chồng Kiều - Từ Hải rõ ràng thương binh!
Bên gái vẫn ra nữa: Đố Kiều có lắm điều hay, nghề đan bồ hỏi anh nay ai làm
Bên trai trả lời: Thúc Sinh tính chuyện vuông tròn, phải dò cho đến ngọn nguồn lạch sông? (khi đan bồ, phải đan đáy hình vuông trước, rồi sau đó mới đan tròn phía trên và vật liệu đan bồ là nứa phải lấy từ rừng về)
Bên gái ra nữa: Truyện Kiều bạn đã thuộc lòng, đố ai gầy nhất ở trong Truyện Kiều?
Bên trai đáp: “Râu hùm hàm én mày ngài, vai năm tấc rộng thân mười thước cao (Bối cảnh Truyện Kiều là năm Gia Tĩnh đời Minh. Theo website Sử Trung Quốc đời Minh của Viện Đại học Cambridge (Kiếm Kiều Trung Quốc Minh đại sử), trong chế độ đo lường đời Minh (Minh đại độ lượng hành chế) thì hệ thống đo chiều dài (trường độ) đời Minh như sau: 1 xích = 10 thốn = 12,3 Anh thốn (inch), 1 bộ = 5 xích, 1 trượng = 10 xích, 1 lý = 1/3 Anh lý (mile) = 1/3 x 1,609km. Theo đó, 1 thước (xích) = 10 tấc (thốn) = 12,3 inches = 12,3 x 2,54cm = 31,242cm. Tức là 1 thước (xích) = khoảng 1/3m; 1 tấc (thốn) = khoảng 3cm. Do đó vóc dáng Từ Hải có thể tính như sau: “Vai năm tấc rộng” = khoảng 15cm; “Thân mười thước cao” = khoảng 3m. Vóc dáng như vậy là không bình thường, thậm chí phi lý. Theo hệ thống đo lường trên đây, Từ điển Truyện Kiều của Đào Duy Anh nói “có ý kiến cho rằng thời Minh một thước chỉ ăn hai tấc” tất nhiên là sai; còn giảng “một tấc là phần mười của một thước” thì đúng. Cho dù một thước (xích) Trung Quốc dài bao nhiêu đi nữa tuỳ theo thời đại nhưng theo kỹ thuật dựng hình trong hội hoạ, một thân thể như vậy thì chẳng cân đối tí nào, cho nên nhiều nhà nghiên cứu Truyện Kiều hầu như đều đồng ý rằng lối miêu tả của Nguyễn Du (1765-1820) về nhân vật Từ Hải chỉ có tính cách ước lệ)
Lần này, không để cho bên gái nói tiếp, bên trai chủ động ra trước: Ai cắt buông trứng đi rồi, mà còn đẻ giống sinh nòi hở em?
Bên gái đối luôn: Hoạn bà bà hoạn chứ ai, hoạn rồi mà vẫn sinh nòi Hoạn Thư
Bên trai lại dồn: Truyện Kiều em đọc đã làu, đố em kể được một câu “giữa” Kiều
Bên gái suy ngẫm một lát mới đối được: Tiên thề cùng thảo một chương ,tóc mây một món dao vàng chia đôi

Hồ Xuân Hương[sửa]

tranh vẽ Hồ Xuân Hương

Hồ Xuân Hương là con ông Hồ Phi Diễn, làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu Nghệ An. Theo một số tài liệu dẫn chứng: Hồ Sĩ Anh đời nhà Lê sinh bốn người con trai : Hồ Thế Viêm, Hồ Phi Quyền, Hồ Phi Cơ, Hồ Phi Tích (1665-1734 đậu Hoàng giáp năm 1700). Hồ Thế Viên là ông Tổ bốn đời của anh em nhà Tây Sơn đã đổi từ họ Hồ sang Nguyễn, còn Hồ Phi Cơ là ông tổ bốn đời của Hồ Phi Mai tức nữ sĩ Xuân Hương. Như vậy 3 anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ và Hồ Xuân Hương là anh em cùng họ ông tổ năm đời. Ông Hồ Phi Diễn thi đậu tú tài năm 24 tuổi dưới triều Lê Bảo Thái. Nhà nghèo không thể tiếp tục học, ông ra dạy học ở Hải Hưng, Hà Bắc, để kiếm sống. Tại đây ông đã lấy cô gái Bắc Ninh, họ Hà, làm vợ lẽ - Hồ Xuân Hương ra đời là kết quả của mối tình duyên đó. Trước khi nữ sĩ chào đời, gia đình thầy đồ Diễn dọn về ở phường Khán Xuân, huyện Vĩnh Thuận (gần Hồ Tây - Hà Nội bây giờ). Lúc Hồ Xuân Hương đã lớn, gia đình về thôn Tiên Thị, Tổng Tiên Túc, huyện Thọ Xương (nay là phố Lý Quốc Sư - Hà Nội). Ở tuổi thành niên, nữ sĩ có một ngôi nhà riêng dựng gần hồ Tây, lấy tên là Cổ Nguyệt đường, chiết tự họ Hồ của mình ra thành 2 chữ Cổ và Nguyệt. Hồ Xuân Hương ở với mẹ, có đi học, sáng dạ, thông minh, nhưng không được học nhiều, thích làm thơ. Bà lấy chồng muộn, xây dựng gia đình, nhưng chẳng mấy hạnh phúc. Quả thật cuộc đời Hồ Xuân Hương chỉ có hơn hai năm hạnh phúc ngắn ngủi với Trần Phúc Hiển (1816-1818). Từ lúc biết yêu lần đầu với Nguyễn Du. Chữ tình chốc đã ba năm vẹn (1790-1793) rồi Nguyễn Du phải về xây dựng lại làng Tiên Điền, rồi toan vượt biên theo chúa Nguyễn Ánh, bị bắt tù, mẹ gả Xuân Hương cho anh Lang xóm Tây làng Nghi Tàm, Xuân Hương không bằng lòng, nàng vẫn thương nhớ Nguyễn Du, rồi anh Lang mất sớm (1796). Rồi mối tình với Mai Sơn Phủ (1800-1801) chàng về quê cậy cha mẹ hỏi cưới thì biệt tích trong chiến tranh. Xuân Hương lánh nạn lên Vĩnh Yên gặp Tổng Cóc Nguyễn Công Hòa(1802-1804), bắt đầu cuộc đời mười năm lận đận, vợ cả ghen tuông, thân phận như nàng Tiểu Thanh, “Cầm bằng làm mướn mướn không công”, tình cảm nàng cũng bi đát, Tổng Cóc hùng hổ như chó ngao, nhưng làm tình như chuột vọc.: “Tiếc dĩa hồng ngâm cho chuột vọc, Thừa mâm bánh ngọt để ngao vầy”. Dứt tình với Tổng Cóc trở về Tây Hồ thì Nguyễn Du đã đi xa (1804). Xuân Hương mở hiệu sách ở phố Nam, buôn bán lỗ lã, con mất. Tốn Phong đến tán tỉnh nhưng chàng chỉ là anh đồ nghèo chạy vạy dạy học khắp nơi (1806). Xuân Hương “mẹ già, nhà túng” đi buôn khắp nơi, gặp Hiệp Trấn Sơn Nam Hạ Trần Quang Tĩnh, ngỏ lời cầu hôn, nàng chờ đợi thì Quang Tĩnh không thấy đến (1809), rồi loạn lạc với giặc Đặng Trần Siêu, Vũ Đình Lục (1810-1822) tình hình Sơn Nam Thượng bất an, người bạn thân Tử Minh mất để lại lớp học làng Nghi Tàm, Xuân Hương trở lại nghề dạy trẻ. Quan Tham Hiệp Yên Quảng Trần Phúc Hiển cầu hôn, đám hỏi chẳng bao lâu thì mẹ mất, phải cư tang mẹ, đến đầu năm 1816 Hồ Xuân Hương mới về Yên Quảng được hai năm thì chồng bị bắt và kết án tử hình. Xuân Hương đi tu rồi trở về làng Nghi Tàm chết trong cô đơn, không một bài thơ phúng điếu.

Tự thuật và ứng khẩu[sửa]

  • Câu đối vịnh cái Âm Hộ:
Khi khép tối om om, quân tử tò mò nhìn chăng thấy
Lúc mở ra toang hoác, anh hùng tấp tỉnh đứng coi
  • Ứng khẩu khi bị trượt ngã:

Hôm ấy, Hồ Xuân Hương cùng bạn bè ra phố dạo chơi, không may bà dẫm phải chỗ trơn trượt té sõng soài xuống đất. Người đi đường và bạn bè thấy vậy cười lăn cười bò, bà liền giơ tay trỏ lên trời đọc luôn đôi câu đối:

Giơ tay với thử, Trời cao thấp
Xoạc cẳng đo xem, Đất vắn dài
  • Hồ Xuân Hương khi du ngoạn qua cửa Gió ở Đèo Ngang, đã viết:
Khéo khen ai đẽo đá chênh vênh, tra hom ngược để đơm người đế bá
Gớm con tạo lừa cơ tem hẻm, rút nút nuôi cho lọt khách cổ kim
  • Câu đối Tết:
Đêm ba mươi tống cựu, khép cánh càn khôn, một then đưa đẩy khìn khin khít khịt
Sáng mồng một nghinh tân, mở lò tạo hóa, hai cánh banh ra toác toạc toàng toang
  • Câu đối nhận xét về tình duyên của mình:
Muôn kiếp biết là duyên trọn vẹn
Một đời riêng mấy tiếng chua cay
  • Hồ Xuân Hương và quan lớn:

Hôm ấy, một viên quan lớn trong triều đi vãn cảnh hồ Tây. Trời trong, nước xanh, cảnh vật đẹp đến nao lòng vì bao nhiêu tinh tú của đất trời dường như tụ hội cả ở nơi đây. Nơi mà tâm hồn nhạy cảm của bà nhìn ra và quyết định dừng lại an cư lập nghiệp chứ không tiến vào kinh thành Thăng Long - nơi bao văn võ bá quan, dân kinh kỳ kẻ chợ có máu mặt đều tìm vào - vì vị trí khuất nẻo so với kinh thành...Tiếng quân lính hô hét dẹp đường, cảnh võng lộng nghêng ngang, tiền hô hậu ủng, phá tan cảnh đẹp của bầu trời nơi đây. Xuân Hương đang giặt ở ven hồ thấy chướng tai gai mắt, liền buông rải quần áo ven bờ, điềm nhiên nhìn thẳng vào kiệu của quan đang đi tới, ngẫm nghĩ trong đầu, tìm tứ thơ, rồi đọc to:

Võng đào quan lớn đi trên ấy
Váy rách bà con giặt dưới này
Ví cái võng điều của quan lớn với váy rách của bà con quả là chua cay. Xem ra, quan thời xưa chả khác quan thời nay là mấy. Trong khi bà con khổ sở, cùng cực thì quan vơ vét hết cho bản thân. Nhà cao cửa rộng, vợ nọ con kia, còn ô dù võng lọng, nghêng ngang, quát lác, chỉ ăn tàn phá hại, có lợi gì cho dân đâu? Nghe câu đối, cả thầy, cả tớ trợn mắt nhìn Xuân Hương, thấy phong thái ung dung, ngôn từ sóc lỏi, độc địa, biết không thể là đối thủ để nạt nộ, đành lẳng lặng đi qua như không hề nghe thấy...Chuyện này mà để lan truyền ra khắp kinh thành Thăng Long thì mặt quan thành mặt mo, còn nhục hơn bị bà con dùng váy rách che lên mặt. Từ đó, như quả pháo xịt ngòi, quan mất hẳn thói nghêng ngang, hống hách, đi đâu bỏ hết lính dẹp đường ở nhà, Hồ Tây trở lại với khung trời cao rộng, cây xanh, nước biếc, đẹp mê hồn.
  • Hồ Xuân Hương có bài thơ Đường Luật dùng từ láy như sau:
vế ra: Tiếng gà bên gối tẻ tè te, Bóng ác trông lên hé hẻ hè, Cây một chồi cao von vót vót, Hoa năm sắc nở lóe lòe loe, Chim tình bè lứa kia kìa kịa, Ong nghĩa vui tôi nhé nhẻ nhè, Danh lợi mặc người ti tí tị, Ngủ trưa chưa dậy khỏe khòe khoe
vế đối: Mây rồng trên núi tủa tùa tua, Chốn Phật nom xa chúa chũa chùa, Trăng mỗi miệng cười tinh tĩnh tịnh, Cổng ba gian mở thủa thùa thua, Kệ non tiếng trúc vèo veo vẻo, Kinh nước hương sen lúa lũa lùa, Phúc đức dù duyên mon mỏn mọn, Làm lành hơn thỉnh bủa bùa bua (Trường Văn Nguyễn Phước Thắng)
vế đối khác: Ngáy chiều lăn chiếu khỏ khò kho, Nắng dọi mái hiên tó tỏ tò, Gió mấy đợt len vù vú vú, Cành dăm lần chạm rỏ ro rò, Tách trà sắp sẵn cách cành cạch, Khói bếp tỏa quanh mó mỏ mò, Người, việc kệ đời đo đó đọ, Nghỉ ngơi say tít nó nò no (Thiền Long)

Với các nhân vật đương thời[sửa]

Phạm Đình Hổ[sửa]

Phạm Đình Hổ tên chữ là Tùng Niên hoặc Bỉnh Trực, hiệu Đông Dã Tiều, tục gọi là Chiêu Hổ. Chiêu Hổ người làng Đan Loan, huyện Đường An, phủ Thượng Hồng, tỉnh Hải Dương (nay thuộc huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương). Sinh trong một gia đình khoa bảng, cha ông là Phạm Đình Dư, đậu cử nhân, làm Hiến sát Nam Định, thăng Tuần phủ Sơn Tây, rồi cáo quan về ở phường Hà Khẩu (Hàng Buồm) năm Giáp Ngọ (1774). Ngay từ nhỏ, Phạm Đình Hổ đã tỏ chí rằng: "Làm người con trai phải lập thân hành đạo...Lấy văn thơ nổi tiếng ở đời..." Tuy học & đọc nhiều sách (năm 9 tuổi, ông đã học sách Hán thư), nhưng ông chỉ đỗ đến sinh đồ (tức tú tài) vào khoảng cuối đời Chiêu Thống. Gặp buổi loạn lạc, vua Lê Chiêu Thống cho người chạy sang cầu viện nhà Thanh, rồi triều đình Lê Trịnh sụp đổ, nhà Tây Sơn lên cầm quyền... Suốt quãng thời gian này, Chiêu Hổ sống đời cơ hàn dạy học ở quê. Đến khi Gia Long lên ngôi, cho khôi phục lại việc học hành thi cử; ông có đi thi Hương ba lần, nhưng đều không đỗ. Hồi ấy ông đang dạy học ở phường Thái Cực, huyện Thọ Xương trong thành Thăng Long, hằng ngày rèn luyện học trò và biên soạn sách. Tại đây, ông kết bạn thơ với nữ sĩ Hồ Xuân Hương, dưới đây là những giai thoại đối đáp giữa hai người:

  • Những câu đối chào hỏi khi gặp gỡ:
Hồ Xuân Hương ra: Khấp như thiếu nữ vu quy nhật (Khóc như thiếu nữ vui ngày cưới)
Chiêu Hổ đối: Tiếu tự thư sinh lạc đệ thi (Cười như anh khóa lúc hỏng thi)
Chiêu Hổ hứng khởi lại ra: Người Cổ lại còn theo thói Nguyệt (Chữ cổ ghép với chữ nguyệt là chữ hồ, ý nói Hồ Xuân Hương đã lớn tuổi mà vẫn đa tình)
Hồ Xuân Hương đối: Buồng Xuân đâu đã nhạt mùi Hương (Chữ Xuân với ghép chữ Hương là tên, ý nói Hồ Xuân Hương này đâu đã phải là người “nhạt phấn phai hương”, đâu đã chịu già hom!)
Có thuyết nói cả 2 vế đều của Chiêu Hổ viết tặng Hồ Xuân Hương, vế sau thay chữ "đâu đã" bằng chữ "chi để". Câu đối ghép lại đủ cả tên họ bà, còn tách ra lại là sự trách khéo: "Đã tự coi là người cổ hủ, trọng nề nếp, gia phong lại còn thích thói hưởng nguyệt, xem hoa, lả lơi, thi phú ? Đang tuổi xuân thì còn hương sắc, mà không gìn giữ nền nếp, gia phong thì buồng xuân còn để lạnh đến bao giờ?
  • Lúc mới quen nhau, Chiêu Hổ còn ngại ngùng, Xuân Hương đùa:
Những bấy lâu nay luống nhắn nhe, nhắn nhe toan những sự gùm ghè, gùn ghè nhưng vẫn còn chưa dám, chưa dám cho nên phải rụt rè.
Chiêu Hổ cả thẹn nổi máu nóng anh hùng phản công liều lĩnh: Hỡi hỡi cô bay tớ bảo nhe, bảo nhe không được gậy ông ghè! ông ghè không được ông ghè mãi, ghè mãi rồi lâu cũng phải rè!
Ta thấy Chiêu Hổ mất bình tỉnh, lời thơ hồ đồ, nóng nảy. Tuy nhiên chúng ta thấy hai người đừa bởn rất thân tình.
  • Một hôm, Chiêu Hổ đến chơi nhà Hồ Xuân Hương, khi đi qua sân, đụng phải quần áo của nàng đang phơi. Hồ Xuân Hương xuất thần đọc: Tán vàng, lọng tía, che đầu nhau mỗi khi nắng cực
Chiêu Hổ đối lại: Thuyền rồng, mui vẽ, vém buồm lên rồi sẽ lộn lèo
  • Bữa nọ, Chiêu Hổ hơi men chếnh choáng ghé sang nhà Hồ Xuân Hương chơi, mượn cớ say rượu ông vừa nói chuyện vừa đưa tay quờ quạng lung tung, Hồ Xuân Hương biết Chiêu Hổ giả đò liền tức cảnh thành thơ:
Vẫn giả tỉnh vẫn giả say, sao anh ghẹo nguyệt giữa ban ngày? này này chị bảo cho mà biết, chốn ấy hang hùm chớ mó tay.
Chiêu Hổ đáp: 'Nào ai tỉnh nào ai say, nào ai ghẹo nguyệt giữa ban ngày? hang hùm ví bẳng không ai mó, ao có hùm con bỗng trốc tay?
Văn bản cổ nhất chép giai thoại này không gọi là thơ Chiêu Hổ mà ghi là thơ "Mắng người say rượu", các văn bản về sau dựa vào chữ hùm, hùm con nên cho rằng đó là của Chiêu Hổ đối đáp với Hồ Xuân Hương.
  • Năm 1804 sau khi thôi Tổng Cóc, Hồ Xuân Hương vay tiền Chiêu Hổ để mở hiệu sách ở Phố Nam gần đền Lý Quốc Sư, Xuân Hương vay năm quan tiền. Chiêu Hổ cho mượn có ba, Xuân Hương trách:
Sao nói rằng năm lại có ba? trách người quân tử hẹn sai ra, bao giờ thong thả lên chơi nguyệt, nhờ hái cho xin nắm lá đa.
Chiêu Hổ đáp: Rằng gián thì năm quí có ba, bởi người thục nữ tính không ra, ừ rồi thong thả lên chơi nguyệt, cho cả cành đa lẫn củ đa.
Xuân Hương trách Chiêu Hổ là Cuội, nói dối như Cuội ngồi gốc cây đa trên mặt trăng, có lẽ Chiêu Hổ cũng không giàu có lắm, nên mượn chuyện tiền quí với tiền gián mà trả lời. Ngày xưa một quan có mười tiền, tiền gián có 36 đồng, một quan bằng 360 đồng, do đó 5 quan bằng 1800 đồng. Tiền quí có 60 đồng; do đó 3 quan tiền quí bằng 60 X 3 = 1800 đồng. Xuân Hương tưởng mượn Chiêu Hổ tiền quí, nhưng Chiêu Hổ cho mượn tiền gián, trách Xuân Hương sao tính không ra.
  • Năm 1821, Phạm Đình Hổ dâng sách được vua Minh Mạng vời ra: Ông được bổ làm Hành Tẩu Viện Hàn Lâm. Xuân Hương năm ấy chồng Tham Hiệp Trần Phúc Hiển bị tử hình, trở về Cổ Nguyệt Đường, hay tin đã làm câu đối mừng Chiêu Hổ với lời đùa nhẹ nhàng:
Mặc áo Giáp, dãi cài chữ Đinh, Mậu Kỷ Canh khoe mình rằng Quý
Hồ Xuân Hương lấy những chữ trong thập can: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý ý muốn chế diễu Chiêu Hổ chỉ đỗ Tú Tài, nhờ dâng sách mà được làm quan nay mặc áo đẹp ra vẻ ta đây.
Chiêu Hổ nổi nóng, đối đáp bằng lời mắng nặng nề: Làm đĩ Càn, tai đeo hạt Khảm, Tốn Ly Đoài khéo nói rằng Khôn
vế đối lấy những chữ trong bát quái: Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn , Ly, Khôn, Đoài mắng Xuân Hương là 'con đi càn dỡ lại còn tự phụ, cho mình khôn'. Những lời mắng nặng nề ấy đã chấm dứt mối liên hệ giữa Xuân Hương và Chiêu Hổ. Trong thư hồi âm, đoạn cuối ông viết hai câu kết để cắt tình đoạn nghĩa với "bà chúa thơ nôm":
Nay đã mần cha thằng xích tử
Rầy thì đù mẹ cái hồng nhan
Xích tử là con đỏ, trỏ dân chúng. Theo Lê Thước, thì hai câu này là của Nguyễn Công Trứ - thân hai câu này là vô nghĩa lý: tại sao đã được mần cha thằng xích tử, thì lại đù mẹ cái hồng nhan! Không thèm đù nữa, hay lại đù hơn bao giờ hết? Chẳng qua đây là đối chọi chữ chan chát cho thích. Những chuyện tục truyền như thế này, rất có thể không phải là sự có thật (có ý kiến cho Chiêu Hổ chỉ là nhân vật trong giai thoại, không phải là Phạm Đình Hổ), nếu mà có thì như vậy thật đáng buồn biết chừng nào, Chiêu Hổ thì có vợ con, yên nhà yên cửa, tốt thân tốt thế, quan lớn sống lâu! Còn Xuân Hương thì lận đận, long đong, chưa bề nào! Hạ những lời đùa như thế giữa hai người tài tử ai đáng hơn ai?
Nhân vật khác[sửa]
  • Đối đáp với học trò:

Một hôm sau ngày mưa, Hồ Xuân Hương đến trường, giẫm phải hòn gạch dưới có bùn bắn lên tận cẳng chân (hồi đó con gái còn mặc váy) Hồ Xuân Hương phải ra cầu ao cúi xuống vén váy rửa cẳng chân. Một cậu học trò tinh nghịch trông thấy liền đọc một vế:

Nê nếnh do chi tầm hà xứ? (Đại ý: Bùn bắn lên cẳng chân để tìm cái gì trên ấy nhỉ?)
Hồ Xuân Hương liền đáp: Mạc tương thoá thủ tiếu anh hùng (Đại ý: Khi cúi xuống rửa tay thấy nó cười người anh hùng như cậu).
  • Đối đáp với Tổng Cóc (có thuyết khác nói cả 2 vế đều của Hồ Xuân Hương)

Trong thời gian theo cha về Sơn Dương dạy học, Hồ Xuân Hương được nhiều cậu Tú, anh Nho ngấp nghé chuyện riêng tư, trong những người đó có Tổng Cóc. Ông Tổng Cóc có tên thường gọi là Kình, quê ở làng Gáp, xã Tứ Xã (Lâm Thao, Phú Thọ). Khi đi lính lên chức Đội, gọi là Đội Kình. Khi làm Phó tổng được gọi là Tổng Kình. Tên chữ của Tổng Kình là Nguyễn Công Hòa. Cóc là tên gọi lúc còn bé. Gọi tên xấu xí thế cho tà ma bớt quấy. Sau này Hồ Xuân Hương có bài thơ Khóc Tổng Cóc nên dân làng mới gọi ông là Tổng Cóc. Tổng Cóc là con cháu quan nghè làng Gáp Nguyễn Quang Thành. Tương truyền Tổng Cóc kết thân với Tú Điếc làng Xuân Lũng và Nho Trâm người làng Kinh Kệ. Ba người quen biết Hồ Xuân Hương trong dịp họ đi thi Hương. Nhờ sự mối manh của họ, mà cụ Đồ Xứ người Nghệ An (đỗ đầu xứ nên khi dạy học họi là Đồ Xứ) đã dẫn con gái Hồ Xuân Hương về làng Sơn Dương cạnh làng Gáp để dạy học. Một hôm, nhân ngày Tết Nguyên đán, cậu Tú Kình cùng một số thư sinh đem biếu quà Tết cho cụ đồ Hồ Sĩ Danh, thân sinh Hồ Xuân Hương, bị Hồ Xuân Hương ra câu đối:

Tối ba mươi khép cánh càn khôn kẻo nữa ma vương đưa quỷ tới
Tú Kình đối lại: Sáng mồng một mở then tạo hoá để cho thiếu nữ rước xuân vào
Nhờ câu đối này, Tổng Cóc cưới Hồ Xuân Hương về làm vợ kế, đương nhiên bị vợ cả và con cái bất bình, nhưng vì “trai làm nên lấy năm bảy vợ”, nên họ phải ngậm đắng nuốt cay. Nhà Tổng Cóc giàu có, có khu ao hồ rộng liền với ao chạ trước cửa đình Chân. Khi cưới Xuân Hương về, ông làm chủ nhà thủy tạ ra hồ nước cho Hồ Xuân Hương dạy học và coi hồ cá cho có việc và để dân làng bớt dị nghị, ông thừa của chơi ngông lấy vợ lẽ về chỉ để ngắm nhìn, vì Hồ Xuân Hương đâu có biết việc đồng áng. Nhà thủy tạ ấy dân làng vẫn gọi là cái chòi. Hồ cá rộng chạy dài từ đình Chân ra gần Bờ Đỗi – một con đập dân làng đắp thêm để đủ hai đường đón hai vị tân khoa vinh quy bái tổ là hai cha con nhà họ Chử cùng đỗ Cống một khoa thi. Do họ đi đò từ Trịnh Xã về, không đi bằng đường bộ, nên con đập có tên là Bờ Đỗi. Thủy tạ là nơi họ thường cùng bạn văn chương ngồi ngắm cảnh, ngâm vịnh. Có khách, bà Hồ Xuân Hương lại sai người đi đánh cá dưới hồ lên đãi bạn. Cá mè dù to hay nhỏ, bà Hồ Xuân Hương chỉ ăn khúc giữa không bao giờ ăn đầu và đuôi. Chuyện này rồi lan ra khắp làng, khắp vùng để biêu riếu bà là người hoang phí. Thời gian sống chung với Hồ Xuân Hương, Tổng Cóc đã bảo bà viết bài văn dài vào bức vách nhưng bằng ván mỏng vào ngôi nhà cổ năm gian. Dân làng ghét bà nhất là người vợ cả già và người thân của bà ta. Họ đồn thổi bà Xuân Hương là ma mãnh không phải người thường. Một lão Tổng Cóc còn lấy tàu lá chuối tươi lành lặn đắp lên người Hồ Xuân Hương khi bà ngủ. Nếu là người thường ngủ say không biết gì sẽ đè nát tàu lá, còn nếu là ma thì sẽ biết bỏ tàu lá ra. Quả nhiên sáng ra Tổng Cóc thấy tàu lá còn nguyên được vứt ra khỏi giường, ông càng hoài nghi Hồ Xuân Hương. Không khuyên nhủ được vợ kế sống hòa nhập với cộng đồng, Tổng Cóc bực mình. Một lần vợ chồng có va chạm, Tổng Cóc giận dỗi viết thư trách móc để dưới gối rồi bỏ đi xa một thời gian, khi Tổng Cóc về thì Hồ Xuân Hương đã không từ mà biệt. Mãi lâu sau Tổng Cóc mới dò la biết Hồ Xuân Hương đang sống trong phủ Vĩnh Tường, tính đếm ngày tháng, Tổng Cóc biết Hồ Xuân Hương đã sinh đẻ. Ông đến phủ Vĩnh Tường chỉ dám lân la ngoài phố, chờ con sen trong phủ ra hỏi mới biết được con gái Hồ Xuân Hương đã chết khi sinh ra. Tổng Cóc đành tay không ra về, ông viết mấy câu đối tỏ vẻ nuối tiếc như sau:
Thảo lai băng ngọc kính (Nói đến tấm gương bằng ngọc)
Xuân tận hóa công hương (Hóa công cũng chịu lúc tàn xuân)
Hai câu này hiểu theo nghĩa đen là: “Tấm gương trong trắng ví với người con gái trong trắng, nhưng khi hết xuân thì thợ trời cũng chịu”.
Độc bằng đan quế thượng (Chi bằng lúc ta vin cành quế đỏ)
Hỏa phóng bích hoa hương (Tha hồ hoa biếc tỏa hương thơm)
Hai câu này hiểu theo nghĩa đen là: “Chỉ biết dựa vào phúc đức, con cháu khi ấy hương thơm sẽ tỏa khắp muôn nơi”.
  • Hồ Xuân Hương với anh người Tàu:

Vì tò mò, mến mộ, có một chú Khách mò đến Cổ Nguyệt Đường định thưởng nguyệt xem hoa...Nếu dễ dãi thì hái lấy chơi, mà lắm gai quá thì...ngó nghiêng, nghiêng ngó rồi về (mất gì của ngộ?). Không ngờ bị Xuân Hương chặn cửa bằng câu đối:

vế ra: Chân đi hài Hán, tay bán bánh Đường, miệng hát líu Lường, ngây Ngô ngấy ngố
Trong câu trên có tên 4 triều đại Trung Quốc là: Hán, Đường, Lường (còn có âm khác đọc là Lương), Ngô khiến chú khách kia tẽn tò chuồn thẳng
vế đối này phải tới hơn 200 năm sau mới có người là Trường Văn Nguyễn Phước Thắng đối lại được, trong đó sử dụng tên 4 triều đại của Việt Nam là: Đinh, Triệu, Lý, Mạc: Tóc cắt đầu Đinh, vai nghinh lá Triệu, bụng liệu lẽ Lý, mộc Mạc mộc mà
vế đối khác 1: Ðầu để da Trần, đuôi đeo cành Lý, miệng hí hố Hồ, bò Lê bò la (Đồng Văn - câu này tả một con Khỉ sử dụng tên 4 triều đại Việt Nam là: Trần, Lý, Hồ, Lê)
vế đối khác 2: Ðầu đội nón Âu, cổ đeo chuyền Mỹ, bụng tròn ung Úc, phương Phi phỏng phì (khuyết danh - sử dụng tên 4 châu lục: Âu, Mĩ, Úc, Phi)
vế đối khác 3: Miệng nói lời Càn, sự sinh địa Chấn, lấn ca lấn Cấn, từ Tốn từ ly (Bùi Tiến - sử dụng 4 phương vị trong bát quái gồm: Càn, Chấn, Cấn, Tốn)
vế đối khác 4: Lưỡi nếm táo TÀU, thân vào nhà THỔ, da phình thô LỖ, lễ MỄ lê mê (khuyết danh - sử dụng tên 4 quốc gia theo nhiều cách gọi: Tàu là Trung Quốc, Thổ là Thổ Nhĩ Kỳ, Lỗ là tên của nước Rumania gọi tắt chữ đầu theo phiên âm Hán-Việt là Lỗ Mã Ni, Mễ tức Mễ Tây Ca là phiên âm cũ của nước Mĩ)
  • Đối đáp với ông đồ Bút:
Khi tiếp chuyện một ông đồ tên là Bút ở làng Đình Bảng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, Hồ Xuân Hương (có một thời cùng gia đình sống ở phường Khán Xuân, huyện Vĩnh Thuận, nay là vùng vườn Bách Thảo, Hà Nội), ra vế đối: Gái Khán Xuân, xuân xanh tuổi mười ba, khép cửa phòng xuân còn đợi nguyệt.
Ông đồ Bút đối lại: Trai Đình Bảng, bảng vàng treo đệ nhất, chờ khi chiếm bảng trúng khôi khoa
“Bảng” (trong “bảng vàng”) cùng âm với “bảng” (trong “Đình Bảng”); tương ứng với “xuân” (trong “xuân xanh”) cùng âm với “xuân” (trong “Khán Xuân”) của vế ra.
  • Đối đáp với Dương Trí Tản:

1 - Một lần về quê nội Quỳnh Đôi, Hồ Xuân Hương cũng đối đầu ngang ngửa với các sĩ tử, ông đồ- những người ngưỡng mộ bà lũ lượt kéo tới nhà để xem mặt, bắt...hồn thơ, xem có đúng "danh bất hư truyền" như người đời tán tụng không? Trước mặt họ là một người đàn bà nhan sắc chưa phải chim sa cá lặn, dung mạo cũng chẳng phô bày nhung lụa, phấn son, nhưng phong thái đoan trang, ngôn từ lịch thiệp, lại nổi tiếng về trình độ học vấn, giỏi thơ nôm, khiến ai cũng cảm thấy hài lòng, mến mộ. Cuộc thi tài diễn ra ngay tối đầu tiên, tất cả các sĩ tử, văn nhân đều bị đánh bại, riêng ông đồ Dương Trí Tản - tính tình ngang ngạnh, tự phụ, là ra vẻ bất cần. Chờ cho đám bạn bè thất trận đi vãn ông mới thủng thẳng tìm đến ra mắt người đẹp. Rít xong điếu thuốc lào, nhả khói mù mịt gian phòng, Trí Tản cố tình ứng khẩu lại bài thơ đã chuẩn bị sẵn:

Eo lưng thắt đáy thật là xinh, điếu ai hơn được điếu cô mình, thoắt châm thoắt bén duyên hương lửa, càng núc càng say tính với tình
Hồ Xuân Hương đối: Giương oai giễu võ thật là kinh, danh tiếng bao năm đã Tản mình, thoáng ngửi thoáng ghê hơi hương lửa, tài Trí ra sao hỏi tính tình?
Bài thơ tỏ rõ bản lĩnh nhanh nhạy, sắc sảo và cũng không kém phần thẳng thắn, quyết liệt của Hồ Xuân Hương, dùng chính cái tên của ông đồ rởm, gõ đầu trẻ không xong, còn đòi gõ đầu Hồ Xuân Hương? Mượn điếu bát để tỏ tình thân...gái, chưa được gái già này cho phép đã tính chuyện ái ân (hương lửa) trong khi Xuân Hương có cả đống người chạy theo tán tỉnh nơi kinh kỳ, đô hội còn không được nữa là người nghiện thuốc lào, suốt ngày hun khói mù trời, ăn nói ngạo mạn, xấc xược như ông ta. Xuân Hương là con người bằng xương, bằng thịt, thích cảm xúc êm dịu, tao nhã, chứ đâu phải cái điếu bát trơ khấc, để ông muốn bén duyên hương lửa, ân ái vợ chồng lúc nào là có thể đè ra như đè điếu được? Bên cạnh đó còn có cả họ tên của ông Dương cũng được lồng ghép vào. Vừa song phi đã ngã ngựa, ông Trí không dám giữ bộ mặt dương dương tự đắc nữa mà nhân lúc mọi người tản đi vì trời khuya, bèn bấm bụng rút lui, thua tài trí Xuân Hương và trở thành bằng hữu. Từ đó ông ta thôi ti toe, không còn giở thói đàn anh, bắt nạt, lấn lướt, lớp nho sinh, văn sĩ trong làng nữa.

2 - Năm 1788, sau khi treo ba chữ “Cổ Nguyệt Đường” lên, khiến khách văn chương thành Thăng Long tò mò kéo đến tấp nập. Hồ Xuân Hương đã nổi hứng ra vế đối hiểm hóc:

Gái Cổ Nguyệt chơi Hồ cổ Nguyệt, Nguyệt Nguyệt bằng quân tử trượng phu.
Trong vế đối hai chữ ‘nguyệt” ghép lại thì thành chữ “bằng” (朋), chữ “bằng” ở đây có nghĩa là bằng hữu. Vế đối ngầm khoe bàn bè bằng hữu của Cổ Nguyệt Đường đều là bậc quân tử trượng phu.
Phải mấy năm sau, Dương Trí Tản mới đối lại được như sau: Trai Kỳ Sơn chơi núi Kỳ Sơn, Sơn Sơn xuất anh hùng hào kiệt.
Tuy nhiên, những người am tường Hán học bình luận rằng vế đáp của Dương Trí Tản chưa chỉnh so với vế đối của Hồ Xuân Hương, vì tuy vế sau hai chữ “sơn” ghép với nhau thì thành chữ “xuất”, nhưng vế trước chữ “Kỳ” không ghép được với chữ “sơn” để nên nghĩa như chữ “cổ” ghép với chữ “nguyệt”. Cũng giai thoại này nhưng có thuyết khác lại chép vế ra rằng: Gái Vọng Nguyệt chơi giăng vọng nguyệt, (Nguyệt 月) (nguyệt 月) (bằng 朋) tể tướng công khanh. Ở đây có tên làng Vọng Nguyệt (làng Vọng), huyện Yên Phong, tỉnh bắc Ninh là làng nhiều người đậu tiến sĩ. Ý nói, gái làng Vọng Nguyệt chỉ chơi "giăng vọng nguyệt" là trăng rằm, và kết bạn (bằng 朋) với ai có tài làm tể tướng. Vế đối như sau: Trai Tam Sơn đứng núi Tam Sơn, (Sơn 山) (sơn 山) (xuất 出) anh hùng hào kiệt. Làng Tam Sơn, huyện Đông Ngàn; nay là thôn Tam Sơn, xã Tam Sơn, huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Làng có 2 Trạng nguyên là Nguyễn Quang Quan và Ngô Miễn Thiệu.
  • Hồ Xuân Hương và Khâm sai đại thần:
Khi Gia Long diệt được nhà Tây Sơn, tiến ra Bắc Hà, viên khâm sai lúc bấy giờ được lệnh đi kinh lý các tỉnh có gặp Hồ Xuân Hương để xin câu đối. Bà liền viết:
Thiên tử tinh kỳ đương bán diện (Che nửa mảnh rực cờ thiên tử)
Tướng quân thanh thế áp tam thuỳ (Trấn ba góc, rõ tài tướng quân)
Câu đối trên có nghĩa đen là: Cờ xí của nhà vua treo khắp mọi nơi, che nửa mặt người. Uy danh của vị khâm sai rất to lớn, bao trùm cả ba cõi. Câu đối được treo lên, vua Gia Long nắc nỏm khen, bàn dân thiên hạ cười mủm mỉm, còn quan bé, quan to giật điếng người...vì phong cách nghịch ngợm của Hồ Xuân Hưng chẳng giấu vào đâu được, khen vua mà lại xỏ ngầm chết vua đấy. Bán diện nghĩa là khuôn mặt chia ra làm hai nửa theo chiều dọc, còn áp tam thuỳ...chỉ khác gì áp vào cái chỗ ba góc da còn thiếu ấy? Đến nỗi chúa dấu vua yêu một cái này thì tướng quân dại gì buông tha? Câu đối được hiểu theo nghĩa ngầm rằng:
Che nửa mặt, rực cờ Thiên tử
Trấn ba góc, rõ tài tướng quân
  • Một vế ra tương truyền của Hồ Xuân Hương:
vế ra: Cửa hang hun hút, con chim cúc ì ạch chẳng tới nơi (Hồ Xuân Hương)
vế đối 1: Trái chuối don don, ả bướm non ỡm ờ chưa đến đậu (Phú Đa Nguyễn Phước An)
vế đối 2: Nọc ong tí ti, cánh hoa ly uột èo không nở trọn (Hoài Anh Võ Quang Thạch)

Nguyễn Huy Lượng[sửa]

Nguyễn Huy Lượng người làng Phú Thụy, huyện Gia Lâm (Hà Nội). Ông đỗ Hương cống, làm quan nhà Lê chức Phụng Nghi - một chức quan nhỏ trong Bộ Lễ. Sau làm quan nhà Tây Sơn, đóng góp nhiều công sức với chức Hữu thị lang Bộ Hộ (nên thường gọi là Hữu hộ Lượng), tước Chương Lĩnh Hầu. Ông là tác giả của tác phẩm “Tụng Tây Hồ Phú” nổi tiếng, ca ngợi Thăng Long rực rỡ dưới triều đại Quang Trung. Năm 1802, triều Tây Sơn sụp đổ, ông bị bắt; ít lâu, ông được nhà Nguyễn thu dụng, làm Tri phủ Xuân Trường, sau đó ông bị giết trong một trường hợp bức tử. Hồi còn trẻ, Lượng có một người quen cũng được học hành tử tế nhưng phải cái hơi... “tối dạ”. Hôm ấy, anh này được ông bố vợ tương lai nhắn gọi đến nhà dự bữa tiệc chiêu đãi các bậc văn nhân thành Thăng Long! Anh chàng biết mình thể nào cũng bị ông bố vợ “thử tài” trước mặt các quan khách. Chẳng còn hồn vía nào, anh ta chạy sang cầu cứu “cậu Lượng”! Lượng cười nói: "Thôi, anh đừng lo! Hôm ấy, tôi sẽ cùng đi với anh, nếu có gì bí tắc, tôi sẽ gà cho!" Anh chàng giẫy nẩy: "Trước hàng trăm cặp mắt quan chiêm như vậy thì cậu gà cháu làm sao được?" Lượng đáp: "Gà được chứ? Nghe tôi dặn đây: Nếu ông nhạc hỏi anh bất luận câu gì mà anh tự thấy không trả lời được thì cứ thản nhiên nói một câu...ba lăng nhăng gì đó, rồi tôi sẽ tán vào cho thành ý tứ hẳn hoi..." Quả nhiên giữa đông đủ khách khứa, ông bố vợ đưa cho anh con rể tương lai một tờ giấy viết một vế đối:

vế ra: Giậu rào mắt cáo, mèo chui lọt (Một vế đối rất khó: Hai cặp có nghĩa tương đồng là “giậu - rào” và “cáo - mèo”, lại nữa, “mắt cáo” là từ dùng theo nghĩa bóng: đan mắt cáo...)
Chẳng những chàng rể mà cả cử tọa xung quanh cũng đều bí như bị gặp trời mưa trước vế đối hiểm hóc ấy. Cậu Lượng đột ngột lên tiếng giục chàng rể: "Ông ra “cái giậu” đấy, đối đi thôi còn chờ gì nữa!" Chàng rể đưa mắt nhìn quanh, chợt trông thấy một cái rổ ở góc nhà, sực nhớ lời cậu đã dặn, bèn nói liều một câu rất chi là vu vơ: "Chậc! Hãy xem cái rổ kia kìa!" Thấy vế đối chẳng ra đầu cua tai nheo gì, mọi người bò ra cười. Ông nhạc tương lai sửng sốt nhìn chòng chọc vào mặt rể. Song, cậu Lượng bỗng cất tiếng: "Tuyệt! Đối thế là cực chỉnh!" Mọi người thôi cười, dán hết cả mắt vào cậu. Ông bố vợ cũng lấy làm lạ hỏi: "Bác nói anh ta đối hay ở chỗ nào? Sao tôi tịnh không thấy tăm hơi gì? Lúc bấy giờ cậu Lượng mới từ tốn đứng dậy phân tích rạch ròi: "Xin phép cụ và chư huynh! Anh bạn tôi đây vốn từ lâu đã học được câu các cụ ta xưa dạy rằng: “Người khôn ăn nói nửa chừng!”. Anh ấy lấy “cái rổ” để đối lại “cái giậu”, là chí phải: Vế ra là “Giậu rào mắt cáo, mèo chui lọt”".
Anh ấy chỉ vào cái rổ có nghĩa là: Rổ nứt lòng tôm, tép nhảy qua thì thử hỏi còn chê bai bắt bẻ vào chỗ nào?!
Bấy giờ mọi người mới “ồ” lên một tiếng đầy thán phục với tài đối của chàng rể! Chữ “lòng”–”tâm” và “tôm”,”tép” cũng đều là từ cùng nghĩa vậy. Buổi tiệc hôm ấy vui hẳn lên, ông cụ cũng thỏa mãn vì kiếm được rể hay chữ, xứng đôi với con gái mình, đám cưới không bao lâu được tổ chức và cậu Lượng cố nhiên được đền ơn xứng đáng.

Phạm Thái[sửa]

Phạm Thái còn gọi Phạm Đan Phượng, Phạm Phượng Sinh, hiệu Chiêu Lì (hoặc Chiêu Lỳ); ông sinh tại làng Yên Thị, xã Yên Thường, huyện Đông Ngàn, trấn Kinh Bắc (nay thuộc Gia Lâm, Hà Nội). Ông là con Trạch Trung hầu Phạm Đạt, một võ tướng cao cấp đời Cảnh Hưng, đã khởi chống Tây Sơn nhưng thất bại. Nối chí cha, năm 20 tuổi, Phạm Thái đi ngao du nhiều nơi để tìm và kết giao với người cùng chí hướng. Ông gặp Phổ tỉnh thiền sư (Trương Quang Ngọc), Nguyễn Đoàn rồi cùng nhau chống Tây Sơn, nhưng không thành công. Bị truy nã, ông cắt tóc, đội lốt nhà sư, vào tu ở chùa Tiêu Sơn (tức chùa Thiên Tâm nằm trên lưng chừng núi Tiêu, nay thuộc xã Tương Giang, huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh), đặt đạo hiệu là Phổ Chiếu Thiền sư. Đi tu được mấy năm, thì bạn ông là Thanh Xuyên hầu Trương Đăng Thụ (người làng Thanh Nê, thuộc huyện Kiến Xương, trấn Sơn Nam, nay thuộc tỉnh Thái Bình), đang làm quan ở Lạng Sơn, cho người đón ông lên đấy, tính chuyện phù Lê. Một năm sau, khi ông trở về Kinh Bắc thăm nhà, thì được tin Trương Đăng Thụ bị đại thần Vũ Văn Dũng đầu độc chết, và đang được đem về chôn cất ở quê nhà. Phạm Thái liền đến làng Thanh Nê điếu tang bạn. Ở đây, ông đã giúp nàng Long Cơ (vợ Thanh Xuyên hầu) soạn Văn triệu linh gọi hồn chồng, làm Văn bia mộ Thanh Xuyên hầu và viết Lời đề nhà Nghĩa lư để giải bày nỗi niềm thương nhớ bạn sâu sắc của ông. Vì yêu nết, trọng tài, Kiến Xương hầu Trương Đăng Quỹ (cha Thanh Xuyên hầu) đã mời Phạm Thái ở lại để làm gia sư dạy trẻ. Nhờ vậy, Phạm Thái quen được em gái bạn là Trương Quỳnh Như. Họ cùng xướng họa thơ văn, rồi thầm yêu nhau. Cảm phục tài thơ của Phạm Thái, Kiến Xương hầu định gả con cho ông, nhưng người mẹ không bằng lòng, vì muốn gả cho một người khác. Bị ép gả, Quỳnh Như tự tử [5], còn Phạm Thái cũng vì quá đau xót, đã rời bỏ nơi đó đi lang bạt. Quảng đời cuối của ông là những trận rượu say li bì, là những bài thơ văn bi quan và yếm thế. Phạm Thái mắc bệnh rồi mất ở Thanh Hóa năm Quý Dậu (1813), lúc 36 tuổi.

  • Câu đối tự vịnh:
Một và tuần chén trắng lấy làm vui thuở trước có thờ chi thánh rượu
Ba mươi sáu tàn vàng cùng vậy, về sau không lễ giáng thần cơm
  • Câu đối viết tặng chùa Kim Sơn ở thành phố Huế:
Khách hồng trần lơ láo kiếp phù hư, lối kim cổ ra vào sinh tử mãi
Thợ huyền tạo khéo khôn tay ảo diệu, then càn khôn đóng mở tịch triêu mau
Câu đối này vế trên là của Phạm Kim lúc đó đang tu tại chùa, còn vế dưới là của Thụy Châu, bấy giờ đang cải dạng là một đạo sĩ đến thăm chùa, cả hai đều là nhân vật chính trong tác phẩm "Sơ Kính Tân Trang" của Phạm Thái.
  • Những câu đối Tết:
Xuân mới gọi là Xuân, Xuân thiều quang thục úc, Xuân xướng mậu huyên hòa, ai chẳng mong Xuân mãi để vui đời, kìa xem nơi kia đình, nơi nọ đáo, nơi ấy điếm đua cờ người, kéo hội, bắt chạch, gieo đu, Xuân năm ngoái vui lắm, năm nay lại vui ghê, muốn Xuân mãi để nhẩn nha ngày tháng Bụt
Tuổi cũng thì là tuổi, tuổi phú quí vinh hoa, tuổi công danh sự nghiệp, ai chẳng muốn tuổi dài cho sướng kiếp, nhưng mà ngày nay cờ, ngày mai bạc, ngày kia chè rượu, quay đất, bài phu, tổ tôm, xóc đĩa, tuổi ngày trước dại vừa, ngày rày còn dại mãi, nhiều tuổi chi cho tổn ải nước non Trời
Bật cần nêu đem mới lại cho mau, già trẻ gái trai đều sướng kiếp
Đùng tiếng trúc đuổi cũ đi đã đáng, cỏ hoa non nước cũng mừng Xuân

Nguyễn Công Trứ[sửa]

Tượng đài Nguyễn Công Trứ đặt tại trường THCS Nguyễn Công Trứ, quận Ba Đình - Hà Nội

Nguyễn Công Trứ tên tục là Củng, tự là Tồn Chất, hiệu là Ngộ Trai, biệt hiệu là Hy Văn, sinh ngày 01 tháng 11 năm Mậu Tuất, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 39, tức ngày 19 tháng 12 năm 1778; người làng Uy Viễn, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Cha là Nguyễn Công Tấn, đậu cử nhân năm hai mươi bốn tuổi, làm giáo thụ phủ Anh Sơn, Nghệ An, sau thăng làm tri huyện Quỳnh Côi, rồi tri phủ Tiên Hưng, Thái Bình. Khi quân đội Tây Sơn ra Bắc chiếm Thăng Long, Nguyễn Công Tấn xướng nghĩa cần vương chống lại, không thành, ông đưa gia đình về quê mở trường dạy học. Nguyễn Huệ mấy lần mời ra làm quan, ông đều từ chối. Mẹ Nguyễn Công Trứ là con gái quan quản Nội thị Cảnh Nhạc bá, họ Nguyễn, người xã Phụng Dực, huyện Thượng Phúc, tỉnh Sơn Nam (nay thuộc Hà Nội). Gia đình Nguyễn Công Trứ có sáu anh em, ba trai, ba gái, có một bà rất thông minh, giỏi thơ văn, người đương thời gọi là Năng văn nữ sĩ. Năm mười chín tuổi, chồng chết, bà nhất định không chịu tái giá, bỏ nhà đi tu, được Minh Mệnh ban cho danh hiệu “Trinh tiết khả phong”. Nguyễn Công Trứ từ bé đã sống trong cảnh nghèo khổ. Khi nhà Nguyễn đang tích cực củng cố địa vị thống trị của mình, xã hội có vẻ ổn định, Nguyễn Công Trứ hăm hở đi học đi thi. Năm 1819, ông thi đậu Giải nguyên và được bổ đi làm quan. Bấy giờ ông đã bốn mươi mốt tuổi. Năm 1820 Nguyễn Công Trứ giữ chức Hành tẩu ở Quốc sử quán. Sau đó ông liên tiếp giữ các chức Tri huyện Đường Hào, Hải Dương (1823), Tư nghiệp Quốc tử Giám (năm 1824), Phủ thừa phủ Thừa Thiên (1825), Tham tán quân vụ, rồi thăng Thị lang Bộ hình (năm 1826). Năm 1828, ông được thăng Hữu tham tri Bộ hình, sung chức Doanh điền sứ, chuyên coi việc khai khẩn đất hoang. Năm 1832, ông được bổ chức Bố Chánh sứ Hải Dương, cùng năm thăng Tham tri Bộ binh, giữ chức Tổng đốc tỉnh Hải An... Sau nhiều thăng giáng, năm 1845 Nguyễn Công Trứ làm Chủ sự Bộ hình, năm sau làm quyền Án sát Quảng Ngãi, rồi đổi ra làm Phủ thừa Phủ Thừa thiên, rồi năm 1847 ông thăng làm Phủ doãn phủ ấy. Cũng năm này, ông tròn bảy mươi tuổi ta, Nguyễn Công Trứ xin về hưu, nhưng Thiệu Trị không cho. Năm 1848, Tự Đức nguyên niên, ông được về hưu hẳn.

Tự thuật và câu đối Tết[sửa]

  • Bài thơ tự thán:
vế ra: Vất Vất Vơ Vơ cũng nực cười, Căm Căm Cúi Cúi có hơn ai, nay còn Chị Chị Anh Anh đó, mai đã Ông Ông Mụ Mụ rồi, Có Có Không Không lo hết kiếp, Khôn Khôn Dại Dại chết xong đời, chi bằng Láo Láo Lơ Lơ vậy, Ngủ Ngủ Ăn Ăn nói chuyện chơi (Nguyễn Công Trứ)
vế đối: Nhớ Nhớ Quên Quên muốn lảng đi, Khom Khom Bợ Bợ chẳng thua chi, trước thôi Nó Nó Tao Tao tuốt, sau lại Em Em Bác Bác gì? Thực Thực Hư Hư danh mấy thuở, Vinh Vinh Nhục Nhục tiếng bao thì, cũng đành Lửng Lửng Lơi Lơi thế, Tỉnh Tỉnh Say Say đỡ thấy kỳ! (Trường Văn Nguyễn Phước Thắng)
  • Câu đối tự thuật:
Nợ vướng nợ, nợ càng thêm nợ
vế đối 1: Tình vương tình, tình vấn vương tình
vế đối 2: Đời là thế, đời vẩn là đời
  • Câu đối vịnh đánh bạc:
Được thì vơ, thua thì chạy, ghét chứng anh hùng rơm
Ăn lấy thủa, ở lấy thì, coi như quân tử rác
  • Câu đối Tết:
Chiều ba mươi, nợ hỏi tít mù, co cẳng đạp thằng Bần ra cửa
Sáng mồng một, rượu say tuý luý, giơ tay bồng ông Phúc vào nhà
Chị em ơi! ba mươi sáu tuổi rồi. Khắp đông, tây, nam, bắc bốn phương trời, đâu cũng lừng danh công tử xác
Trời đất nhẻ! gắng một phen này nữa. Xếp cung, kiếm, cầm thư vào một gánh, làm sao nổi tiếng trượng phu kềnh
Nợ có chết ai đâu, đòi mà chi, trả mà chi, cha cóc
Trời để sống lâu mãi, tiền cũng có, bạc cũng có, mẹ bò
Tết có cóc gì đâu, uống một vài be củ tỏi
Nợ đâm ương ra đó, nói ba bốn chuyện cà riềng
Be củ tỏi: ve (chai) nhỏ, có hình củ tỏi, cổ dài, thân tròn, người xưa thường dùng đựng rượu. Chuyện cà riềng: chuyện con cà, con kê. Cà riềng đối với củ tỏi rất chỉnh.
Đuột giời ngất một cây nêu, hết túi ba mươi ri cũng Tết
Vang đất đùng ba tiếng pháo, rạng ngày mồng một rứa là Xuân
(Đuột giời: thẳng tuốt lên trời. Ri: thế này. Rứa: thế nọ, thế ấy, như thế. Đây là từ địa phương vùng Nghệ Tĩnh)
Bầu một chiếc lăn chiêng, mặc sức tam dương khai thái
Nhà ba gian bỏ trống, tha hồ ngũ phúc lâm môn
Bầu: bầu rượu. Bầu lăn chiêng là vì không có rượu. “Chiêng” đối với “trống” ở câu dưới, thật chỉnh. Ngày xưa, câu đối Tết dán nhà cửa thường có Ngũ phúc lâm môn/Tam dương khai thái. Ngũ phúc lâm môn (năm điều phúc vào cửa) là: Thọ (sống lâu); phú (giàu sang); khang ninh (bình an, khỏe mạnh); du hiếu đức (ham làm việc phước đức); khảo chung mệnh (sống trọn tuổi Trời cho). Tam dương khai thái: theo Kinh Dịch, ba hào dương (ba vạch liền) mở ra quẻ Thái tượng trưng cho mùa xuân tốt lành.
Mồng một Tết, mồng hai Tết, mồng ba Tết, ờ Tết
Buổi sáng say, buổi trưa say, buổi chiều say, cho say
Chiều ba mươi công nợ rối Mậu Thìn, những muốn mười năm dồn một Tết
Sáng mồng một rượu chè say Kỷ Tỵ, trông cho ba bữa hoá mười ngày
Mua pháo đốt chơi, để anh em nghe có tiếng
Giật nêu đứng lại, cho làng nước biết không xiêu
(có tiếng; không xiêu: cần được hiểu theo hai nét nghĩa ; có tiếng: chỉ tiếng pháo nổ, đồng thời cũng là tiếng tăm, danh tiếng ; không xiêu: chỉ cây nêu đứng vững, đồng thời còn chỉ khí tiết cốt cách cứng cỏi vững vàng của nhà nho Nguyễn Công Trứ)
Ðắp gốc cây cao, Tết đến thắp hương thơm đèn sáng
Khơi nguồn nước mát, Xuân về dâng trái ngọt hoa thơm
Tối ba mươi, giơ cẳng đụng cây nêu...Ủa ! Tết
Sáng mồng một, lắng tai nghe lời chúc...Ồ ! Xuân
Phước thâm tự hải (hạnh phúc nhiều sâu như biển)
Lộc cao như sơn (của cải nhiều cao như núi)
Có là bao, ba vạn sáu ngàn ngày, được trăm cái Tết
Ước gì nhỉ, một năm mười hai tháng, cả bốn mùa Xuân
Tối ba mươi, nợ réo tít mù, ấy mới Tết
Sáng mồng một, rượu tràn quí tị, ái chà Xuân
Công nợ rối canh tàn, ước những mười năm dồn lại một
Rượu chè tràn quy tị, trông cho ba bữa hóa ra mười
Tuế phùng Xuân, tân cảnh, tân thiều, tân vũ lộ (Năm vừa gặp mùa Xuân, cảnh sắc mới, thiều quang mới, mưa móc mới)
Thời hành Hạ, cựu bang, cựu điển, cựu xa thư (Thời vẫn theo nhà Hạ, nước non xưa, điển chế xưa, sách vở xưa)
Thời hành Hạ: lấy ý từ câu cổ văn: “Hành Hạ chi thời, phục Chu chi miện...”, nghĩa là “Thời tiết thì theo nhà Hạ, mũ miện thì theo nhà Chu”.
  • Giai thoại viết thơ khất nợ:

Lúc thiếu thời, Nguyễn Công Trứ đã từng được người đời liệt vào hàng các tay đổ bác có tiếng. Ông vớ của thiên hạ cũng đã lắm, mà thua thiệt nợ nần người ta thì cũng nhiều.Một lần đi đánh tổ tôm bị thua rồi mang nợ. Chủ nợ là một ông già, đến đòi năm lần bảy lượt mà Nguyễn Công Trứ cũng vẫn không có tiền giả. Sau ông lão đòi rát quá, Nguyễn Công Trứ đành phải đi lục lọi rương hòm xem có gì đáng giá để đem cầm đợ mà lấy tiền trang trải. Nhưng khốn thay, lục mãi mà vẫn chẳng khui ra được gì ngoài mấy quyển sách nát. Túng thế, Nguyễn Công Trứ mới đọc liều cho ông già một bài thơ để xin khất nợ.

Thơ rằng: Thân Bát Văn tôi đã xác vờ, trong nhà còn biết Bán Chi giờ, của trời cũng muốn Không Thang bắc, lộc thánh còn mong Lục Sách chờ, thiên tử Nhất Văn rồi chẳng thiếu, nhân sinh Tam Vạn hãy còn thừa, đã không Nhất Sách kêu chi nữa, Ông Lão tha cho cũng được nhờ!
Ông lão rắp tâm đòi cho bằng được, thấy Nguyễn Công Trứ giở thơ ra đã có ý bực. Nhưng lần lần nghe qua cả bài thấy thơ hay mà khéo quá; câu nào cũng có tên một quân bài tổ tôm, mà đồng thời lại nói lên được cái cảnh học trò kiết không tiền...Vì thế ông lão nghĩ thương tình và mến tài, bằng lòng cho Nguyễn Công Trứ khất nợ. Cái tài tình của bài thơ là ở chỗ Nguyễn Công Trứ khéo vận dụng những tên quân bài tổ tôm (như: bát văn, bán chi, không thang, lục sách, nhất văn, tam vạn, nhất sách, ông lão) vào bài thơ, nhưng đồng thời những danh từ ấy vẫn có nghĩa thông thường. "Bát văn": tên quân bài có vẽ một thân hình lươn khươn, yếu ớt, tượng trưng hài hước một anh học trò; vì vậy thân bát văn là nói bóng thân học trò. "Bán Chi": tên quân bài, và nghĩa thứ hai là bán cái gì bây giờ? "Không Thang": tên quân bài, nghĩa khác là không thang để bắc lên trời. "Lục Sách": tên quân bài, nghĩa thứ hai là lục tìm trong đống sách vở. "Nhất Văn": tên quân bài, nghĩa khác là thoắt nghe (đây lấy trong câu: "Nhất văn thiên tử chiếu, tứ hải trạng nguyên tâm". Nghĩa là: Vừa nghe chiếu vua mở khoa thi, bốn biển đã nức lòng muốn chiếm trạng nguyên). Câu này còn có ý bảo: nay mai tôi đỗ đạt rồi chẳng thiếu gì tiền. "Tam Vạn": tên quân bài, nghĩa nữa là ba vạn ngày, tức suýt soát một đời người, có câu: "ba vạn sáu ngàn ngày là mấy chốc, kiếp phù sinh nghĩ cũng nực cười". Ba vạn sáu ngàn ngày tính ra đúng 100 năm. "Nhất sách": tên quân bài, nghĩa thứ hai là một mưu kế. "Ông Lão": tên quân bài, nghĩa khác chỉ ông lão chủ nợ.
vế đối:Thế Nhị Lang cờ như nước sông, bạc đầu sao mộng Tiểu Chinh Đông?, tốt đen còn ngóng Đại Xa Mã, sĩ đỏ vẫn mòng Ngư Hí Long, ơn nước Thất Tinh đêm gắng dõi, tình quân Thập Nhị tháng hằng trông, sớm hay Ngũ Tử mai này thắng, Ngọc Nữ Xuyên Thoa mấy chạnh lòng (Trường Văn Nguyễn Phước Thắng) (Các danh từ riêng: Nhị Lang (gọi tắt thế Nhị Lang Hàng Quái), Tiểu Chinh Đông, Đại Xa Mã, Ngư Hí Long (gọi tắt thế Kim Ngư Hí Long), Thất Tinh (gọi tắt thế Thất Tinh Tụ Hội), Thập Nhị (gọi tắt thế Thập Nhị Lan Can), Ngũ Tử (gọi tắt thế Ngũ Tử Đoạt Khôi) và Ngọc Nữ Xuyên Thoa là 8 ván cờ thế nổi tiếng là Giang Hồ Danh Cuộc của môn Cờ Tướng. Ngoài ra, Ngũ Tử là gọi tắt danh tướng Ngũ Tử Tư, tướng quốc nước Ngô thời Xuân Thu. Thế cờ Ngũ Tử Đoạt Khôi ngày xưa giải hòa nhưng sau này giải chính xác thì bên hậu thắng)

Khi là học trò[sửa]

  • Lên 10 tuổi, Nguyễn Công Trứ theo cha trở về Hà Tĩnh, sống tại làng Uy Viễn, Nghi Xuân quê nội. Trong làng có ông Đồ Trung là một người có máu mặt, ông đứng ra mời thầy đồ về nuôi trong nhà để trẻ con của làng tới học. Và trong đám học trò đó có Nguyễn Công Trứ. Một hôm, khi cả lớp đang ngồi học, ông chủ nhà chợt nổi hứng đi vào và xin thầy cho phép ông ra cho các trò một vế đối.
Vế ra như sau: Ngoài vườn cây đại nở hoa đại
Ông Trung tuyên bố trò nào đối hay và đối nhanh trước sẽ được thưởng một quan tiền! Các học trò ngồi nhìn nhau, nhưng không ai tìm được vế đối lại để lấy.
Bỗng Nguyễn Công Trứ đứng dậy xin phép đối: Trong buồng ông Trung ấp bà Trung
Vế đối rất chuẩn, Trong đối với ngoài, Đại đối với Trung, và nở đối với ấp. Thầy và trò cả lớp được một trận cười nghiêng ngả, còn cụ Đồ Trung thì đỏ mặt im lặng, và tất nhiên, phải trao cho Trứ một quan tiền!
  • Nhận được quan tiền thưởng, tan buổi học trên đường về Nguyễn Công Trứ gặp một đám trẻ con đang tụ nhau đánh đáo ăn tiền. Như những đứa trẻ ham chơi khác, Củng liền nhập bọn và say sưa đánh cho tới khi bị thua hết sạch cả quan tiền mới thôi. Nhưng cái khác của Trứ là ở chỗ, mọi đứa trẻ khi thua bạc sẽ tiếc đứt ruột, hậm hực bỏ về, thậm chí cả khóc nữa, riêng Trứ thì vừa đi về nhà vừa đọc:
Tưởng mần ba trự mà chơi vậy
Bỗng chốc nên quan đã sướng chưa
Trong tiếng Nghệ, “chữ” đọc là trự; “trự” vừa có nghĩa là “chữ nghĩa”, vừa có nghĩa là “đồng tiền” (trự tiền); Quan vừa có nghĩa là “quan tiền” (một quan là 100 đồng/trự), vừa có nghĩa “quan chức”. Câu của Nguyễn Công Trứ có thể hiểu theo hai nghĩa: một là tưởng đánh chơi dăm ba đồng, nào ngờ mất đến cả quan; hai là học ba chữ chơi chơi mà cũng được làm quan, sướng chưa?
  • Một hôm, thầy học đến thăm nhà Nguyễn Công Trứ, cùng với thân phụ của cậu ngồi đàm đạo, lâu lâu hai người lại kéo thuốc lào, thả khói thơm lừng từng đám bay ra như mây. Trứ được phép đúng bên hầu thầy và cha để hóng chuyện. Chợt thấy cha đưa tay vê vê điếu thuốc nạp vào nõ, cậu vội đốt đóm đưa lên. Cụ Đức Ngạn Hầu rít một hơi dài khoan khoái, rồi nhả khói bay ra thành luồng như một con rồng uốn khúc. Cúi mình đón cái điếu cày từ tay cha, Nguyễn Công Trứ liền ứng khẩu đọc luôn hai câu:
Nín hơi, biển động ba tầng sóng
Há miệng, rồng bay chín khúc mây
Thầy học không nín được, vỗ đùi khen hay. Cha của Củng cũng tròn mắt nhìn, vừa ngạc nhiên vừa mừng rỡ. Như được động viên, Trứ sung sướng đọc tiếp:
Ba tầng sóng dội vang trời bể
Năm sắc mây bay thấp thoáng trời
  • Vào một ngày hè oi bức, thầy đồ dẫn học trò ra con sông gần trường tắm mát. Khi đi qua cái cống lớn đầu làng được xây ghép bằng những tảng đá xanh, cụ nghĩ ra một vế đối, bảo các trò cùng đối: Đá xanh ghép cống, hòn dưới nống hòn trên
Những học trò khác chưa nghĩ được gì thì Nguyễn Công Trứ đã đối liền: Ngói đỏ lợp nghè, lớp sau đè lớp trước
Câu đối về chữ nghĩa thật là chuẩn, lại chơi chữ tài tình: “cống” vừa là cái cống (bằng đá), vừa là người đỗ Cử nhân (Cống sinh dưới triều nhà Nguyễn); còn “nghè” vừa là cái miếu nhỏ thờ các danh nhân địa phương (từ này nay đã ít dùng), vừa là người đỗ Tiến sĩ, tức ông Nghè; thêm vào đó người đời còn tìm thấy cái thú vị ở khẩu khí của người đối: hậu sinh sẽ khả uý, lớp sau sẽ hơn (đè) lớp trước. Có thuyết nói vế đối này là của Lê Công Hành.
  • Đang nói chuyện thì một trận mưa to ập đến, thầy trò phải chạy vào trú trong một quán nước ven đường. Ngay lúc đó có một người đàn ông gánh cỏ đi ngang cũng vội quẳng gánh ngoài trời chạy vào mái hiên của quán trú mưa. Lát sau, trời vừa ngớt, người đàn ông đã vội vã ra nâng gánh cỏ lên vai chạy đi tiếp. Nhân đó, thầy bảo các trò thử làm câu đối tức cảnh nói về người gánh cỏ nọ. Trong khi các cậu bé khác đang vò đầu tìm chữ nghĩa thì Nguyễn Công Trứ đã ứng khẩu đọc hai câu:
Tạnh cơn phong vũ lò ngay mặt
Sẵn gánh càn khôn ghé thẳng vai
Thầy đồ công nhận câu đối của Nguyễn Công Trứ, vừa hợp cảnh, vừa bộc lộ chí khí của một đấng trượng phu tương lai. Còn về phép đối thì khỏi phải nói: hoàn chỉnh, từng ý, từng chữ - “cơn phong vũ” đối với “gánh càn khôn”, “ngay mặt” đối với “thẳng vai”
  • Câu đối viết để tạ ơn thầy đồ:
Tuy tôn sư chi giáo trạch vô cùng, hà cảm xá cận nhi cầu viễn (Tuy ơn giáo dục của tôn sư vô cùng, đâu dám bỏ nơi gần mà đi tìm nơi xa)
Nhi quốc gia chi học quy hữu định, tương sử tự hạ tiệm thăng cao (Nhưng phép học hành của quốc gia có định, nên phải từ chỗ thấp mà bước lên chỗ cao).
Đây là câu đối để tạ ơn thầy đồ trước lúc lên đường dời đất Nghi Xuân để trở thành nho sinh trường Đốc học của tỉnh
  • Đối đáp với sư chùa làng Uy Viễn:
Nhân một hôm rảnh học từ tỉnh thành về thăm nhà, Nguyễn Công Trứ tới chùa chơi. Đến nơi, thấy ngoài sân trong điện không có ai, lại đang khát nên đi thẳng vào bếp chùa để tìm nước uống, thì gặp sư trụ trì đang lúi húi bên bếp. Quay lại nhìn người lạ, vị sư buông ra một câu không mấy hiếu khách: Khách khứa kể chi ông núc bếp (Người Nghệ gọi ông đầu rau là ông núc bếp; câu này còn có ý diễu cợt: khách khứa gì mà lại xông (núc) vào bếp nhà người ta!)
Nguyễn Công Trứ nhìn quanh, thấy một cái vại ở góc bếp, liền ứng khẩu đối lại: Trai chay mà có vại cà sư (Trai chay: Trai giới và chay tịnh. Tiếng Nghệ chữ “vại” (vật bằng sành dùng để đựng cà) và “vãi” (ni cô) đều đọc như nhau, nên câu này còn có ý trêu chọc: Người / nơi trai chay sao lại có (bà) vãi cà (động từ: áp sát, cọ xát) ông sư?)
Câu này tuy rất vô tình, nhưng vị sư kia lại cho rằng Nguyễn Công Trứ thâm ý châm biếm mình có tư tình với bà vãi, nên chắp tay nhìn lên tượng Phật đọc một câu như thanh minh: Xin chứng minh cho, Nam mô A Di Đà Phật
Nguyễn Công Trứ chỉ vào cái kiềng trên bếp và cất tiếng đối lại: Có giám sát đó, Đông Trù Tư mệnh Táo quân
Đông trù Tư mệnh Táo quân là thần coi bếp, cầm giữ bản mệnh của gia chủ. Bên mời Phật, bên nhờ thần ra minh chứng, quả thực là hay; lại Đông đối với Nam, Quân đối với Phật thì thật là tài
Vị sư chưa chịu thua ra tiếp câu nữa: Thuộc ba mươi sáu quyển kinh, chẳng thiên địa thánh thần nhưng khác tục
Nguyễn Công Trứ cũng chẳng kém đối liền: Hay tám vạn tư mặc kệ, không quân thần phụ tử đếch ra người
Về đôi câu đối trên có thuyết nói rằng của Hồ Xuân Hương nhưng câu cú có 1 số từ ngữ hơi khác, tương truyền khi Xuân Hương qua chùa chơi, vốn biết Xuân Hương nổi tiếng thơ phú, nhà sư liền cho chú tiểu mang ra 1 vế thách đối. Vế ra như sau: Thông ba sáu bộ chân kinh, dẫu chẳng La Hán Kim Cương, cũng cao tăng đạt đạo. Hồ Xuân Hương liền bảo chú tiểu đưa bút và viết ngay vế đối lại bên cạnh: Dù hay ba vạn chín nghìn, không biết méo tròn ngang dọc, thì cũng đếch ra người
Tiếp tục giai thoại Nguyễn Công Trứ, tới đây vị sư đành nín thinh, chấp nhận thua cuộc, từ đó không dám cao ngạo nữa. Nho Củng đắc thắng ra về, nhưng vừa bước đến giữa sân thì hai con chó nhà chùa xổ ra cắn, cắn quyết liệt như thể trả thù cho chủ vậy. May có chú tiểu ngăn mãi mới được. Nho Củng dừng lại nhìn quanh chùa rồi ngâm hai câu như một lời nhắn gửi: "Bụt cũng hiền lành sư cũng khá, còn hai con chó chửa từ bi".
  • Đối đáp với Tả quân Lê Văn Duyệt:

Một hôm Nguyễn Công Trứ đang đi chơi, gặp mưa, vào trú trong quán nước bên đường. Mưa lâu quá, thêm gió lạnh, ông bèn nằm vào ổ rơm của quán, lấy chiếu đắp lên, ngủ ngon. Thình lình, đại binh của tả quân Lê Văn Duyệt đi diễn tập về qua, ông vẫn ngủ mê. Lính vào đánh thức ông dậy, vừa kịp Tả quân cưỡi ngựa đến. Tả quân không bắt lỗi gì, chỉ buộc vịnh cảnh nằm ổ rơm đắp chiếu. Ông ứng khẩu:

Tám vạn anh hùng đè xuống dưới (anh hùng rơm)
Chín tầng thiên tử đội lên trên (Chiếu chỉ của Vua đồng thời cũng là chiếc chiếu)
Câu thơ vừa tả thực vừa ẩn dụ đầy khẩu khí. “Ba vạn anh hùng” là ổ rơm (anh hùng rơm!), “Chín lần thiên tử” vừa chỉ nhà vua, vừa chỉ chiếc chiếu (trùng âm với chiếu chỉ của nhà vua, và chiếu chỉ nhà vua thường bắt đầu bằng câu “Cửu trùng thiên tử chiếu”).
  • Đối đáp với Đầu phủ Thạch Hà Nguyễn Trùng Quang:

Ở phủ Thạch Hà có đầu phủ Nguyễn Trùng Quang vốn tự thị, tự đắc là hay chữ, học rộng nhất trong vùng. Nghe đồn thần đồng Nguyễn Công Trứ phong lưu, tài giỏi, anh ta chưa tin, những muốn gặp để thử hơn thua thế nào. Một lần, Trùng Quang cho người mời thần đồng Củng tới nhà mình chơi. Đúng ngày hẹn, Nguyễn Công Trứ tới thì thấy ngoài cửa chủ nhà có dán một đôi câu đối chữ Hán:

Sinh nê nhi bất nhiễm (Sinh nơi bùn mà không nhiễm)
Hữu xạ tự nhiên hương (Có chất xạ tự nhiên thơm)
Vào trong nhà, lại thấy trên bàn có một tờ giấy trắng, một cây bút lông và một đĩa mực mài sẵn, Trứ biết ngay chủ nhà muốn thử tài mình. Ông bèn xin phép cầm bút viết liền một đôi câu đối Nôm như sau:
Cửa sấm dám đâu mang trống lại
Đất người đành phải vác chiêng đi
Hai câu này lấy từ hai câu tục ngữ: “Đánh trống trước cửa nhà sấm” và “Mang chiêng đi đánh đất người”, ý nói: tôi đâu dám khoe khoang trước một người tài giỏi như ông, nhưng vì ông đã muốn thách thức thì tôi cũng đành thể hiện vậy. Đọc xong hai câu thơ, Đầu phủ họ Nguyễn, người tự đặt cho mình tên là Trùng Quang, có nghĩa là hai lần sáng, lập tức lấy làm tâm phục khẩu phục. Ông liền viết tặng Nguyễn Công Trứ hai câu thơ chữ Hán:
Khắc chấn danh gia năng hữu tử (Nối nghiệp, danh gia sinh con tài giỏi)
Bất tài tiện đệ nhượng vi huynh (Kém tài, tiện đệ xin nhường làm anh)
Đầu phủ Quang nhất định tôn Nguyễn Công Trứ làm anh, mặc dầu nhiều hơn Nho Củng đến năm sáu tuổi. Đến khi chia tay, Nguyễn Trùng Quang lại viết tặng “Đại huynh” thêm hai câu thơ Hán văn như sau:
Kinh nhân văn tự đề giai cú (Đề câu thơ hay văn tự kinh người)
Tuyệt thế anh tài kiến thiếu niên (Thấy kẻ thiếu niên anh tài tuyệt thế)
  • Một lần, Nguyễn Công Trứ theo bạn đi xem hát ví ở Nghi Xuân, gặp một đám con gái hát rằng:
vế ra: Hỏi anh hà tính hà danh, hà châu hà quận niên canh kỷ hà?.
vế ra rất oái oăm, chỉ 1 câu lục bát mà hỏi đủ thứ tên tuổi và nhà ở đâu. Theo phép đối thì phải đối lại bằng câu lục bát, nếu 2 câu trở lên thì sẽ thua. Nguyễn Công Trứ bí quá nghĩ mãi không ra đành chơi lối lấp lửng:
vế đối: Trước Lam Thủy sau Hồng Sơn, nhà nào đọc sách gẩy đờn là anh
vế đối tuy nói rõ nhà ông ở trước sông Lam và sau núi Hồng Lĩnh nhưng lại chưa rõ được cụ thể làng xóm và tên tuổi, các cô gái biết đối phương đã bí định dồn tiếp nhưng ngoảnh lại thì Nguyễn Công Trứ đã chuồn mất tự lúc nào
vế đối khác chuẩn hơn: Uy Viễn như Nguyễn như Công, như Trứ như Mậu Tuất dòng Văn như... (Trường Văn Nguyễn Phước Thắng) (Nguyễn Công Trứ sinh năm Mậu Tuất (1778), quê ở làng Uy Viễn, có biệt hiệu Hy Văn. Ông là con quan Đức Ngạn Hầu Nguyễn Công Tấn vốn dòng văn chương nổi tiếng ở Hà Tĩnh)
  • Gần làng Uy Viễn có bến Giang Đình trên bờ sông Lam, là một trong “Nghi Xuân bát cảnh” (tám cảnh đẹp của Nghi Xuân), trên bến có khu chợ nổi tiếng với những đặc sản miền quê và cũng là nơi thường lượn lờ, gặp gỡ của trai thanh gái tú. Một chiều xuân nọ, Nguyễn Công Trứ vừa thơ thẩn đến ngã ba đó thì thấy từ đằng xa một cô gái cũng đang đi lại. Chàng trai làm ra vẻ đang mê mải ngắm hoa, nhưng thực ra là câu giờ để đợi giai nhân đến. Biết tỏng chàng Nho sinh kia là ai và vốn không lạ gì những mẹo vặt kiểu đó, khi đến gần cô gái mỉm cười đọc, như bâng quơ: 'Có ai vô lí như thi sĩ, hoa nở giữa đường cũng vấn vương
Cô gái ấy vốn là một nghệ sĩ dân gian làng nghệ thuật Ca Trù Cổ Đạm, tài sắc có thừa. Biết đã gặp “đối thủ” cao tay, chàng thi sĩ dù vô lí vẫn không hề bối rối, mà lại buông giọng ỡm ờ như nói với bông hoa ven đường: 'Trời đà cho sắc cho hương, hoa kia nỡ để gió sương đãi đằng.
Chuyện đến đây, có người nói cô gái tự biết mình không phải là “kì phùng địch thủ” của chàng “thi sĩ vô lí” kia nên e thẹn bước đi, kéo theo cái nhìn xao xuyến của kẻ đa tình; nhưng cũng có người kể, sau một phút lúng túng, nàng đã trả đòn ngoạn mục: Sắc hương là của đất trời, phận ai ai giữ ai người phải lo!
Rồi không đợi chàng thi sĩ kịp đáp lời, sắc hương đã nhẹ gót xa dần với tiếng cười khúc khích…
  • Câu đối viết tặng vợ:
Mạc vị khốn hành phi ngọc nhữ (Vận khó trời còn trau chuốt ngọc)
Cảm tương bần tiện cố kiên nhân (Lúc nghèo ta có lụy chiều ai)
  • Câu đối viết trước lúc lên kinh ứng thí:
Nhờ trời phù hộ chồng tôi, miếng khoa giáp ăn xanh phường sĩ tử
Ơn chúa yêu vì bố nó, nợ trần hoàn trang trắng mặt nam nhi

Khi đã hiển đạt[sửa]

1 - Đối đáp với Tham Tri Bộ Lại Hà Tông Quyền (1790 - 1848):

  • Hà Tông Quyền quê ở Thanh Oai, Hà Đông, đỗ Tiến sĩ năm 1822, là người nổi tiếng thời bấy giờ về văn tài và học lực, được ba triều vua là Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức trọng vọng. Tuy hơn Hà Tôn Quyền gần hai chục tuổi, nhưng Nguyễn Công Trứ mãi ngoài 40 tuổi mới đậu Giải nguyên, còn Hà Tôn Quyền thì 25 tuổi đã đỗ Tiến sĩ, vì vậy hai ng­ười trở thành bạn đồng liêu, và cũng là bạn văn thơ với nhau. Người ta nói, bình thường, hai người vẫn giao du xướng họa cùng nhau, đều có mặt trong Hương Bình Thi Xã, vẫn vừa phục văn tài, học lực của nhau, nhưng vẫn vừa ngầm đua tài với nhau. Hơn nữa, Nguyễn Công Trứ không ư­a Hà Tôn Quyền về chỗ miệng l­ưỡi khéo léo, nịnh hót lấy lòng nhà vua của ông ta. Nhân một bữa, sau lúc bãi triều Hà Tông Quyền vừa gặp Nguyễn Công Trứ, liền đọc một vế đối hóc hiểm:
Quân tử ố kì văn chi Cụ lớn
Nguyên đây là một câu cổ văn trong sách Trung Dung 君子惡其文之著 “Quân tử ố kì văn chi trứ”, nghĩa là “Người quân tử ghét lối văn chương loè loẹt bề ngoài” (Trứ tiếng Hán nghĩa là nổi trội, loè loẹt), nhưng ông Quyền lại thay tên “Trứ” thành “Cụ lớn”, vừa tỏ vẻ kính trọng, vừa hóm hỉnh thách đối, nhưng kì thực thâm ý của ông ta muốn nói: nhà vua ghét văn chương phù hoa của cụ lớn/Trứ.
Không cần phải nghĩ ngợi lâu, Nguyễn Công Trứ đọc liền một câu đối lại: Thánh nhân bất đắc dĩ dụng Quý ông.
Đây cũng là một câu cổ văn 聖人不得已用權 “Thánh nhân bất đắc dĩ dụng quyền”, nghĩa là “Đức Thánh nhân bắt đắc dĩ phải dùng quyền biến”. Nguyễn Công Trứ cũng thật tài tình thay tên “Quyền” thành “Quý ông”, cũng vừa lịch sự và vô cùng thâm thuý: nhà vua bất đắc dĩ mới phải dùng ông đấy thôi! Người đời còn tán rằng vế đối của cụ Trứ không chỉ là đòn nhằm vào Hà Tôn Quyền, mà còn ngụ cả ý chê nhà vua nữa. “Ý tại ngôn ngoại” của câu này là phê phán nhà vua dùng người không đúng, bởi vì lúc thường thì nên dùng “kinh”, lúc biến mới phải dùng “quyền”; nay đang thời bình trị mà nhà vua dùng “quyền” thì không phải là đấng minh quân!
  • Nhân đà đối đáp, Nguyễn Công Trứ lại đọc thêm một câu cổ văn nữa:
vế ra: Cùng, thông, đắc, táng, bỉ thương mặc phó kì quyền (Nghĩa là: Cùng,thông, thua, được, trời xanh giao phó quyền hành). Câu này cũng có chữ “quyền” ở sau cùng, và cũng để thách thức Hà Tôn Quyền đối lại, nhưng Nguyễn Công Trứ còn có thâm ý nói rằng Hà Tôn Quyền khéo nịnh nên mới được nhà vua giao phó cho quyền hành. Nhất thời Hà Tôn Quyền không tìm ra câu khác nào trong cổ văn có chữ Trứ ở cuối để đối lại được đành chịu thua chờ cơ hội khác phục thù.
vế đối: Cơ, tắc, vu, tà, hoành, tứ chi đạo bất trứ (Trường Văn Nguyễn Phước Thắng) (Chữ Trứ là tên riêng của Uy Viễn Tướng Công để đối với tên riêng của Hà Tôn Quyền. Cơ = đói, tắc = vùi, lấp; vu = lừa dối, tà = cong vạy, không ngay thẳng; hoành = ngang ngạnh, tứ = buông thả. Vế đối ý nói: Nếu đạo lý không rõ ràng thì Cơ, Tắc, Vu, Tà, Hoành, Tứ sẽ xảy ra. Toàn bộ vế đối đều trích trong sách Mạnh Tử. Những chữ Cơ, Tắc, Vu, Tà, Hoành, Tứ được chọn lọc trong các ý chính của 1 đoạn văn rồi ghép lại, "chi đạo bất trứ" là trích trong 1 câu cũng của đoạn văn trên. Mạnh Tử (372–289 trước công nguyên; có một số tài liệu khác ghi là: 385–303 hoặc 302 TCN) là nhà triết học Trung Quốc và là người tiếp nối Khổng Tử. Ông tên là Mạnh Kha, tự là Tử Dư, sinh vào đời vua Liệt Vương, nhà Chu; quê gốc ở đất Trâu, thuộc nước Lỗ, nay là thành phố Trâu Thành, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc. Ông mồ côi cha, chịu sự nuôi dạy nghiêm túc của mẹ là Chương Thị (người đàn bà họ Chương). Chương Thị sau này được biết tới với tên Mạnh Mẫu (mẹ của Mạnh Tử). Mạnh Mẫu đã ba lần chuyển nhà để Mạnh Tử được ở trong môi trường xã hội tốt nhất cho việc học tập, tu dưỡng. Ông đem học thuyết của mình đi truyền bá đến vua chúa các nước chư hầu như Tề Tuyên Vương (nước Tề), Đằng Văn Công (nước Đằng), Lương Huệ Vương (nước Nguỵ)...nhưng không được áp dụng. Về cuối đời ông dạy học và viết sách, sách Mạnh Tử của ông là một trong những cuốn sách quan trọng của Nho giáo. Ông được xem là Ông Tổ Thứ Hai của Nho giáo và được hậu thế tôn làm "Á Thánh Mạnh Tử" (chỉ đứng sau Khổng Tử).

2 - Bịa ra những giai thoại đối đáp để trả đũa một số viên quan có tư thù:

  • Với quan tổng đốc tỉnh Bắc Ninh:

Trong một bữa tiệc có quan Tổng đốc Bắc Ninh (một trong những người đã từng vu khống Nguyễn Công Trứ) cùng dự, khi chén rượu đã ngà ngà, đáp lời mọi người mời mọc, thúc dục kể chuyện vui, Nguyễn Công Trứ nói: "Thư­a các quan, cách đây mấy năm, khi đương làm quan ở đất Bắc, nhân đi hành hạt tại huyện lị Nam Sách gặp một đứa bé con mới lên bảy tám tuổi mà thông minh linh lợi khác thường, tôi liền ra cho nó một vế đối Nôm: Lời vàng quan tỉnh Bắc Ninh.

Không ngờ, chẳng cần phải nghĩ ngợi lâu, nó ứng khẩu­ đối luôn: Cửa ngọc bà huyện Nam Sách.
Chà,“Lời vàng” đối với “cửa ngọc”, “quan tỉnh” đối với “bà huyện”, “Bắc Ninh” đối với “Nam Sách” thì còn chê làm sao được! Tôi liền thưởng cho nó một quan tiền. Nghe chuyện, các quan đều pha ra cười, chỉ có quan Tổng đốc Bắc Ninh họ Phạm thì đỏ mặt tía tai, cố ngồi nín thinh cho qua bữa tiệc.
  • Kể chuyện đối đáp trả đũa tri phủ Thạch Hà:

Quan phủ Thạch Hà - Hà Tĩnh, cũng có mối ân oán chi đó với Nguyễn Công Trứ, Trong một bữa tiệc, khi các các quan đã ăn uống say sưa rồi, cụ Trứ kể chuyện: "Ở phủ Thạch Hà đất Hà Tĩnh quê tôi có một đứa bé thần đồng. Nó ứng đối tài tình không thể tưởng. Một lần tình cờ gặp nó, tôi đọc mau một câu thật dài để thách nó đối, thế mà nó đối hay và nhanh hơn cả người lớn mới tài chứ".

Câu tôi đọc là thế này: Chống chọi như quan phủ Thạch Hà. Thạch là đá, hà là sông, giữa dòng sông ngăn đá, nên chi mồm ông phủ Thạch Hà hà!.
Nó tiếp lời tôi mà đối ngay như sau: Giàu có như bà huyện Kim Động. Kim là vàng, động là hang, trong cửa hang có vàng, bởi thế đồ bà huyện Kim Động động!.
Các quan khách trong tiệc ôm bụng cười nghiêng ngửa vô tư, chỉ riêng quan Tri phủ Thạch Hà thì nửa cười nửa mếu lấm lét nhìn quanh.
  • Với quan tỉnh thần Hà Tĩnh:

Mùa xuân năm Canh Tuất (1850), lúc đó Nguyễn Công Trứ về hưu dưỡng đã được gần nột năm, các quan tỉnh Hà Tĩnh tổ chức lễ cúng “Xuân thủ”, là lễ cúng đầu mùa xuân hàng năm. Tham dự lễ cúng, ngoài các quan viên tại chức, các hưu quan trong tỉnh cũng được mời, trong đó có viên tỉnh thần Hà Tĩnh trước đây từng tố cáo Nguyễn Công Trứ với vua Tự Đức. Sau khi hành lễ là một bữa tiệc rượu khoản đãi các quan viên văn võ tân cựu trong tỉnh. Vào bàn tiệc, Nguyễn Công Trứ kể chuyện: "Chả là hồi đó lão còn làm Tổng đốc Hải Yên, một hôm đi đường gặp một đứa bé chừng mười tuổi mà trông lanh lợi vô cùng".

Đoán nó là một học trò thông minh, lão liền ra cho nó một câu đối: Ở Hà Tĩnh sông lặng nhờ gió lặng (Hà Tĩnh có nghĩa là sông lặng)
Nó ứng khẩu đối ngay: Tại Hải Yên bể yên bởi sóng yên (Hải Yên có nghĩa là biển yên)
Lão tiếp tục đọc: Quan tỉnh Hà Tĩnh mở miệng hay, lời lời châu ngọc
Nó đối liền: Bà tổng Hải Yên giấu của kín, hàng hàng gấm thêu ("Miệng hay" ở trên đối với "của kín" ở dưới! "Lời lời châu ngọc" ở trên đối với "hàng hàng gấm thêu" ở dưới!)
Lão lại ra một câu đối bằng tục ngữ: Ăn một đọi, nói một lời, đừng học thói tam tiên tam tổ
Nó cũng đối ngay bằng tục ngữ: Của ba loài, ngư­ời ba đấng, kể chi phường bát đảo bát điên ("Tam tiên tam tổ" ở trên đối với "bát đảo bát điên" ở dưới).
Lão phục nó lắm, đọc một câu ngạn ngữ khác: Ném đất giấu tay, ghê những kẻ mặt người dạ thú
Nó đối liền cũng bằng một câu ngạn ngữ: Phun người ngậm máu, sá chi ph­ường miệng Phật lòng xà ("Mặt người dạ thú" đối với "miệng Phật lòng xà" ở dưới).
Các quan trong tiệc ngồi nghe, có người xuýt xoa khen thằng bé giỏi, nhưng cũng có người tái mặt, cúi đầu.

3 - Câu đối viết cho Phan Bá Vành:

  • Trong trận đánh với Phan Bá Vành, thế trận thiên la địa võng của Nguyễn Công Trứ giăng ra rất chặt chẽ khiến vị lãnh tụ nông dân này đành thúc thủ, phải nộp mình cho viên cai tổng quen biết trong những ngày còn là nông dân chịu thương chịu khó. Nguyễn Công Trứ có viết như sau:
Rồng mà mắc cạn tôm giỡn mặt
Cọp lạc đồng bằng bị chó khi
Qua những lời này, Nguyễn Công Trứ thực lòng ông cũng tiếc cho Phan Bá Vành. Nhưng biết làm sao được. Ở đời nào ai có thể chọn cho mình quê hương, cha mẹ, số phận? Nợ nần kiếp trước chăng?

4 - Những câu đối viết khi đã về nghỉ hưu:

  • Câu đối viết khi vừa hồi hương:
Miệng thế khó đem b­ưng nó lại
Lòng mình chưa dễ bóc ai coi
  • Câu đối viết cho chùa ở làng làm nghề thợ rèn:

Có làng làm nghề thợ rèn, vừa làm xong ngôi chùa làng. Dân đến xin ông Nguyễn Công Trứ câu đối để khắc vào cổng chùa. Cho nên ông đã cầm bút viết hai đại tự: Sắc Không vào một tờ giấy đỏ.

Trên một tờ khác, ông viết hai chữ: Không Sắc, bảo dân làng ấy đem về khắc vào hai cái bảng như hai cái khánh, có chạm rồng phụng sơn son thếp vàng, treo lên hai đầu trụ.
Nội hàm có hai ý: câu hỏi thường của người dân với người thợ rèn đối đáp để hỏi về tính chất của dụng cụ họ rèn ra. Thứ hai là cả nội dung triết lý nhà Phật, mênh mông, rất khó. Giảng ra thiên kinh vạn quyển, rút lại còn hai chữ “Sắc” với “Không“. Sắc bất dị không, không bất dị sắc; sắc tức thị không, không tức thị sắc…
  • Câu đối viết trước lúc ly trần:
Cũng may thay công đăng hoả có là bao, theo đòi nhờ phận lại nhờ duyên, quan trong năm bảy thứ, quan ngoài tám chín phen, nào cờ nào quạt, nào mão nào đai, nào hèo hoa gươm bạc, nào võng tía dù xanh, mặt tài tình trong hội kiếm cung, khắp trời nam bể bắc cũng tung hoành, mùi thế trải qua ngần ấy đủ
Thôi quyết hẳn cuộc phong trần chi nữa tá, ngất ngưởng chẳng tiên mà chẳng tục, hầu gái một vài cô, hầu trai năm bẩy cậu, này cờ này kiệu, này rượu này thơ, này đàn ngọt hát hay, này chè chuyên chén mẫu, tay thao lược ngoài vòng cương toả, lấy gió mát trăng trong làm tri thức, tuổi trời ít nữa ấy là hơn

Được nhân dân tặng[sửa]

  • Câu đối của nhân dân huyện Kim Sơn tỉnh Thái Bình:
Hoan quận hương chi khôi, cái thế văn tài kiêm võ lược (Hoan quận Hương đỗ đầu, cái thế văn tài kiêm võ lược)
Kim Sơn địa dĩ tích, thiên thu miếu hưởng hựu triều phong (Kim Sơn đất mở rộng, nghìn thu miếu hưởng lại triều phong)
  • Câu đối của nhân dân huyện Tiền Hải tỉnh Thái Bình:
Văn võ tuyền tài, danh trọng nội triều ngoại quận (Văn võ tài gồm hay, danh trọng đối nội triều, ngoài quận)
Điền trù thực ngã, công cao Tiền Hải, Kim Sơn (Ruộng nương đất mở rộng, công cao tại Tiền Hải, Kim Sơn)
  • Câu đối của thân bằng văn hữu ở Hà Tĩnh:
Sự nghiệp kinh nhân thiên hạ hữu (Trong thiên hạ vốn có người sự nghiệp kinh đời như Cụ)
Phong lưu đáo lão thế gian vô (Giữa thế gian nào có kẻ phong lưu mãn kiếp như Ngài)
  • Câu đối của thân bằng văn hữu ở Nghệ An:
Minh thế văn chương thiên hạ hữu (Văn chương cái thế như ông, trong thiên hạ còn có đôi kẻ)
Nhứt sinh khảng khái thế gian vô (Khảng khái suốt đời như Cụ, giữa thế gian không có một người)
  • Câu đối do Ông Nghè Nguyễn Quý Tân viết tặng:
Giang sơn tóm lại đôi sân khấu
Văn vũ đem ra một khúc cầm
  • Câu đối do cụ Hoàng Nho Nhã gửi tặng:
Sự nghiệp kinh nhân thiên hạ hữu
Phong lưu đáo lão thế gian vô!

Nghĩa là kẻ làm nên sự ngiệp khiến người đời khiếp sợ trong thiên hạ vẫn còn, chứ người đến già vẫn phong lưu (như cụ) thì thế gian không có!

  • Câu đối mừng thọ Nguyễn Công Trứ 80 tuổi của Tổng Đốc Nam Định Võ Trọng Bình (1808 - 1898):
Trực dục lăng tiêu tri kính trúc (Thẳng đám trời cao hay trúc cứng)
Khả ư hàn tuế kiến thương tùng (Vào năm rét lớn thấy tùng xanh)
  • Câu đối ở đền thờ Nguyễn Công Trứ (Làng Đông Quách huyện Tiền Hải Thái Bình):
Đắc địa sinh từ Đông ấp nhất bách niên kỷ niệm (Đất tốt dựng đền thờ, làng Đông ấp trăm năm lưu kỷ niệm)
Kình thiên trụ thạch Hồng Sơn thiên vạn cổ tề cao (Trời cao xây cột đá, núi Hồng Sơn muôn thuở sánh công lao)

Minh Mạng và Trương Đăng Quế[sửa]

Vua Minh Mạng

Vua Minh Mạng, cũng gọi là Minh Mệnh, tức Nguyễn Thánh Tổ là vị Hoàng đế thứ hai của nhà Nguyễn. Ông tên thật là Nguyễn Phúc Đảm, còn có tên Nguyễn Phúc Kiểu là con trai thứ tư của vua Gia Long và Thuận Thiên Cao hoàng hậu Trần Thị Đang. Ông sinh tại làng Tân Lộc, gần Sài Gòn, giữa cuộc Chiến tranh Tây Sơn–Chúa Nguyễn (1787-1802). Con thứ hai của Gia Long là hoàng thái tử Nguyễn Phúc Cảnh mất sớm, do thái tử Cảnh là người con chịu nhiều ảnh hưởng của đạo Gia Tô từ Pháp nên sau khi hoàng tử Cảnh qua đời, vua Gia Long không chọn cháu đích tôn của mình (con Cảnh) làm người người kế vì sợ những ảnh hưởng của Pháp tới triều đình. Mặc dù có nhiều đình thần phản đối nhưng vua Gia Long vẫn quyết chọn Nguyễn Phúc Đảm làm người kế vị. Hoàng tử Đảm vốn là người hay bài xích đạo Gia Tô và không có cảm tình với người Pháp – tư tưởng này giống với Gia Long. Năm 1815, Nguyễn Phúc Đảm được phong Hoàng thái tử và từ đó sống ở điện Thanh Hoà để quen với việc trị nước. Được xem là một ông vua năng động và quyết đoán, Minh Mạng đã đề xuất hàng loạt cải cách từ nội trị đến ngoại giao. Ông cho lập thêm Nội các và Cơ mật viện ở kinh đô Huế, bãi bỏ chức tổng trấn Bắc thành và Gia Định thành, đổi trấn thành tỉnh, củng cố chế độ lưu quan ở miền núi. Dưới thời ông, quân đội nhà Nguyễn được tổ chức lại, chia thành bộ binh, thủy binh, tượng binh, kị binh và pháo thủ binh. Minh Mạng còn cử quan ra chỉ đạo khai hoang ở ven biển Bắc kỳ và Nam kỳ. Là người tinh thông Nho học và sùng đạo Khổng Mạnh, Minh Mạng rất quan tâm đến việc học tập và củng cố thi cử. Minh Mạng chủ trương mở mang thế lực ra nước ngoài, ông đổi tên Việt Nam thành Đại Nam, và muốn cho đất nước trở thành một đế quốc hùng mạnh. Nhà vua lập các phủ Trấn Ninh, Lạc Biên, Trấn Định, Trấn Man nhằm khống chế Ai Lao; và thực sự kiểm soát Chân Lạp, đổi Nam Vang (Phnôm Pênh ngày nay) thành Trấn Tây thành; kết quả là Đại Nam có lãnh thổ rộng hơn cả. Quan lại Đại Nam đã được cử sang các vùng đó làm quan cai trị, và đã gây nhiều bất bình với dân chúng ở đó khiến cho tình hình rối loạn cứ liên tiếp xảy ra. Do không có thiện cảm với phương Tây, Minh Mạng đã khước từ mọi tiếp xúc với họ. Ngoài ra, vì Minh Mạng không thích đạo Cơ Đốc của phương Tây, nên ông đã ra chiếu cấm đạo và tàn sát hàng loạt tín đồ Cơ Đốc giáo. Một lần vua Minh Mạng đến thăm chùa Non Nước (Ngũ Hành Sơn – Đà Nẵng). Trong đoàn tùy tùng có Trương Đăng Quế là một đình thần hay chữ. Thấy cảnh ở đây rất đẹp, vua ra vế đối:

Chùa Non Nước trên non dưới nước, nước non về một đấng quân vương
Trương Đăng Quế đối lại: Cửa Thuận An trong thuận ngoài an, an thuận khắp bốn phương thiên hạ
Trương Đăng Quế tự là Diên Phương, hiệu là Đoan Trai, biệt hiệu Quảng Khê, người làng Mỹ Khê Tây, huyện Bình Sơn, nay thuộc xã Tịnh Khê, huyện Sơn Tịnh. Ông thi đỗ hương tiến (tương đương cử nhân sau này) khoa Kỷ Mão (1819) và là người khai khoa của phủ Quảng Ngãi, nay là tỉnh Quảng Ngãi. Sau khi thi đỗ, ông được bổ làm Hành tẩu bộ Lễ dưới triều Gia Long, đến năm Minh Mạng thứ nhất (1820) được thăng Biên tu rồi sung làm Hoàng tử trực học, trở thành 1 trong 3 thầy dạy của các hoàng tử dưới triều Minh Mạng. Trải qua 3 triều vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, ông lần lượt giữ nhiều chức vụ quan trọng của triều đình: Thượng Thư bộ Binh, Cơ mật viện đại thần (1831), Chánh chủ khảo thi Hội (1833, 1838), Thượng Thư bộ Lễ (1839), Quốc sử quán Tổng tài (1841), Cần chánh điện Đại học sĩ (1848)…Ông từng 2 lần nhận di chiếu tôn phò tân vương, nhiều lần được nhà vua giao sứ mệnh Kinh lược đại thần thi hành những sứ vụ quan trọng của triều đình. Năm 1863, sau nhiều lần xin từ quan, ông được vua Tự Đức cho về trí sĩ. Sống những năm tháng cuối đời nơi làng quê chôn nhau cắt rốn, ông vẫn đau đáu nỗi lòng trước tình cảnh đất nước rơi vào họa xâm lăng, nhiều lần dâng thư ra Huế bày tỏ nỗi lo toan vận nước. Ông là bề tôi lương đống của nhà Nguyễn: Lúc còn sống được phong tước Tuy Thạnh quận công, khắc tên vào cỗ súng lớn Bảo Đại định công, khi qua đời được truy phong Thái sư, ban tên thụy là Văn Lượng, cho khắc vào bia mộ dòng chữ Lưỡng triều cố mệnh lương thần Trương Văn Lương chi mộ (Mộ của bề tôi giỏi chịu mệnh tiên đế phó thác qua hai triều là Trương Văn Lương). Năm 1876 (Tự Đức thứ 28) nhà vua cho phối thờ ông trong Thế miếu, nơi thờ phụng các vua nhà Nguyễn và phối thờ các đại công thần.

Phan Thanh Giản[sửa]

Phan Thanh Giản

Phan Thanh Giản tự là Đạm Bá, Đạm Như, hiệu là Lương Khê, biệt hiệu là Mai Xuyên, sinh tại làng Tân Thạnh, huyện Vĩnh Bình, phủ Định Viễn, tỉnh Vĩnh Long, nay là xã Bảo Thạnh, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Năm 30 tuổi, Phan thi Hương, đậu cử nhân tại trường thi Gia Định (1825). Sang năm sau (1826), thi Hội ở kinh đô Huế, Phan đỗ đệ tam giáp đồng tiến sĩ và cũng là vị tiến sĩ đầu tiên của Nam Kỳ. Từ đấy, Phan bắt đầu bước sang cuộc đời hoạn lộ, làm quan trải 3 triều, Minh Mạng, Triệu Trị và Tự Đức. Dưới triều Minh Mạng, ông lần lượt giữ các chức Hàn lâm viện biên tu, rồi cải bổ Lang trung bộ Hình (1827), Tham hiệp tỉnh Quảng Bình (1828), quyền nhiếp Tham hiệp tỉnh Nghệ An (1829), Lễ bộ tả thị lang và tham gia Nội các (1830), Hiệp trấn tỉnh Quảng Nam (1831), Hàn lâm kiểm thảo Nội các hành tẩu, Hộ bộ viên ngoại lang (1832), Đại lý tự khanh sung Cơ mật viện đại thần (1834), Kinh lượt trấn Tây (1835), Tuần vũ Quảng Nam (1836), Thống chánh sứ và Phó sứ rồi Hộ thị lang (1839). Minh Mạng chết, Phan được Thiệu Trị tiếp tục trọng dụng, làm Phó chủ khảo Trường thi Thừa Thiên (1840), Phó đô ngự sử Đô sát viện (1847). Đến triều Tự Đức, Phan được giao phụ trách giảng dạy và điều khiển Trường Kinh Diên, rồi làm Tổng tài coi việc biên soạn bộ Khâm định Việt sử thông giám cương mục (1848), được bổ chức Thượng thư bộ Lại, sung Cơ mật viện đại thần (1849). Năm 1850, Phan được cử vào trấn nhậm miền Tây Nam Kỳ cùng với Nguyễn Tri Phương. Sau đó lại được phong làm Phó kinh lược sứ Nam Kỳ. Đầu năm 1862, sau khi đồn Kỳ Hòa thất thủ, các tỉnh Biên Hòa, Định Tường bị chiếm, Phan được Tự Đức cử làm Chánh sứ toàn quyền đại thần cùng với Lâm Duy Hiệp vào Nam thương thuyết với yêu cầu tùy nghi chuộc lại các tỉnh đã mất. Nhưng đến ngày 5-6-1862, Phan ký với Bonard (Thiếu tướng hải quân Pháp) và Guttierez (đại tá, chỉ huy trưởng quân viễn chinh Tây Ban Nha ở Nam Kỳ) một hòa ước gồm 12 điều khoản, trong đó có việc cắt 3 tỉnh miền Đông cho Pháp và bồi thường 4 triệu đô la tương đương với 2.880.000 lạng bạc, trả trong 10 năm. Việc làm này của Phan đã bị Tự Đức quở trách. Dù vậy, sang năm 1836, Phan lại được Tự Đức cử làm Chánh sứ cùng với Phó sứ Phạm Phú Thứ, Bồi sứ Ngụy Khắc Đản sang Pháp xin chuộc lại 3 tỉnh miền Đông, nhưng không thành. Tháng 1-1866, trước khi ý đồ lăm le chiếm nốt 3 tỉnh miền Tây của Pháp, Tự Đức lại cử Phan vào làm Kinh lược sứ trấn giữ Vĩnh Long. Ngày 20-6-1867, Pháp chiếm tỉnh thành Vĩnh Long (lần thứ hai). Phan Thanh Giản đã tuyệt thực, rồi uống thuốc độc tự tử vào ngày 4-8-1867. Sau khi ông mất, có rất nhiều gửi câu đối phúng điếu như sau:

  • Sĩ phu Nam Kỳ điếu Phan công:
九泉未釋羣戎憾 Cửu tuyền vị thích quần nhung hám (Suối vàng còn giận quân giặc dữ)
一忍能全六省民 Nhất nhẫn năng toàn lục tỉnh dân (Nhẫn nhục cho yên đám dân lành)
  • Sĩ phu Trung Kỳ phúng Phan công:
三朝耿耿敦從事 Tam triều cảnh cảnh đôn tùng sự (Gắn bó ba triều lo việc trọn)
一老哀哀不憗遺 Nhất lão ai ai bất ngận di (Xót thương một lão chẳng sống lâu)
  • Sĩ phu Bắc kỳ phúng điếu Phan công:
南中再覩文承相 Nam trung tái đổ Văn thừa tướng (Trong Nam lại thấy Văn thừa tướng)
北地驚魂郭子儀 Bắc địa kinh hồn Quách Tử Nghi (Ngoài Bắc càng kinh Quách Tử Nghi)
  • Những câu đối khắc ở ngoài lăng mộ:
江山鍾秀氣 Giang sơn chung tú khí (Sông núi đúc khí tốt)
歐亞慕威靈 Âu Á mộ uy linh (Âu Á mến oai linh)
節義留天地 Tiết nghĩa lưu thiên địa (Tiết nghĩa truyền trời đất)
精神貫斗牛 Tinh thần quán Đẩu Ngưu (Tinh thần cao tận Đẩu, Ngưu)

Nguyễn Văn Siêu[sửa]

Nguyễn Văn Siêu tên khác là Định, tự Tốn Ban, hiệu Phương Đình và Thọ Xương cư sĩ, thuỵ Chí Đạo, người làng Kim Lũ, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông. Ông thi hương đỗ Á nguyên năm 1838, thi hội đỗ Phó Bảng, lúc 39 tuổi làm quan đến Kiểm thảo viện Hàn lâm, rồi trải qua các chức vụ Chủ sự bộ Lễ, Thị giảng học sĩ...Năm 1849, ông làm phó sứ sang Trung Quốc, khi về thăng học sĩ Viện Tập hiên, rồi ra làm án sát Hà Tĩnh, án sát Hưng Yên. Năm 1854 ông dâng sớ điều trần nhiều việc, triều đình bỏ qua không xem xét đến. Ông chán nản từ quan, lui về quê chuyên tâm soạn sách. Vua Tự Ðức hết mực khen tài năng của ông và Cao Bá Quát. Tài văn chương của ông được đương thời ca tụng, Ông để lại nhiều tác phẩm nổi tiếng, và là người đứng ra tu tạo lại di tích đền Ngọc Sơn- Tháp Bút-Ðài Nghiên có quy mô như ngày nay. Ông và Cao Bá Quát là hai người nổi tiếng có tài văn thơ mà dân gian hay truyền tụng là "thần Siêu thánh Quát". Nguyễn Văn Siêu làm quan đến chức Án Sát, có sang sứ Trung Hoa. Tương truyền khi Nguyễn Văn Siêu được cử về giữ chức án sát ở Hà Tĩnh, các nho sĩ vùng này lập mẹo để thử tài Thần Siêu xem như thế nào. Họ bố trí cho một người chạy ra đường, đón võng ông đi qua để xin câu đối. Ông hỏi hoàn cảnh, người ấy nói là gia đình có hai bố mẹ cùng chết một lúc, nay xin câu đối về thờ chung, hỏi thêm hành trạng người đã khuất thì chẳng ai có công tích hay tài năng gì đặc biệt cả, người ta bày giấy bút ra trước mặt ông, để xin …có ngay! Nguyễn Văn Siêu hơi lúng túng. Đầu đề “khô khan” như thế này, thì phải có thời gian suy nghĩ. Ông nói với người kia: "Được, ta sẽ viết ngay. Có điều giấy bút này xấu quá ta không quen viết. Anh chịu khó chạy đi đổi cho ta thứ khác". Thời gian người kia chạy đi kiếm giấy bút tốt là thời gian ông cấu tứ. Và đôi câu đối được viết ra:

Đình tiền đồng trúc giao phù, xưng cô diệc xưng ai, bất thắng địa thảm thiên sầu, cửu tự chi ân vị báo (Trước sân gậy vông gậy trúc chống xen nhau, hết xưng cô rồi lại xưng ai, xiết bao trời thảm đất sầu, chín chữ cù lao chưa chút báo)
Tuyền hạ sắt cầm tịnh cổ, bất quan diệc bất quả, ý giả sơn minh hải thệ, bách niên chi ước mạc vong (Dưới suối, đàn sắt đàn cầm cùng hòa hợp, thôi nỗi quan và thôi nỗi quả, ý hẳn non thề biển hẹn, trăm năm nguyện ước quyết không quên)
Đám tang xưa, khi cha mất, con chống gậy vông tự xưng là cô, khi mẹ mất con chống gậy tre tự xưng là ai. Quan là người chết vợ, quả là người chết chồng. Trong hoàn cảnh như vậy mà Nguyễn Văn Siêu viết được câu đối ý tình tha thiết nói đúng cảnh ngộ chung và cảnh ngộ riêng một cách thanh thoát và thật tài tình.
  • Câu đối bày tỏ sự thương tiếc của Nguyễn Văn Siêu với gia đình họ Cao:
Tối liên tai, quán cổ tài danh, nan đệ cánh nan huynh, bất thế ngẫu sinh hoàn ngẫu tử (Thảm thương thay! nức tiếng tài danh, anh giỏi em giỏi, đời dễ mấy người cùng sống thác)
Khả tích dã, đáo đầu sự thế, thử nhân nhi thử ngộ, hỗn trần lưu xú diệc lưu hương (Khá tiếc nhỉ! đến nơi sự thế, người này cảnh ấy, đời lưu một tiếng để danh thơm)

Nguyễn Thị Hinh[sửa]

  • Bà huyện Thanh Quan là một nữ sĩ thời Nguyễn, tên thật là Nguyễn Thị Hinh. Tiểu sử của bà không được đầy đủ lắm. Người ta chỉ biết bà là ái nữ của một vị danh Nho, sinh quán tại làng Nghi Tàm, huyện Thọ Xương (nay là Hoàn Long, tỉnh Hà Đông). Bà lập gia đình với ông Lưu Nghị, tự là Lưu Nguyên Uẩn, người làng Nguyệt Áng, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông, đỗ cử nhân khoa Tân Tỵ, năm Minh Mạng thứ hai, được bổ làm tri huyện Thanh Quan. Do đó nữ sĩ được gọi là Bà huyện Thanh Quan hay Bà Thanh Quan. Trong Nam thi hợp tuyển của Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc có đề cập về chồng của nữ sĩ như sau: "Chồng bà là ông Lưu Nguyên Uẩn, sinh năm 1804, đậu tú tài năm 1825, cử nhân năm 1828 và được bổ nhiệm làm tri huyện Thanh Quan. Ông huyện Thanh Quan vì can án phải cách, bổ làm Bát phẩm thơ lại Bộ hình. Sau lại thăng lên chức Viên ngoại lang". Bà từng viết một câu đối Tết như sau:
Duyên với văn chương nên dán chữ
Nợ gì trời đất phải trồng nêu
  • Nhờ có tài văn chương lỗi lạc, Bà Huyện Thanh Quan được vua Tự Đức vời vào cung và phong chức Cung trung Giáo tập để dạy cho các cung nhân học. Trọng tài học của bà, vua Tự Đức có ban cho bà được đề thơ vào một cái chén cổ, có bức hoạ sơn thuỷ. Bà đã ứng khẩu đọc hai câu:
In như thảo mộc trời Nam lại
Đem cả sơn hà đất Bắc sang
Câu đối trên ý là: loại trà để pha là loại trà quý của Đại Nam, phải dùng loại chén sứ quý nổi tiếng của Trung Hoa (có vẽ hình núi sông) mới xứng tầm.

Thiệu Trị và Hồng Bảo[sửa]

Lầu Đức Hinh tại Lăng Thiệu Trị

Thiệu Trị tên húy là Nguyễn Phúc Miên Tông, ngoài ra còn có tên là Nguyễn Phúc Tuyền và Dung. Ông là con trưởng của vua Minh Mạng và Tá Thiên Nhân Hoàng hậu Hồ Thị Hoa, sinh ngày 11 tháng 5 năm Đinh Mão, tức 16 tháng 6 năm 1807, tại Huế. 13 ngày sau khi sinh hạ Miên Tông, thân mẫu của ông mất. Khi vua Minh Mạng qua đời, Nguyễn Phúc Miên Tông được di mệnh nối ngôi lấy niên hiệu là Thiệu Trị. Vua Thiệu Trị lên ngôi ngày 20 tháng giêng năm Tân Sửu tức 11 tháng 2 năm 1841 ở điện Thái Hòa, vừa đúng 34 tuổi. Thiệu Trị cũng nổi tiếng là một vị vua thi sĩ, có để lại rất nhiều bài thơ, nổi tiếng nhất là 2 bài thơ chữ Hán có tên là Vũ Trung Sơn Thủy (Cảnh trong mưa) và Phước Viên Văn hội lương dạ mạn ngâm (Đêm thơ ở Phước Viên). Cả 2 bài không trình bày theo lối thường mà viết thành 5 vòng tròn đồng tâm, mỗi vòng tròn có 1 số chữ, đếm mỗi bài có 56 chữ, ứng với một bài thơ thất ngôn bát cú, nhìn vào như một “trận đồ bát quái”, vua có chỉ cách đọc và đố là kiếm ra 64 bài thơ trong đó nhưng tới nay chưa ai tìm ra được. Trong những lúc rảnh rỗi công việc y triều chính, thường hợp các hoàng tử nhỏ tuổi để thử thách tài năng đối đáp.

Một hôm nhà vua ra câu đối: Bắc sứ lai triều
Hoàng Tử Hồng Bảo nhanh nhẩu đối: Tây Sơn phục quốc
Vua Thiệu Trị phì cười, mắng khéo con: "Tây Sơn mà phục quốc thì cả bà con mi không có đất mà chôn. Lần sau có đối thì cũng phải giữ gìn ý tứ nghe con!" Hồng Bảo giật mình, biết mình lỡ miệng, từ đó trở nên e dè, thận trọng hơn trong lời nói. Nguyễn Phúc Hồng Bảo là con trưởng vua Thiệu Trị, mẹ là Đinh Thị Hạnh người Gò Công huyện Tân Hòa, tỉnh Gia Định. Bà được đưa vào cung năm 16 tuổi, chỉ ở hàng lục chức, sau khi mất, vua Tự Đức mới truy phong bậc tần. Theo lẽ thường, sau khi vua Thiệu Trị mất, ngôi vua sẽ được truyền cho con trưởng là Hồng Bảo. Hơn nữa, vào năm 1842, Hồng Bảo còn được phép tháp tùng vua cha trong dịp tuần du ra Bắc Hà, để cùng hiểu rõ dân tình; và năm 1847, ít lâu trước khi qua đời, nhà vua còn cho tổ chức lễ đại khánh ngũ đại đồng đường, mừng việc Ưng Đạo, con Hồng Bảo vừa mới chào đời. Trong dịp này, vua Thiệu Trị đã đích thân ẵm cháu nội Ưng Đạo trình với Thuận Thiên Thái hoàng thái hậu (vợ vua Gia Long, bà nội Thiệu Trị). Tất cả những việc ấy, khiến Hồng Bảo rất tin tưởng mình sẽ là người được kế vị sau này. Thế nhưng, khi vua Thiệu Trị mất vào ngày 27 tháng 9 năm Đinh Mùi (tức ngày 4 tháng 10 năm 1847), liền ngày ấy, các hoàng thân và các quan văn võ họp tại điện Cần Chánh để tuyên đọc di chiếu, theo đó hoàng thứ hai là Phúc Tuy công Nguyễn Phúc Hồng Nhậm được lập lên ngôi (tức vua Tự Đức). Hồng Nhậm khóc lạy lãnh mạng. Di chiếu đọc chưa dứt, An Phong công (Hồng Bảo) phẫn uất thổ huyết hơn một đấu, nằm vật ngã giữa điện đình. Lúc làm lễ đăng quang, mấy người phải đỡ ông dậy, nghi lễ mới hoàn tất. Lý do bị phế truất, sử nhà Nguyễn chép lời trăng trối trước khi mất của vua Thiệu Trị nói với các đại thần là Trương Đăng Quế, Võ Văn Giải, Nguyễn Tri Phương và Lâm Duy Hiệp: "Trong các con ta, Hường Bảo (Hồng Bảo) tuy lớn, nhưng vì thứ xuất (con bà hầu sinh ra), mà lại ngu độn ít học, chỉ ham vui chơi, nối nghiệp không đặng. Con thứ hai là Phước Tuy công (tức Hồng Nhậm) thông mẫn ham học giống in như ta, đáng nối ngôi làm vua. Hôm qua ta đã phê vào tờ Di chiếu để trong long đồng (ống chạm rồng). Các ngươi phải kính noi đó! Đừng trái mạng ta!" Dù vậy, Hồng Bảo không tin đây là ý vua cha mà do Trương Đăng Quế[4] bày mưu, nên quyết chí báo thù người gây ra và tìm cách giành lại ngôi báu. Tuy nhiên 2 lần ông hành sự đều thất bại dẫn đến kết quả cả gia đình Hồng Bảo gồm 8 người là Đinh Đạo (Ưng Đạo), Đinh Tự, Đinh Chuyên, Đinh Tương (đều là con Hồng Bảo), Thị Thụy (vợ Hồng Bảo, mẹ Đinh Đạo) và hai đứa con Đinh Đạo (một trai, một gái) đều bị xử giảo (treo cổ).

Bùi Hữu Nghĩa[sửa]

  • Bùi Hữu Nghĩa tên thật là Bùi Quang Nghĩa, hiệu Nghi Chi, sinh tại Bình Thuỷ – Cần Thơ. Thân sinh là Bùi Hữu Vi làm nghề chài lưới. Tuy nhà nghèo nhưng thấy con thông minh và ham học, ông đưa con lên Biên Hòa, gửi nhờ nhà ông Nguyễn Văn Lý để theo học với ông đồ Hoành. Qua những năm đèn sách miệt mài, Bùi Hữu Nghĩa vượt hẳn các bạn đồng học, được thầy khen bạn mến. Năm 1835, nhằm năm Minh Mạng thứ 16, ông đỗ Giải nguyên (tức Thủ khoa) kỳ thi hương ở Gia Định. Ông nổi tiếng từ đấy. Ít lâu sau, ông kết duyên với bà Nguyễn Thị Tồn, con gái của ông Nguyễn Văn Lý ở Biên Hòa, người đã đùm bọc ông suốt thời gian học tập. Ông được bổ làm tri huyện ở Phước Long (Biên Hòa), rồi tri huyện Trà Vang (tức huyện Trà Vinh – tỉnh Vĩnh Long). Khi làm Tri Huyện Trà Vang, ông dưới quyền quản lý của Tổng đốc Trương Văn Uyển và Bố chánh Truyện. Ở nơi mới, Bùi Hữu Nghĩa cũng không được lòng quan trên bởi có lần ông cho đánh đòn em vợ bố chính Truyện bởi thói xấc láo. Cho nên nhân vụ Láng Thé, ông bị họ khép tội chết. Nguyễn Thị Tồn là người ở thôn Mỹ Khánh, tổng Chánh Mỹ Thượng, huyện Phước Chính, phủ Phước Long, tỉnh Biên Hòa (nay thuộc tỉnh Đồng Nai). Bà là con gái đầu lòng của Nguyễn Văn Lý (Hộ trưởng thôn Mỹ Khánh) và là vợ của Bùi Hữu Nghĩa, sau khi nghe tin chồng bị bắt bà đã lặn lội ra kinh đô Huế để đánh trống kêu oan cho chồng, bà được Thái hậu Từ Dụ (mẹ vua Tự Đức), ban cho tấm biển chạm 4 chữ vàng "Tiết phụ khả gia". Tuy cứu được chồng, nhưng khi trở về đến quê nhà ở Biên Hòa, thì bà lâm bệnh mất và được an táng ở nơi đó... Nghe tin vợ mất, nhưng lúc bấy giờ Bùi Hữu Nghĩa đang ở biên trấn xa xôi, nên khi đến Biên Hòa thì việc an táng đã xong, ông làm đôi câu đối, 1 Hán 1 Nôm để tỏ lòng thương tiếc:
我貧卿能助我冤卿能明朝郡皆稱卿是婦 Ngã bần, khanh năng trợ; ngã oan khanh năng minh, triều dã giai xưng khanh thị phụ (Ta nghèo, mình hay giúp đỡ; ta tội, mình biết kêu oan, trong triều ngoài quận đều khen mình mới thật là vợ)
卿病我不藥卿死我不喪江山膺笑我非夫 Khanh bệnh, ngã bất dược; khanh tử ngã bất táng, giang sơn ưng tiếu ngã phi phu (Mình bịnh, ta không thuốc thang; mình chết, ta không chôn cất; non sông cười ta chẳng xứng gọi là chồng)
Nơi kinh quốc mấy hồi trống dóng, biện bạch này oan nọ ức; đấng hiền lương mắt thấy thảy đau lòng
Chốn tỉnh đường một tiếng hét vang, hẳn hoi lẽ chánh lời nghiêm, lũ bằng đảng tai nghe đều mất vía
Sau khi được tha, Bùi hữu Nghĩa phải đổi đi làm thủ ngự Vĩnh Thông ( Châu Đốc ) và được giao phó việc tiễu trừ bọn Thổ phiến loạn. Được ít lâu, ông chán nản việc đời, xin từ quan, trở về quê quán tại Bình Thủy, mở trường dạy học, vui thú điền viên, thường ngày uống rượu ngâm thơ với bạn là Cử nhân Phan Văn Trị. Ngày 21 tháng 1 năm Nhâm Thân (1872 ), ông mất, thọ 66 tuổi.

Nguyễn Hàm Ninh[sửa]

Nguyễn Hàm Ninh tự là Thuần Chi, hiệu Tĩnh Trai, Anh Toàn tử, quê làng Phù Ninh; sau dời sang làng Trung Ái (sau đổi thành Trung Thuần) phủ Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Ông sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo, được người cô nuôi cho ăn học. Năm Kỉ Sửu (1829), ông đỗ Tú tài, đến năm Tân Mão (1831) đỗ Giải nguyên tại Thừa Thiên lúc mới 23 tuổi liền được bổ dạy học tại Quốc tử giám. Năm Qúi Tị (1833) làm tri huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang gặp lúc thân phụ qua đời, ông về cư tang, đến năm Bính Thân 1836 được vời ra giữ chức Quốc học độc thư, ít lâu sau bị kẻ xấu gièm pha ông bỏ việc về quê. Đến năm Tân Sửu (1841), ông lại được vời ra giữ chức Hành tẩu ở Nội các, làm Lang trung bộ Lại, rồi bộ Lễ. Ông nhiều lần bị thăng giáng, đang làm Quốc học độc thư bị gièm pha phải thôi việc; đang làm Chủ sự phủ Tôn nhân bị cách chức; đang làm Án sát Khánh Hòa, bị thuyền buôn bắt chở sang Trung Quốc nên khi về lại bị triều đình cách chức, nhưng một thời gian ngắn bị cắt chức phát vãng sung quân ở Đà Nẵng. Sau đó, ông được phục chức cũ, được cử làm trước tác ở Viện Hàn Lâm, nhưng một lần nữa lại bị cách chức chỉ trong vài ngày được đổi về Huế làm Trai đàn hiệu lực tại chùa Thiên Mụ.

  • Lúc còn là học trò, các bạn của Nguyễn Hàm Ninh ra cho ông vế đối:
Vinh Sơn, Ngưu Sơn, sơn sơn xuất anh hùng hào kiệt
Ông Nguyễn đối lại: Tràng Hải, Ngoại Hải, hải hải đa liệt nữ anh thư
Vế ra nhằm thể hiện niềm tự hào về quê hương (vùng dưới chân đèo Ngang) của bạn. Cách ghép chữ “sơn” [山] (núi) + “sơn” [山] = “xuất” [出] (ra). Vế đối lại cũng biểu thị niềm vinh dự được sống trên mảnh đất có nhiều “liệt nữ anh thư”, để sánh cùng “anh hùng hào kiệt” của bạn. Ở đây, cũng dùng cách ghép chữ: khung chữ bên bộ “thủy” [氵] của chữ “hải” [海] (biển), được xem là “đa” [多] (nhiều).
  • Ngày ấy, có một chàng trai làng Trung Ái cưới một cô vợ người làng Phan Long. Phan Long là phố huyện cũng lắm bậc hay chữ kỳ tài. Người Phan Long biết hôm ấy trong đám đón dâu của làng Trung Ái có ông Tiến Sĩ Nguyễn Hàm Ninh, nên họ tổ chức bày một hương án chặn ngang đường vào làng, đoạn đầu cầu Kênh Kịa. Trên hương án họ đặt một vế đối kèm theo điều kiện nếu họ nhà trai đối được thì sẽ cho qua, bằng không thì...quay về.
vế ra là: Chân giậm tay mò bơn hói Kịa (Bơn là loại cá thờn bơn mình dẹp, dẹt hình như cái lá đa, có nhiều ở con ngòi nước mặn chảy dưới cầu Kênh Kịa. Từ cái ý thực ấy, vế đối muốn ám chỉ việc người con trai về đất này tìm vợ)
Đoàn người đi đón dâu còn ngơ ngác, lúng túng chưa biết xử trí thế nào thì Nguyễn Hàm Ninh đã vượt lên ứng khẩu: Má kế miệng ngậm bống Khe Giang
Vế đối thực hợp cả ý thực lẫn ý lỡm. Khe Giang là con suối lớn chảy ngang cuối làng Trung Ái, nơi có nhiều cá bống nước ngọt. Còn ý lỡm đối lại cũng rất đạt, nói bóng nói gió việc người con gái về lấy chồng ở đất Khe Giang...!
  • Có người phụ nữ chồng là người Tàu sang Việt Nam buôn bán bị bệnh mà chết phải đưa linh cửu về Trung Quốc trong khi bà có thai, Nguyễn Hàm Ninh có viết đôi câu đối viếng, một câu chữ Nho 1 câu chữ Nôm như sau:
結髮訂吾緣誰謂今朝鴻北去 Kết phát đính ngô duyên, thùy vị kim triêu hồng bắc khứ (Kết tóc hẹn duyên ta, một phút ai xui hồng về bắc)
茫心憑客地吁嗟何日雁南歸 Mang tâm bằng khách địa, hu ta hà nhật nhạn nam quy! (Ôm lòng nương đất khách, bao giờ còn thấy nhạn sang nam?)
Câu này tác giả dùng ngô, khách, mang để nói việc bà lấy chồng Tàu, có mang.
Trước cũng tưởng Tấn Tần một nhà, vậy phận bạc phải nhờ đất khách
Nào có biết Bắc Nam đôi ngả, đem gánh vàng đi đổ sông Ngô
  • Câu đối của vua Thiệu Trị tặng Nguyễn Hàm Ninh khi ông làm Hành tẩu bộ Lễ:
野外秀才齊天大聖 Dã ngoại tú tài, Tề thiên đại thánh (Tú tài ở làng to như Tề thiên đại thánh)
部中行走陸地神仙 Bộ trung hành tẩu, lục địa thần tiên (Hành tẩu trong bộ khoẻ như lục địa thần tiên)

Tự Đức và Cao Bá Quát[sửa]

Cao Bá Quát[sửa]

  • Cao Bá Quát là một danh sĩ sống vào thời vua Tự Đức, tự Chu Thần, hiệu Cúc Đường, biệt hiệu Mẫn Hiên. Người làng Phú Thị, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh, nay là xã Quyết Chiến, huyện Gia Lâm ngoại thành Hà Nội. Ông là anh em sinh đôi với Cao Bá Đạt, thân phụ của họ là cụ Cao Huy Giảng. Mặc dù là anh em sinh đôi, nhưng giữa họ có nhiều điều khác biệt nhau về tư duy và cảm nhận thơ văn. Lúc còn nhỏ, Cao Bá Quát ra tắm ở Hồ Tây. Đúng vào lúc vua Minh Mệnh đi kinh lý ở ngoài bắc để nhận sắc phong của Hoàng Đế nhà Thanh, nhà vua cũng đến Hồ Tây xem phong cảnh. Đạo ngự đi qua, tàn lọng rợp trời, gươm đao sáng quắc, ai cũng phải tránh xa, riêng cậu Quát cứ tự do vùng vẫy. Lính đến bắt lôi lên bờ, cậu cứ trần truồng đến trước mặt vua, tự khai là học trò, vì trời nực ra tắm mát. Vua nhìn xuống hồ thấy có con cá lớn đang đuổi đàn cá con, liền đọc một câu đối, bảo nếu đúng Quát là học trò thì phải đối được, sẽ tha không đánh đòn.
nhà vua đọc: Nước trong leo lẻo, cá đớp cá
Cậu Quát ứng khẩu đối ngay: Trời nắng chang chang, người trói ngườị
nhà vua tuy bực vì Quát cũng coi mình như người thường nhưng vì câu đối quá chuẩn nên không thể bắt bẻ đành thả cậu Quát cho đi.
  • Bữa nọ, Cao Bá Quát đến nghe bình văn ở một trường Đốc. Nghe đọc những câu văn tầm thường, ông cứ lắc đầu và còn bịt mũi tỏ ra khó chịu, quân lính thấy vậy bắt vào nộp quan đốc học. Quát xưng là học trò, hỏi học với ai, ông trả lời: "Tôi học với ông Trình ông Chu" (Trình, Chu là hai vị học giả vào hàng tôn sư trong đạo Nho. Trả lời như vậy là tỏ ra mình học với các bậc thánh hiền, học từ gốc chứ không thèm học ngọn!) Quan đốc giận, ra câu đối bắt đối ngay: Nghĩ tiểu sinh hà xứ đắc lai, cảm thuyết Trình Chu sự nghiệp (Chú bé này ở đâu đến đây, dám nói đến sự nghiệp ông Trình, ông Chu to lớn?)
Cậu Quát đối lại: Ngã quân tử kiến cơ nhi tác, dục vi Nghiêu Thuấn quân dân (Người quân tử gặp thời làm việc, muốn quân dân đều được như đời Thuấn, đời Nghiêu)
Quan đốc phục tài, nhất là cảm thấy chí hướng lớn lao của người trẻ tuổi, ông đã không giận mà còn thưởng cho Cao Bá Quát.
  • Câu đối vịnh điều cày:
Ra tay cầm cán sôi trong nước
Ngậm khói phun mây sạch bụi trần
  • Có một lần Cao Bá Quát đi thăm bạn ở xa. Bạn đi vắng, ông phải trở về, bụng đói mà tiền thì đã hết nhẵn. Ðang đi lang thang thất thểu, chợt nghe gần đấy có kèn trống đám ma. Quát theo chừng lần tới nơi. Hỏi ra biết là đám tang một ông cụ già nhà khá giả. Quát liền bước vào nhà thấy quan viên ngồi chật ních trong rạp; ở chính giữa rạp thấy có dăm bảy ông râu dài, ngồi chễm chệ trên ghế cạp điều, đang ngất ngưởng nói chuyện chữ nghĩa; lại thấy hiếu chủ chắp tay bẩm báo chầu chực, nên Quát đoán là văn thân hào mục, hay cử tú gì đó. Quát liền tới gần hiếu chủ nói: "Tôi là khách qua đường, nghe nói cụ nhà phúc đức lắm, nay chẳng may cụ hai năm mươi về chầu Phật, bụng tôi lấy làm cảm động vô cùng. Nên xin được vào phúng cụ vài câu rồi đi". Mấy vị ngồi chiếu cạp điều nghe Quát nói thế thì muốn lên mặt đàn anh, vừa rung đùi vuốt râu vừa hất hàm hỏi: "Thế nhà thầy ở đâu qua đây? Làm nghề gì?" Quát thưa: "Bẩm các quan, tôi ở làng bên đi dạy học về qua đây!" Các ông lại tranh nhau hỏi: "Dạy học à? Thế đã thi cử khoa nào chưa?" Quát đáp: "Bẩm cũng có theo đòi vài ba khoa, nhưng đều hỏng cả, về nhà văn dốt vũ dát nên đành phải đi gõ đầu trẻ!" Các quan viên lại hỏi luôn: "Thế nhà thầy định phúng câu đối Nôm hay chữ đấy?" Quát trả lời: "Bẩm có mấy chữ đã dạy trẻ hết mất rồi, giờ xin làm Nôm thôi ạ!" Các ông đàn anh được thể lại lên giọng: "Ừ, thế thì cứ làm đi rồi các cụ sẽ phủ chính cho!" Quát bèn hắng dặng rồi ngâm nga rằng:
Thấy xe thiên cổ xịch đưa ra, không thân thiết nhẽ đâu mà khóc mướn?
Tưởng sự bách niên đùng nghĩ đến, động can tràng nên nỗi phải thương vay!
Các quan viên nghe xong đều thè lưỡi thán phục, kéo ngay Quát lên chiếu cạp điều mời cùng đánh chén. Ðến sau rượu đã ngà, mấy ông cứ gạn hỏi mãi, Quát đành phải xưng tên thật. Thế là ông nào ông nấy giật mình thon thót, đứng vội dậy chắp tay xin lỗi Quát rối rít. Có thuyết khác lại nói đôi câu đối này do Lê Quý Đôn viết
  • Tương truyền khi chưa quen nhau, ông Quát nghe tiếng ông Nguyễn Văn Siêu dạy học, tìm đến thăm dò. Ông Siêu còn nghèo lắm, chỉ ngồi trên ghế chõng tre cũ kỹ, học trò trải chiếu ngồi quanh nền nhà. Cao Bá Quát xin vào học, ông Siêu ra câu đối, bảo có đối được mới nhận:
Tiên sinh tọa tịch thượng, cót chi két, két chi cót, cót cót két két
Cao Bá Quát đối ngay: Tiểu tử nhập đình trung, thẩn chi thơ, thơ chi thẩn, thẩn thẩn thơ thơ
Nguyễn Văn Siêu rất phục, dắt tay mời vào. Từ đó hai người kết bạn vong niên, dân gian vẫn gọi là "Thần Siêu Thánh Quát" rất đúng với đôi câu đối của vua Tự Đức "văn như Siêu Quát vô Tiền Hán"
  • Ở sau điện Cần Chánh mới đắp một quả núi non bộ trong bể cạn, vua Tự Đức sai Nguyễn Văn Siêu đề câu đối. Siêu nghĩ mà chưa biết đề như thế nào cho hay, nhân gặp Cao Bá Quát đến chơi, mới ngõ ý ấy. Cao Bá Quát lấy bút chép ngay:
Sơn nhược hữu thần hô Hán tuế (Núi nếu có thần thì hô chúc tuổi vua Hán. Theo tích: Hán Vũ Đế đi chơi núi Tung Sơn, thị thần đứng dàn hàng hai bên, lúc xe vua đi qua đều hô vạn tuế , tiếng hô âm vào núi, vang ra ba lần. Người ta nói đấy là sơn thần hô vạn tuế chúc vua)
Hải như sinh thánh thiếp Chu Ba (Biển như sinh thánh nhân thì im lặng sóng gió nhà Chu. Theo tích: Chu Công Đán hỏi: Nước Việt Thường cách đây vạn dặm, vì cớ gì sang cống?". Sứ giả nói: " Hạ quốc thấy gần đây mưa thuận gió hoà, ba năm nay biển không gợn sóng". Biết rằng Trung Quốc có thánh nhân cho nên sang cống")
  • Trong một dịp đón xuân ở Hà Thành, Cao Bá Quát được rất nhiều người đến xin câu đối về dán, có một anh chàng làm nghề đóng áo quan, và một chị nọ đang bụng mang dạ chửa cùng đến. Thánh Quát bèn viết cho anh thợ đóng áo quan một đôi câu đối như sau:
天増歲月人増壽 Thiên tăng tuế nguyệt nhân tăng Thọ (Trời thêm năm tháng người thêm Thọ)
春滿乾坤福滿堂 Xuân mãn càn khôn phúc mãn Đường (Xuân khắp non sông Phúc chật nhà)
Câu đối trên có thuyết khác nói rằng của Nguyễn Công Trứ

Còn chị có bầu được Thánh Quát tặng câu sau:

春滿乾坤福滿 Xuân mãn càn khôn, phúc mãn (Xuân đầy trời đất, phúc đẫy)
天増歲月人増 Thiên tăng tuế nguyệt, nhân tăng (Trời thêm năm tháng, người thêm)
Sự tài tình mà cũng là cái sự hóm hỉnh của Cao Bá Quát ở chỗ lợi dụng được hai chữ thọ đường. Chữ Thọ đứng riêng là sống lâu, chữ Đường đứng riêng là cái nhà; nhưng thọ đường ghép liền thì lại có nghĩa là cỗ áo quan/cỗ quan tài. Câu đối vừa mừng Xuân vừa chỉ đích danh vào cái nghề đặc biệt của anh thợ mộc thì quả là sâu sắc và hay tuyệt. Còn với chị đàn bà bụng chửa, Thánh Quát vẫn sử dụng đôi câu đối ấy, song bớt đi mỗi vế một chữ cuối, vế trên nói đến ý "phúc đẫy" rõ ràng là nói về cái bụng chửa; bởi chữ phúc là hạnh phúc cũng đồng âm với chữ phúc là cái bụng, mà "phúc mãn" có nghĩa là cái bụng đẫy/bụng to, tức là bụng có chửa. Còn vế dưới nói đến ý "người thêm", rõ ràng là chỉ vào việc người phụ nữ sắp đẻ, sắp thêm người thêm của như lời chúc của dân gian. Bụng to rồi đẻ thêm người, như thế là "mẹ tròn con vuông". Phỏng có lời chúc nào đúng và hay hơn ý tứ của đôi câu đối đó...! Có thuyết khác lại kể rằng câu đối này được viết cho 1 góa phụ vào tết năm 1903 (Quý Mão), bấy giờ có một Ông Đồ quê mang Nghiên Bút ra ngồi Chợ Hưng Yên bán chữ. Goá phụ thuộc hàng giàu có nhưng không rành chữ Nho mang câu đối vui mừng đem về dán trước cửa Nhà, có một tên Ba xạo đi ngang chơi ác cắt nghĩa rằng :"Trời tăng năm tháng Người thêm, Xuân khắp Non Sông bụng phổng!" ý nói là Cô bị chữa hoang đó! (thay vì chữ Phúc là phúc lộc, Hắn lại xuyên tạc thành chữ Phúc là cái bụng-mang bầu). Goá phụ nổi tam bành vác đơn đi kiện Thầy Đồ liền ngay ngày 28 Tết, Quan Án Sát Hưng Yên lúc ấy là Ông Nghè Chu Mạnh Trinh rất mực công bình nên đã quở trách Goá Phụ về tội nghe xằng bậy và buột bồi thường danh dự cho Thầy Đồ một Quan tiền kẻm!
  • Cao Bá Quát có dịp vào Quảng Nam, đến thăm nhà một cụ đồ (sau này là thân sinh ông Nguyễn Hiển Dĩnh). Nhiều người nghe tiếng ông giỏi thơ văn đã đến xin chữ. Một người làm đôi đèn lồng để thờ mẹ, xin ông cho một đôi câu đối Nôm. Ông Quát viết luôn vào đôi đèn lồng hai câu:
Trước mẹ dạy con, gió chiều nào che chiều ấy, con dạ
Giờ con thờ mẹ, đèn nhà ai rạng nhà nấy, mẹ ơi!
Trong Nam truyền tụng là câu đối rất hay, dùng toàn tục ngữ mà sát với đôi đèn.
  • Ông Chiêu Phu (không rõ tiểu sử) viết cho một bà goá lấy chồng người Trung Quốc:
Bí phát kết ngô duyên di hi kim chiêu hồng bắc khứ (Kết tóc đuôi sam, (theo kiểu người Trung Quốc) lấy chồng nước khác, con chim hồng đã bay về phương bắc)
Bình đầu lưu khách địa ta tai hà nhật nhạn nam quy (Quay đầu về đất khách, thương ôi đến ngày nào con chim nhạn về nam)
Bà goá này đi giữa đường gặp một người chê “Dở lắm, đem trả lại, lấy tiền về đây”. Ông Chiêu Phu biết người chê mình là Cao Bá Quát liền mời họ Cao đến chơi và hỏi câu đối nọ của mình dở thế nào. Cao Bá Quát thủng thỉnh đáp: “Dở ở chỗ ý hai vế giống nhau”. Ông Chiêu Phu mời Cao Bá Quát làm lại câu đối ấy. Sau khi nghĩ ngợi một lát, Cao Bá Quát đọc:
Xoắn đuôi chuột, trở về với mẹ
Khép mu sò, dừng lại nuôi con
Câu đối rất hợp với tình cảnh người đàn bà goá nọ nhưng cái chất bỡn cợt, tinh nghịch rất Cao Bá Quát vẫn hiện lên rất rõ rệt…
  • Câu đối viết tặng Đền Gióng:
破賊但嫌三歲晚 Phá tặc đãn hiềm tam tuế vãn (Ba tuổi phá giặc vẫn còn ngại là muộn)
騰雲由很九天低 Đằng vân do hận cửu thiên đê (Cưỡi mây còn hận chin tầng trời là thấp)
  • Câu đối Tết viết tặng Phan Nhạ:

Trong thi xã “Mạc vân” có Tiến Sĩ Nguyễn Nhạ là người hay châm chọc Cao Bá Quát và tưởng Quát sợ, y đã gây cho Cao Bá Quát không ít rắc rối. Nhân dịp Tết, Bá Quát viết tặng Nguyễn Nhạ một câu đối:

女逅無牙何速我 Nhữ cấu vô nha hà tốc ngã (Nếu anh không có nanh, chưa dễ hăm he được ta)
吾犹有舌起輸誰 Ngô do hữu thiệt khởi thâu thuỳ (Ta còn cái lưỡi lẽ nào ta chịu thua anh) ::Nội dung chữ đấu trong câu này là: Trong chữ Nhạ 訝 (Nguyễn Nhạ) có chữ nha 牙 (nanh); trong chữ Quát 鴰 (Cao Bá Quát) có chữ thiệt 舌 (lưỡi). Nanh tuy cứng hơn lưỡi nhưng lại mọc sau và rụng trước, còn lưỡi thì mềm nhưng lại có trước và chết sau. Ý là: Ngươi thử hỏng răng xem, liệu có cắn được ta. Ta còn có lưỡi há chịu thua ai. Chữ Nhạ có quai xước ngoài, và chữ Nha là răng ở trong. Chữ Quát cũng có quai xước ngoài, nhưng bên trong lại có chữ thiệt là lưỡi. Phương ngôn: “Lưỡi mềm thì còn, răng cứng thì mất”.
  • Trước khi khởi nghĩa, Cao Bá Quát được triều đình nhà Nguyễn đưa đi làm giáo thụ ở Quốc Oai, vùng đất thuộc Sơn Tây, xa chốn kinh đô, thành thị. Học trò ít, cảnh sinh hoạt tiêu điều. Ông đã viết đôi câu đối dán ngoài nhà học:
Nhà trống năm ba gian, một thầy, một cô, một chó cái
Học trò dăm bảy đứa, nửa người, nửa ngợm, nửa đười ươi
có thuyết khác nói rằng đôi câu đối này là của Ông Ích Khiêm
  • Câu đối bày tỏ ý chí trước khi nổi dậy:
Trượng phu lập thế thủ ý khí (Người trượng phu đứng ở trên đời phải giữ vững chí khí)
Oải ốc đê đầu ngô sở sỉ (Cúi đầu dư­ới mái nhà thấp là điều tôi lấy làm xấu hổ)
  • Câu đối khắc trên lá cờ làm tôn chỉ cho cuộc khởi nghĩa:

Hai năm 1853 – 1854, hai tỉnh Sơn Tây, Bắc Ninh bị hạn hán, châu chấu hoành hành cắn phá lúa, nhân dân đói khổ đặc biệt là vùng Lương Sơn, Chương Mĩ (Hà Tây). Lòng bất mãn với triều đình phong kiến, nên nhân cơ hội này ông đã tổ chức một cuộc khời nghĩa trên đất Mĩ Lương, tôn Lê Duy Cự làm minh chủ, tự xưng làm Quốc sư. Trên lá cờ có ghi hàng chữ sau:

Bình Dương, Đồ Bản vô Nghiêu Thuấn (Ở Bình Dương và Đồ Bản không có những ông vua tốt như vua Nghiêu, vua Thuấn)
Mục Dã, Minh điều hữu Võ Thang (Thì ở Mục Dã, Minh Điều phải có những người như Võ Vương, Thành Thang nổi dậy)
  • Cao Bá Quát khởi nghĩa không thành, bị bắt, bị giam, bị cùm chân, chờ đem ra xử tội. Ngồi trong ngục tối, ông vẫn ngâm nga đôi câu đối:
Một chiếc cùm lim chân có đế
Ba vòng xích sắt bước thì vương
Tiền bạc của giời chung trống trải thế mới vòng khuyên sáo
Công danh đường đất rộng kèn cựa chi cho thẹn chí tang bồng
  • Trước khi thọ hình, Cao Bá Quát còn bình tĩnh ứng khẩu:
Ba hồi trống giục mồ cha kiếp
Một nhát gươm đưa đéo mẹ thời (thời chính là tên của vua Tự Đức)
Thực ra trong chính sử Cao Bá Quát bị Đội Xuất Đinh Thế Quang bắn chết ngoài sa trường tại vùng Yên Sơn chứ không hề bị bắt, mấy câu đối trên do hậu thế bịa ra ghi lại mà thôi
  • Chỉ vì tội tày trời của Cao Bá Quát, mà đại họa xảy đến cho cả gia đình, bị tru di cả ba đời (tru di tam đại). Cao Bá Ðạt (1809 - 1854) khi hay được tin trên, đã ngất xỉu một hồi lâu, khi tỉnh dậy, liền khóc rống lên mà đọc câu đối như kêu trời, kêu đất rằng:
Khấp cùng vũ trụ thiên vô bác (Khóc cùng vũ trụ trời không tựa)
Nộ đảo sơn hà địa dục đông (Giận đổ sơn hà đất muốn xoay)

Tự Đức[sửa]

chân dung vua Tự Đức

Tự Đức là niên hiệu của vị Hoàng đế thứ tư của nhà Nguyễn, ông tên thật là Nguyễn Phúc Hồng Nhậm. Ông là vị vua có thời gian trị vì lâu dài nhất của nhà Nguyễn, trị vì từ năm 1847 đến 1883. Triều đại của ông đánh dấu nhiều biến đổi với vận mệnh Đại Nam. Nguyễn Phúc Hồng Nhậm là con thứ của vua Thiệu Trị và bà Phạm Thị Hằng. Khi còn nhỏ Hồng Nhậm còn có tên khác là Nguyễn Phúc Thì. Vì anh trai của ông là Nguyễn Phúc Hồng Bảo, một người ham chơi, mê cờ bạc, không chịu học hành, vì vậy, Thiệu Trị trước lúc qua đời, đã để di chiếu truyền ngôi cho ông. Bấy giờ ông mới 19 tuổi, nhưng học hành đã thông thái. Đến tháng 10 năm 1847, ông chính thức lên ngôi hoàng đế ở điện Thái Hòa, đặt niên-hiệu là Tự Đức, bắt đầu từ năm sau là 1848. Khi Tự Đức lên cầm quyền, triều đình vẫn cai trị tuân theo phong cách Nho giáo. Tự Đức được đánh giá là một vị vua tốt. Ông chăm chỉ xem xét việc triều chính và không hề trễ nãi, được các quan nể phục. Theo Việt Nam sử lược, ông thường hay chít cái khăn vàng mà nhỏ, và mặc áo vàng, khi có tuổi thì ông hay mặc quần vàng và đi giày hàng vàng do nội vụ đóng. Năm 1858, liên quân Pháp-Tây Ban Nha nổ súng tấn công Đà Nẵng. Trước tình hình người Pháp xâm lấn trong triều đình đặt ra vấn đề cải cách, liên tiếp các năm từ 1864 đến 1881 các quan là Phan Thanh Giản, Phạm Phú Thứ, Nguyễn Trường Tộ, Đinh Văn Điền, Nguyễn Hiệp, Lê Định liên tiếp dâng sớ xin nhà vua cho cải cách toàn diện đất nước nhưng mà vua không quyết dưới sự bàn ra của các đình thần. Mãi đến năm 1878, triều đình mới bắt đầu cử người thực hiện các bước đầu tiên trong quá trình cải cách là cho học tiếng nước ngoài, nhưng đình thần vẫn bất đồng và nảy sinh hai phe chủ trương cải cách và bảo thủ, rồi đến khi nước Đại Nam dần rơi vào tay quân Pháp cũng nảy sinh hai phe chủ chiến và chủ hòa. Ngày 16 tháng 6 năm Quý Mùi (tức ngày 19 tháng 7 năm 1883), sau cái chết của vua Tự Đức, các vị vua ít tuổi lần lượt được đưa lên Dục Đức, Hiệp Hòa rồi Kiến Phúc. Pháp tấn công vào cửa biển Thuận An, một hiệp ước được ký kết Hiệp ước Quý Mùi 1883 với nội dung là xác nhận quyền bảo hộ dài của người Pháp lên Trung Kỳ và Bắc Kỳ chấm dứt mối ràng buộc phên dậu cả ngàn năm giữa An Nam và thiên triều Trung Hoa, mở đầu thời kỳ Đông Dương thuộc Pháp.

  • Câu đối của vua Tự Đức đầy tự hào về văn học Việt Nam thời Nguyễn:
Văn như Siêu, Quát vô Tiền Hán (Văn như Siêu, Quát hơn Tiền Hán)
Thi đáo Tùng, Tuy thất Thịnh Đường (Thơ cỡ Tùng, Tuy vượt Thịnh Đường)
Ở đây nhà vua ca ngợi Cao Bá Quát, Nguyễn văn Siêu (thần Siêu, thánh Quát), Tuy Lý vương và Tùng Thiện vương nói riêng (2 ông Tùng, Tuy là con vua Minh Mạng, vua Tự Đức phải gọi bằng chú)
  • Câu đối vịnh Kiều:
Mộng lý căn duyên, tri nhất ẩm nhất trác giai vi tiền định (Nghiệm căn duyên trong mộng kia, biết rõ ràng miếng uống, miếng ăn, đều do số trời định trước)
Cầm chung phận mệnh, quái đa tình đa sự độc chiếm tiên thanh (Xem mệnh khúc đàn nọ, những quái lạ đa tình, đa sự, riêng chiếm tiếng đầu tiên)
  • Câu đối nói lái:
Kia mấy cây Mía
Có vài cái Vò
  • Câu đối viếng Uy Viễn tướng quân Nguyễn Công Trứ:
Tả hữu nghi văn nghi võ
Tử sinh danh tướng danh thần
  • Bấy giờ, thực dân Pháp càng ngày càng tham, hết đòi quyền lợi này, đến muốn chiếm đất khác. Triều đình nhu nhược, thiếu người tài, vua Tự Đức phải than rằng:
Võ tướng tiêu sầu duy hữu tửu (Quan võ chỉ biết mượn rượu để quên sầu)
Văn thần thoái lổ cánh vô thi (Quan văn làm thơ đuổi giặc, cũng không làm được)

Vua Tự Đức và Thánh Quát[sửa]

  • Cao Bá Quát có người anh song sinh là Cao Bá Đạt, khi vua Tự Đức mới lên ngôi thì Cao Bá Quát vẫn còn làm một chức quan nhỏ (Hành tẩu) ở bộ Lễ. Tự Đức nghe tiếng hai anh em họ Cao đã lâu, một hôm bèn cho triệu Cao vào để xem mặt và hỏi thử tài học, nhà vua ra đùa một vế đối rằng:
一胞雙生難爲兄難爲弟 Nhất bào song sinh, nan vi huynh, nan vi đệ (Nghĩa là: một bọc sinh đôi, khó làm anh, khó làm em).
Ý nhà vua ám chỉ hai ông Đạt và Quát sinh đôi, khó biết ai là anh, ai là em.
Cao Bá Quát liền đối lại một câu rất khéo léo: 千載一遇有是君有是臣 Thiên tải nhất ngộ, hữu thị quân, hữu thị thần (Nghĩa là : Nghìn năm gặp một, có vua ấy, có tôi ấy)
Ý Cao Bá Quát muốn nói có ông vua tài giỏi (như vua Tự Đức) thì mới có người bề tôi tài giỏi (như Cao Bát Quát). Tự Đức rất hài lòng về câu đối này, tuy nhiên nhà vua đã không lường hết được những chỗ thâm thúy của vế đối, vì câu này còn có thể hiểu theo nghĩa khác: "Có ông vua Tự Đức thì cũng có người bề tôi như Cao Bá Quát để đối chọi lại (theo ý "vỏ quít dày, móng tay nhọn") và đó cũng chính là cái ý lắt léo của họ Cao".
  • Một hôm vua Tự Đức nghĩ hai câu đối treo ở điện Cần Chánh như sau:
子能承父業 Tử năng thừa phụ nghiệp (con thừa được nghiệp cha)
臣可報君恩 Thần khả báo quân ân (tôi trả tròn ơn chúa)
Khi đem treo trong điện, các quan trông thấy, đều chịu là hay. Riêng Cao Bá Quát thì tỏ vẻ không phục, mai mỉa nói: "Hảo hề! Hảo hề! Phụ tử quân thần điên đảo!" Nhà vua nghe các quan tâu lại, gọi vào hỏi nguyên do. Cao Bá Quát liền tâu: "Muôn tâu bệ hạ, câu trên chữ tử đứng trên chữ phụ, vậy là con trên cha, câu dưới chữ thần đứng trên chữ quân, vậy là tôi trên vua. Rõ ràng phụ tử quân thần điên đảo". Vua bảo chữa, Cao Bá Quát liền đọc:
父業子能承 Quân ân, thần khả báo (nghiệp cha con thừa hưởng)
君恩臣可報 Phụ nghiệp, tử năng thừa (ơn chúa tôi trả tròn)
Nhà vua tuy tức giận, nhưng suy nghĩ lại cũng phải nhận rằng chữa như vậy, cương thường thuận lẽ mà ý đặt cũng già hơn.
  • Một đêm, vua Tự Đức mất ngủ, ngài nghĩ ra câu đối sau:
Viên trung oanh chuyển Khề Khà ngữ (Trong vườn tiếng oanh thỏ thẻ khề khà)
Dã ngoại đào hoa Lấm Tấm khai (Ngoài đồng hoa đào nở lấm tấm)
Nhà Vua rất hài lòng vì 2 câu thơ chữ Hán này đều có 2 từ nôm thuần Việt mà vẫn rất ý nhị và là đôi câu đối rất chuẩn. Sáng hôm sau trong buổi chầu, Nhà Vua nói với bá quan: “Đêm qua Trẫm nằm mơ làm được 2 câu thơ rất kỳ lạ” và đọc 2 câu thơ trên. Quần thần đều thán phục và ca ngợi tài thơ của nhà vua, Cao Bá Quát vốn ghét bọn nịnh thần nên đã tâu rằng: ” Tâu Bệ Hạ, từ nhỏ Thần đã thuộc cả bài thơ, trong đó có 2 câu này”. Nhà vua hết sức tức giận vì rõ ràng 2 câu thơ này mình vừa nghĩ ra, nhưng vẫn cố kiềm chế, ngài phán: “Khanh phải đọc lại toàn bài thơ đó, nếu không sẽ bị trị tội nặng”. Cao Bá Quát suy nghĩ giây lát như để nhớ lại rồi cao giọng đọc bài thơ sau đây: Bảo mã tây phong Huếch Hoác lai, Huênh Hoang nhân sự thác đề hồi, viên trung oanh chuyển Khề Khà ngữ, dã ngoại đào hoa Lấm Tấm khai, xuân nhật bất văn sương Lộp Bộp, thu thiên chỉ kiến vũ Bài Nhài, Khù Khờ thi tứ đa nhân thức, Khuệnh Khoạng tương lai vấn tú tài (Phạm Văn Dương đã dịch bài thơ của họ Cao ra Tiếng Việt như sau: Huyếch hoác ngựa về với gió Tây, người Huênh Hoang cũng tự về đây, Khề Khà oanh hót trong vườn nhỏ, Lấm Tấm đào khai giữa gió mây, Lộp Bộp sương rơi nghe chẳng rõ, Bài Nhài mưa trút thấy như bày, Khù Khờ thơ ấy bao người biết, còn hỏi tú tài Khuệnh Khuạng thay!) Vua Tự Đức kinh ngạc biết Quát xỏ mình nhưng vẫn phải phục tài xuất khẩu thành thơ, nhà vua sai lấy chè và quế ban cho Quát và bắt Quát phải thú nhận đã bịa thêm 6 câu trong bài thơ trên.
Lam Hồng cũng dịch ra Tiếng Việt với hai bài gieo hai vần khác nhau:

1 - Bài thứ nhất: Ngựa tốt gió tây Huếch Hoác âu, Huênh Hoang nhiễu sự bỡi vì đâu, oanh vàng vườn tịt Khề Khà hót, đào thắm trời mù Lấm Tấm châu, Lộp Bộp xuân văn hời cõi tục, Bài Nhài thu lũ hợt trời ngâu, Khù Khờ nỏ biết bài thơ ấy, Khuệnh Khoạng tú tài hỏi khó nhau

2 - Bài thứ hai: Huếch hoác gió tây ngựa tốt chi, vuốt mèo khen chủ Huênh Hoang đi, Khề Khà oanh vọng ca chênh phách, Lấm Tấm đào tơ nở lệch thì, Lộp Bộp câu văn xuân chắc rụng, Bài Nhài ngữ nghĩa thu mong gì, thơ xưa chưa biết Khù Khờ thế, hỏi tú bài này Khuệnh Khoạng nguy

Nguyễn Tử Mẫn[sửa]

Nguyễn Tử Mẫn là một nhà địa lý học của tỉnh Ninh Bình và Việt Nam. Ông quê ở ở thôn Đống Cao, xã Giá Hộ, tổng Kỳ Vĩ, nay là làng Thư Điền, xã Ninh Nhất, huyện Hoa Lư. Nguyễn Tử Mẫn là một người rất am hiểu về địa lý Ninh Bình. Ông đỗ cử nhân năm 1841, làm tri các huyện Kim Anh (Vĩnh Phúc), Hiệp Hòa (Bắc Ninh) và Gia Viễn (Ninh Bình), gọi tắt là Ông Huyện Hiệp Hoà. Sau đó ông từ quan rồi về quê dạy học và viết sách, có công lớn viết nên cuốn gia phả họ Nguyễn Tử (1852) và góp công khởi nguồn sông Chanh, tiêu úng đoạn từ Vườn chầu đến Cổ Loan. Tác phẩm nổi tiếng của ông phải kể đến là "Ninh Bình toàn tỉnh địa chỉ khảo biên". Bấy giờ, tuổi tuy đã cao mà sức vẫn khỏe, tai mắt đều sáng, cứ lệ thường, mỗi ngày viết 6 tờ giấy chép mỗi tờ 8 dòng, ngày nào bận không viết được, thì hôm sau lại viết bù cho đủ số.

  • Tương truyền Ông Huyện Hiệp Hòa có câu đối nôm tự vịnh về hoàn cảnh thực tế của mình như sau:
Vợ cả vợ hai không vợ cả
Con trai con gái có con trai
Nguyên là ông có hai bà, khi ấy đều mất rồi, mà con trai con gái đều có cháu trai cả. Câu đối này sau được Nguyễn Đỗ Mục và Dương Bá Trạc chuyển thể để đả kích Tổng Đốc Hà Đông Hoàng Trọng Phu trên tờ báo Trung Bắc.
  • Câu đối viết sau sự kiện "4 tháng 3 vua":
Ngoái cách năm hai đạo chiếu đăng quang, bể Bắc trời Nam, táng khảo tỷ, con nào không nước mắt (Cuối năm ngoái sang năm nay, vua Dục Đức, vua Hiệp Hoà, đều có chiếu đăng quang rồi cùng bị giết. Táng khảo tỷ: vua chết cũng như cha mẹ chết)
Giêng sang độ, bốn ông già mở cảnh, ngày xuân chén hạ (chén mừng) cuộc hương thôn, cái ấy phải non tay (Lệ làng sang tháng giêng, có bốn ông lên lão ăn mừng, ông cho là một cuộc hương ẩm ăn uống phải vừa vừa thôi)
Đôi câu đối trên có dụng ý: Bắc Nam đối với Xuân Hạ, con đối với cái, nước mắt đối với non tay
  • Những câu đối dán chơi:
Sáng sáng ăn sáng rồi; cầm quyển mới, kỳ cui ký cúi viết vài chương, đoạn thu gương mắt, xếp khăn tay; dắt bút vào tam sơn, ngả lưng ngáy khò khò cho tối xuống
Ngày ngày ngủ ngày dậy; vớ câu cũ, phếu pháo phều phào ngâm mấy khẩu, đứng dậy ngắm chậu hoa, nhìn cây thế, rê chân bách bộ, vỗ tay cười khanh khách với trăng lên
vế ra: Già ưa người ta chiều, rét chiều hong, nồng chiều quạt, lưng đau ruột xót, chiều canh ngọt cơm ngon, cối răng voi, chày sắt nghiền dồn, chiều được lão, chị hầu non chừng một
vế đối: Thầy dạy học trò đối, tình đối thú, ngủ đối chơi, tóc bạc da mồi, đối mày ngài mắt phượng, trống bụng cóc dùi son đánh xuống, đối thầy già con hát trẻ vừa đôi
vế đối khác: Lớn thích người ta dạ: Lạnh dạ thức, nực dạ ngủ, mày chau miệng chát, dạ trà nát sữa chua, cọc nanh cọp mu vàng xiết chặt, dạ với cụ anh hầu tơ chắc chín (Hoài Anh Võ Quang Thạch) (Dạ ở đây có nghĩa vâng dạ, thưa bẩm và dạ là đêm)
  • Khi Biện Lý La Ngạn Đỗ Huy Uyển lên thọ thất tuần, Ông Huyện Hiệp Hòa có câu đối mừng như sau:
Quan trên chữ nhất đứng hai hàng, Thủ khoa Hoàng Giáp (Con trai cụ Biện lý là Hoàng Giáp Liêu, thi hương đỗ thủ khoa, thi đình đỗ Hoàng Giáp đều là thứ nhất)
Cụ tuổi bẩy tuần ngồi một cặp, đầu phát bạch canh (Cụ ông cụ bà cùng 70 tuổi, đầu đã đổi ra tóc trắng . Nhưng cố ý lấy chữ thủ đối với chữ đầu, hoàng đối với bạch, giáp đối với canh)
Đỗ Huy Uyển (1815 - 1882) húy Mâu, tự Viên Khuê và Tân Giang. Ông sinh tại làng La Ngạn, xã Yên Đồng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. Ông là con trai cả của Cử nhân Đỗ Huy Cảnh và là cha của Hoàng giáp Đỗ Huy Liêu. Năm Canh Tý (1840, dưới triều vua Minh Mạng, Đỗ Huy Uyển thi đỗ Cử nhân tại trường thi Nam Định. Khoa Tân Sửu niên hiệu Thiệu Trị thứ nhất (1841), ông dự thi Hội, đỗ Phó bảng[3], được bổ chức Hàn lâm viện kiểm thảo, kiêm sung Thiệu Trị Văn quy biên tập. Năm Tự Đức thứ nhất (1848), sung ông làm Kinh diên rồi bổ đi giữ chức Tri phủ Bình Giang. Năm Giáp Dần (1854), thăng ông chức Hưng Tuyên Đạo Giám sát ngự sử. Năm Ất Mão (1855), đổi ông làm Đốc học Vĩnh Long. Năm Đinh Tỵ (1857), thăng ông làm Lễ bộ Tân Hưng Lang chung, sung nhân sự kiêm giám phúc kiểm. Năm Kỷ Mùi 1859, nhân việc soạn chiếu dụ được vua Tự Đức khen ngợi ban hàm Thái thường thiếu khanh, Biện lý bộ Hộ sự vụ (nên được người đời gọi là Biện lý La Ngạn). Năm Canh Thân (1860), ông bị đau mắt nên được về nghỉ. Về ở quê, ông làm nghề dạy học. Năm Nhâm Ngọ (1882), Đỗ Huy Uyển mất tại quê nhà, thọ 68 tuổi.
  • Khi nghe tin Ông Huyện Hiệp Hoà tạ thế, Đốc Học Ninh Bình Nguyễn Thượng Hiền có câu đối viếng như sau:
Lâm ngoạ hữu dư thanh, tửu tận nhàn hoa do mãn kính (Ông nằm ẩn ở trong rừng, có khí tiết thanh cao, uống cạn chén rượu, mà vườn vẫn còn đầy hoa cúc)
Ngã lai tư nhất kiến, đơn thành tiên hạc hốt lăng không (Ta đến đây mới gặp cụ một lần, mà bài thuốc tiên đã luyện xong, nay cưỡi hạc bay đi mất)
  • Ngoài ra, Hoàng giáp Liêu cũng có câu đối viếng ông, câu đối làm sẵn từ trước, vì Liêu chết trước ông tới 10 năm:
Độc kỳ văn như tinh như sương, như tuấn mã khinh xa, ư thế hữu danh tư diệc túc (Đọc văn ông sáng như sao, như sương, nhanh như ngựa khỏe, xe nhẹ, ông có danh ở đời như thế là đủ)
Giả nhi hóa vi đàn vi luân, vi thử can trùng tí, tùy thiên sở phú hựu hà vưu (Ví ông mất đi, hoá ra cây đàn, ra cái xe, ra gan con chuột, ra càng con sâu tùy ý trời cho không oán trách gì)
Điển tích "thử can trùng tý" lấy ở sách Trang tử, điển tích "tuấn mã khinh xa" lấy ở cổ văn.

Cuộc đối đáp giữa 2 Thám Hoa Nguyễn Văn Giao (1811 - 1863) và Nguyễn Đức Đạt (1824 - 1887)[sửa]

Nguyễn Văn Giao tên huý là Tao, hiệu Quất Lâm, tự là Đạm Như. Ông là người xã Trung Cần, tổng Nam Kim, huyện Thanh Chương, phủ Anh Sơn (nay là xã Nam Trung, huyện Nam Đàn), tỉnh Nghệ An. Thân phụ là ông Nguyễn Danh Học, là một thầy thuốc và thầy địa lý, từng làm quan trong Trấn Ty, triều Gia Long, sang triều Minh Mạng, nghỉ hưu về nhà dạy con cháu học và đọc sách thánh hiền, được triều định phong hàm Lục phẩm Hàn lâm viện trước tác. Thân mẫu là bà Trần Thị Khoan, người Thịnh Quả, được triều đình tặng hiệu "Quốc nhân vinh" và "Lục phẩm an nhân". Anh ông là Nguyễn Trọng Dực, cũng là một danh sĩ có tiếng. Nguyễn Văn Giao đậu Tú tài khoa Tân Mão 1831. Năm Giáp Ngọ niên hiệu Minh Mạng thứ 15 (1834), đi đỗ Cử nhân (Hương cống), nhưng do cuối quyển có chữ viết phạm trường quy nên xét lại bị đánh hỏng, bị án “Chung thân bất đắc ứng thi” (suốt đời không được đi thi). Mãi đến năm Nhâm Tý 1852, niên hiệu Tự Đức thứ 5, ông mới được ân xá. Ông thi lần thứ 2 và đỗ Giải nguyên ở trường Nghệ. Năm sau ông dự khoa thi Quý Sửu niên hiệu Tự Đức năm thứ 6 (1853), đậu Hội nguyên. Vào thi Đình, ông được chấm đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ, Đệ tam danh (tức Thám hoa) khi đã 42 tuổi. Sau khi thi đỗ, tháng 11 năm đó, ông được bổ thụ Hàn lâm viện Trước tác, nhận chức vụ Hành tẩu ở Nội các. Tháng 8 năm Ất Sửu 1855, được thăng thụ Hàn lâm viện Thừa chỉ. Năm Mậu Ngọ 1858, được thăng nhiệm Hàn lâm viện Thị giảng học sĩ kiêm chức Hành tẩu Nội các. Tháng 6 năm Kỷ Mùi 1859, thăng thực thụ Thị giảng học sĩ, tháng 1 năm Nhâm Tuất 1862, thăng thụ Thị độc học sĩ, vẫn kiêm chức Tham biện Nội các. Ông mất ngày 18 tháng Ba năm Quý Hợi (tức 5 tháng 5 năm 1863), triều đình truy tặng ông hàm Quan lộc Tự khanh, tòng Tam phẩm.

Nguyễn Đức Đạt tự Khoát Như, hiệu Nam Sơn Chủ Nhân, Nam Sơn Dưỡng Tẩu, Khả Am Chủ Nhân. Ông sinh tại làng Hoành Sơn, xã Nam Hoa Thượng, tổng Trung Cần (nay là xã Khánh Sơn, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An). Cha là Nguyễn Đức Diệu đỗ Cử nhân (1824), con trai ông là Nguyễn Đức Hiểu cũng đỗ Cử nhân (1912) và cháu ông đỗ Phó bảng (1916). Ông đỗ Cử nhân khoa Đinh Mùi 1847. Năm Quý Sửu 1853, tức đời Tự Đức thứ 6, ông đỗ Thám hoa, cùng với Nguyễn Văn Giao. Ông được bổ vào viện Tập hiền, sau đó thăng làm Cấp sự trung. Được ít lâu, ông xin cáo quan về phụng dưỡng song thân và mở trường dạy học. Năm 1863, ông lại được triều đình vời ra làm Đốc học tỉnh Nghệ An. Mẹ mất, ông về chịu tang ở nhà dạy học. Khi hết chịu tang, quan địa phương tấu về triều, lại vời ông ra làm Quận học, rồi thăng Án sát Thanh Hóa, Tuần phủ tỉnh Hưng Yên. Năm Tự Đức thứ 26 (1873), quân Pháp tấn công, bốn tỉnh Hà Nội, Hải Dương, Nam Định, Ninh Bình đều bị thất thủ. Nhờ có công giữ được Hưng Yên yêu ổn nên ông được Tự Đức ban thưởng. Ít lâu sau, ông cáo quan, lại trở về mở trường dạy học. Năm 1885, vua Hàm Nghi ra chiếu Cần Vương. Ông cùng em họ là Nguyễn Đức Quý ra mắt Hàm Nghi và được phong làm Lại bộ Thượng thư lĩnh An Tĩnh tổng đốc. Về quê nhà, ông cùng Nguyễn Đức Quý, Nguyễn Quang... dựng cờ nghĩa khởi binh, chiến đấu chưa được bao lâu thì thất thế nên nghĩa quân phải rút lên vùng miền núi Thanh Chương. Do tuổi cao sức yêu không đi được, nên Nguyễn Đức Đạt ở ẩn tại quê nhà và mất vào tháng 2 năm 1887, thọ 63 tuổi.
  • Tương truyền, khoa thi năm Quý Sửu (1853), Tiến sĩ chỉ lấy đậu hai đệ nhất giáp Thám hoa, thì cả hai cùng ở một tổng (Nam Kim, Nam Đàn) là Nguyễn Đức Đạt và Nguyễn Văn Giao. Sau ngày vinh quy bái tổ, Nguyễn Đức Đạt qua thăm nhà Thám giao, thấy nhà chỗ nào cũng có đậu (đậu mới thu hoạch), liền ra vế đối:
Trong nhà đậu, ngoài sân đậu, cha thi đậu, con học đậu, thi vân: đa đậu thử chi vị dã
Nguyễn Văn Giao nhìn ra ngoài sân, thấy hàng dâm bụt đang trổ nhiều hoa, liền đối lại: Trên cây hoa, dưới gốc hoa, bái vinh hoa, tôi Thám hoa, thi viết: trùng hoa bất diệt ghi hồ
  • Câu đối tại bản chi từ đường ở làng Hoành Sơn do học trò của Thám Hoa Nguyễn Đức Đạt phúng điếu ông:
Thọ khảo tác nhân, Nam Sơn thảo đường trạch vạn thế (Suốt đời đào tạo bao người, ơn muôn đời ngôi nhà cỏ núi Nam Sơn)
Văn chương minh quốc, Hồng Lĩnh ngô châu đệ nhất phong (Văn chương nổi tiếng cả nước, một ngọn núi cao châu ta Hồng Lĩnh)

Những câu đối của Ông Nghè Nguyễn Quý Tân (1814 - 1858)[sửa]

  • Câu đối gà cho học trò:

Nguyễn Quý Tân hiệu Đình Trai, người làng Thượng Cốc, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương. Thuở nhỏ, nổi tiếng là người có văn tài, năm 29 tuổi, đậu kỳ thi hương, năm 31 tuổi đậu tiến sĩ. Từ đó tục thường gọi ông là Nghè Tân. Ông có ra làm tri phủ được mấy tháng, nhưng rồi chán với công danh, thế sự, ông xin từ chức, đi ngao du sơn thủy, uống rượu, ngâm thơ. Thơ ông phần nhiều nhằm đả kích vào bọn quan lại áp bức bóc lột dân. Khi chưa đỗ ông Nghè, Nguyễn Quý Tân có mở trường dạy học, học trò đến học khá đông. Một hôm thấy các trò lớn đều đến chậm, ông hỏi chuyên cớ thì được các trò cho biết như sau: Nguyên ở gần trường, ngay giữa lối học trò qua lại, có một cô gái nhà nọ người xinh đẹp mà lại giỏi chữ, hay nôm. Học trò qua lại thường buông lời chòng ghẹo, nhưng cô ta không trả lời. Một hôm có mấy anh chàng táo bạo, vào tận nhà làm thơ ghẹo cô ta. Cô ta tức khí mới ra một vế đối, bảo hễ đối được thì sẽ tiếp chuyện, bằng không thì đừng có qua lại trước cửa nhà cô ta mà dơ mặt. Mấy anh chàng không đối được. Thế là cả đám học trò từ đấy không dám vác mặt qua lối ấy nữa, mà phải đi vòng lối ven làng do đó đến chậm...Thầy đồ Tân thấy câu chuyện lý thú, bèn hỏi: "Câu ra thế nào?" Một học trò đứng dậy: Yêu nhau như bàu, như rót, như hót vào thúng, như búng con quay, như xoay thợ tiện, như bện hàng tơ

Thầy nghe qua nói: "Tưởng gì, câu tục ngữ ấy mà không đối được à? Các anh dốt thế chả trách được!"
Rồi thầy gà luôn cho các trò câu đối lại như sau: Lấy đây có bầu, có bạn, có ván cơm xôi, có nồi cơm nếp, có đệp bánh chưng, có lưng hũ rượu.
Các trò được thầy gà cho, mừng quýnh, tranh nhau học lấy làm lòng. Chiều về, cả bọn lại hiên ngang đi qua lối cũ và vào gặp cô gái để xin đối. Cô gái nghe câu đối rất phục, bằng lòng tiếp chuyện. Nhưng các trò đã bị một phen hú vía, nên đều bảo nhau bớt mồm bớt miệng, không dám giở thơ giở phú ra với cô ta nữa.
  • Câu đối viết hộ 2 chị em góa chồng:

Nghè Tân ở gần nhà một người có hai vợ, hai người vơ lại là hai chị em ruột nên ăn ở rất thuận hoà. Một hôm người chồng bị vu cao là tòng đảng với kẻ cướp nên phải đi tù mấy năm ròng, đến khi được tha không đầy một tháng thi mắc bệnh mà chết. Hai chị em xót thương chông mới sang xin ông Nghè câu đối về thờ, ông viết :

Nghĩ rằng rết khoẻ nhờ chân, chị ngã em nâng đành đã vậy!
Ai ngờ cóc chết hết chuyện, quan tha ma bắt biết làm sao?
  • Giai thoại xướng họa cùng Uy Viễn Tướng Công Nguyễn Công Trứ:

Tương truyền, khi Nguyễn Công Trứ về lĩnh chức Tổng đốc vùng Hải An, thường được gọi là Tổng đốc Đông, thì Nguyễn Quý Tân mới ngoài hai mươi tuổi và vừa mới thi đậu cử nhân. Nghe tiếng quan Tổng đốc là bậc tài hoa, Nguyễn Quý Tân đã muốn gặp, nhất là khi ông nghe kể chuyện rằng trong một buổi đàm đạo về thơ ca, cụ Trứ đã gọi đùa thơ văn tỉnh Đông là “thơ văn phó cối”, cử nhân Quý Tân lại càng muốn tìm cách gặp mặt để “làm cho rõ mặt anh tài”. Thế rồi từ chỗ mến tài nhau, nên tuy hơn tới ba giáp (36 năm) nhưng Nguyễn Công Trứ và Nguyễn Quý Tân đã trở thành bạn vong niên tri âm tri kỷ. Vì cứ rong ruổi rày đây, mai đó nên cuộc sống của Nguyễn Quý Tân thường lâm vào cảnh túng thiếu. Thương bạn, Nguyễn Công Trứ xin cho Nghè Tân được bổ đi làm Giáo thụ ở Bình Giang. Có lẽ vì quá nể quan Tổng đốc nên Nghè Tân miễn cưỡng nhận lời, nhưng vẫn tìm cách “gây sự” bằng cách sai con trai đem một bức thư cùng mũ áo, cờ biển tiến sĩ sang dinh cụ Trứ xin cầm lấy chút tiền làm lộ phí. Nguyễn Công Trứ mở thư xem thì thấy đó là một bài thơ đường luật, mỗi câu thơ có tên một con vật:

vế ra: Có nghề mà lại cậy chi nghề/ Nghề thế ai ngờ lại hóa nghê/ Vạn sự bất như thân cũng hổ/ Nhất văn vô hữu nợ còn bê/ Công danh chỉ tổ đồ khoe mã/ Cờ biển còn hơn của ướt sề/ Bôn tẩu làm chi cho rách gấu/ Thà rằng ngồi đó vuốt râu dê
Tổng đốc Nguyễn Công Trứ đọc xong tuy giận nhưng không nói gì, chỉ sai người lấy tiền, trả lại mũ áo và cờ biển cho cậu con trai của Nghè Tân mang về. Và lẽ tất nhiên là cụ Nguyễn Công Trứ cũng không quên gửi kèm thêm bài thơ họa nguyên vần, mà số từ chỉ thú vật trong đó còn nhiều hơn những...3 con so với trong bài thơ của Nghè Tân!
vế đối: Tám vạn nghìn tư thứ ngỗng nghề/ Thứ nghề áo mũ thứ nghề nghê/ Mày râu ngẫm lại lòng thêm hổ/ Thư kiếm sao đành dạ bỏ bê/ Xanh đỏ rẻ cùi khoe tốt mã/ Phong lưu khỉ gió hót đầy sề/ Xin đừng giở thói văn chương nữa/ Bán chó sao ngoài lại thủ dê?
  • Năm 70 tuổi, Nguyễn Công Trứ làm bài thơ chữ Hán để mời các bạn cùng hoạ nhân dịp “thất thập cổ lai hi”. Rất nhiều người hưởng ứng, trong số đó có những văn tài nổi tiếng như Trương Đăng Quế, Cao Bá Quát… nhưng cụ Thượng Trứ lại thích nhất bài của của ông Nghè Nguyễn Quý Tân. Sở dĩ như vậy là vì trong khi mọi người đều hoạ bằng chữ Hán thì duy nhất một Nghè Tân viết bằng tiếng Nôm Việt - là thứ tiếng của dân tộc, dân gian mà ông yêu quý và suốt đời dùng - trong cuộc sống hàng ngày, trong thơ và trong những cuộc chơi ca hát.
Bài thơ "Thất thập tự thọ" của Nguyễn Công Trứ nội dung như sau: 日對兒曹自解頣,今吾不似故吾時,隨機塊儡供人笑,逐驥年花屆古希,老實不堪粧面目,英華安用染鬚髭,自慚毫末渾無狀,怪殺鴻山有是非 Nhật đối nhi tào tự giải di, kim ngô bất tự cố ngô thì, tùy cơ khối lỗi cung nhân tiếu, trực ký niên hoa giới cổ hy, lão thực bất kham trang diện mục, anh hoa an dụng nhiếm tu tỳ, tự tàm tiên liệt hào vô trạng, quái sát Hồng Sơn hữu thị phi (Hằng ngày ta sẽ cùng chơi đùa với trẻ con, ta hôm nay không còn giống ta ngày xưa nữa, ta theo thời mà làm con rối mua cười cho thiên hạ, thấm thoát nay đã đến tuổi cổ lai hi, cái chân chất không cần trau tria mày mặt nữa, vẻ tốt tươi đem nhuộm cho râu tóc để làm gì, ta tự lấy làm thẹn chẳng có chút công trạng gì, thôi hãy phó mặc cho núi Hồng hạ lời khen chê). Bản dịch ra thơ Đường Luật của Lê Thước: "Ngày cùng lũ trẻ cợt đùa chơi, quả thực ta nay khác trước rồi! Múa rối mấy hồi rằng giúp nước, sống lâu bảy chục cũng ơn trời! Thật thà bao quản khoe mình đẹp, tóc bạc xin đành kém vẻ tươi! Những thẹn bất tài không báo bổ, non Hồng thôi mặc tiếng trên đời!"

1 - Bài họa bằng thơ Nôm của Nghè Tân: Bẩy mươi tuổi tác vẫn nhường ri, mới biết xưa kia buổi thiếu thì, rượu tỉnh thơ say hồn Lí Bạch, trúc cười hoa cợt thú Vương Hi, giang sơn nắm lại đôi tay khẩu, văn võ buông ra một ngón tì, cùng kiếp phù sinh hay dở sạch, dẫu ai tiếng thị với lời phi!

Lấy vần Nôm họa lại vần chữ Hán là một việc rất khó, vì đó thực chất là hai ngôn ngữ, một âm vần nhưng ở hai trường nghĩa khác nhau, nhưng ông bạn trẻ Nghè Tân (lúc đó mới 34 tuổi) tài hoa đã tài tình chọn được những từ, những ý rất đắt, rất hợp tâm hợp ý của người bạn già: không gợi đến cái thời “làm con rối mua cười cho thiên hạ”, màchỉ nhắc lại “buổi thiếu thì” xưa kia với những thú vui của cầm kì, thi tửu; còn bây giờ lại vẫn cuộc chơi “ngoài vòng cương toả”, bất chấp miệng thế gian thị phi hay dở.

2 - Bài của Cao Bá Quát: 群山南望獨支頤,遙想先生未老時,自古英雄遇常異,即今齒德見眞稀,飽嘗世味终須酒,斷禁霜花不上髭,聞道鴻峰欲回首,豈應六十九年非 Quần sơn nam vọng độc chi di, dao tưởng tiên sinh vị lão thì, tự cổ anh hùng ngộ thường dị, tức kim xỉ đức kiến chân hy, bão thường thế vị chung tu tửu, đoạn cấm sương hoa bất thướng tỳ, văn đạo Hồng phong dục hồi thủ, khởi ưng lục thập cửu niên phi! (Một mình ngồi chống tay vào cằm, nhìn về các núi phía nam, xa tưởng đến hồi tiên sinh còn chưa già, sự gặp gỡ của bậc anh hùng từ xưa vẫn khác thường, những người tuổi cao đức cả (như tiên sinh) ngày nay thật hiếm thấy, mùi đời đã nếm đủ rồi rốt cuộc vẫn cần đến rượu, cấm ngặt hoa sương không cho bén vào râu, nghe nói tiên sinh muốn quay về ngọn núi Hồng, vậy lẽ nào cách xử thế năm sáu mươi chín tuổi của tiên sinh là không phải sao?) Trúc Khê dịch ra thơ Đường Luật: "Non nam một dải ngó xa xa, nhớ lại tiên sinh lúc chửa già, từ trước anh hùng nhiều chuyện lạ, đời nay xỉ đức thấy ai chưa? Mùi đời nếm chán cần thêm rượu, râu mép phun nhiều cấm điểm hoa, nghe nói non Hồng sắp trở lại, lẽ nào lầm cả những năm qua?"

Những câu đối của Cách Mạng Khai Sơn Chi Tổ Hoàng Phan Thái (1819 - 1865)[sửa]

  • Hoàng Phan Thái, người làng Cổ Đan (tục gọi làng Bo), huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An; hiệu là Đại Hưu; ông nổi tiếng thông minh và học giỏi từ lúc còn nhỏ; lớn lên thi đậu đầu xứ nên được gọi là Đầu Xứ Thái. Sống dưới thời Tự Đức và nhìn xa thấy rộng về thời cuộc, ông có khuynh hướng canh tân, từng đề xuất việc lập tân đảng để đưa nước nhà tiến bộ trên đường văn minh. Phan Bội Châu gọi Hoàng Phan Thái là “Cách Mạng Khai Sơn Chi Tổ”. Nhà ông gần chùa, sư Hóa trụ trì chùa lại là người thích thơ phú. Một lần, Thái đến chùa chơi, sư thầy ra nhìn thấy một con bò chạy lang thang ngoài đường về hướng phía làng Bo liền tức cảnh ra một vế đối: Bò lang chạy vào làng Bo
Phan Hoàng Thái đối: Hoa sứ bay quanh sư Hóa
Về giai thoại trên, có thuyết khác lại kể như sau: Một chú bé chăn bò trên đê Trà Lý ở Thái Bình, con bò lang dứt dây chạy vào làng Bo (ở Thái Bình cũng có làng Bo) gần đấy. Đúng lúc đó cụ Lang Giá (tên riêng) đi chữa bệnh về thấy thế liền cười và đọc ngay một vế đối: Bò Lang chạy vào Làng Bo!. Đang mải đuổi bò chưa được, quay lại thấy cụ Lang Giá đi giày theo sau, chú bé liền đọc luôn: Lang Giá đi giày da láng!. Cụ Lang Giá ngạc thiên kêu lên: "hay quá", rồi gọi mọi người đón bắt chú bò lang cho cậu bé.
  • Lần khác, sư Hóa lại ra một câu: Dầu vương ra đế (lúc đó sư lỡ tay rót dầu rớt ra đế đèn)
Cậu học trò Thái nhìn quanh, đối lại: Ỉa vãi vào sư
Đọc xong cậu ù té chạy… Câu đối rất xược nhưng về mặt câu chữ quả là không chê vào đâu được.
  • Một lần khác sư Hóa lại ra một vế:
Cái là tượng, tượng là voi, voi chầu cửa cái
Vế đối này khá lắt léo. Nguyên chữ Hán cái là tượng – là dáng vẻ, tượng cũng là con voi, chữ cái cuối cùng là chữ nôm – cái là to. Cậu Thái xin phép ra đứng ở tam quan rồi mới đọc:
Tu là hổ, hổ là cọp, cọp bắt thày tu
Đọc xong lại ù té chạy. Vế đối của cậu Thái cũng lắt léo tài tình không kém..Trong Hán tự, tu nghĩa là xấu hổ, hổ cũng là con cọp…Các cặp cùng nghĩa được nêu trực tiếp (cái là tượng, tượng là voi,...) Các cặp cùng âm như sau: HV-HV: “tượng” (tượng mảng) 2 ”tượng” (voi), “tu” tức “hổ” (xấu hổ) 2 ”tu” (thầy tu); HV-TV: “cái” tức “tượng” (HV, tượng mảng) 2 ”cái” (“cửa cái” –TV, cửa chính), ”hổ” (cọp) 2 “hổ” (xấu hổ). Ở đây, có hiện tượng chuyển nghĩa bằng cùng âm, tạo sự vi phạm quy luật đồng nhất về hình thức (giả vi phạm luật đồng nhất), trong lúc thực chất là hợp logic. Có thể mô hình hoá để lí giải hiện tượng này như sau: “Tu (T) là hổ (H), hổ là cọp (C), cọp bắt thầy tu”: T = H , H = C ® C ¹ T Công thức trên biểu thị việc vi phạm luật đồng nhất (lẽ ra, phải suy thành C = T). Nhưng chỉ giả vi phạm, bởi vì “cọp” là “hổ” (con hổ), không phải là “hổ” (xấu hổ); và “hổ” (xấu hổ) này là “tu” (HV), cùng âm với “tu” (HV -trong “thầy tu”). Vì thực chất C ¹ T, “nên cọp bắt thầy tu” là hợp lẽ.

Những câu đối của Ông Đồ Chiểu (1822 - 1888)[sửa]

Nguyễn Đình Chiểu (tục gọi là Đồ Chiểu) tự Mạch Trạch, hiệu Trọng Phủ, Hối Trai, sinh tại làng Tân Thới, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định, nay là Thành phố Hồ Chí Minh. Ông xuất thân trong gia đình nhà nho. Cha ông là Nguyễn Đình Huy, người xã Bồ Điền, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên; nay thuộc huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên-Huế. Lớn lên, ông cưới vợ ở đây và đã có hai con (một trai và một gái). Mùa hạ, tháng 5 năm Canh Thìn (1820) Tả quân Lê Văn Duyệt được triều đình Huế phái vào làm Tổng trấn Gia Định Thành. Đến đầu mùa thu, Nguyễn Đình Huy đi theo Tả quân, để tiếp tục làm thư lại ở Văn hàn ty thuộc dinh Tổng trấn. Ở Gia Định, ông Huy có thêm người vợ thứ là bà Trương Thị Thiệt, người làng Tân Thới, sinh được 7 con (4 trai, 3 gái), và Nguyễn Đình Chiểu chính là con đầu lòng. Nhưng năm 21 tuổi (1843), ông lại thi và đỗ tú tài ở trường thi Gia Định. Năm 25 tuổi, ông trở ra Huế học tập, chờ khoa thi Kỷ Dậu (1849). Chưa kịp thi thì được tin mẹ mất. Trên đường về chịu tang, vì quá buồn lo khóc thương mẹ, ông lâm bệnh và bị mù cả hai mắt. Về lại Gia Định, sau khi mãn tang mẹ, Nguyễn Đình Chiểu chuyển sang học thuốc, chữa bệnh cho dân, mở trường dạy học, vừa sáng tác thơ văn. Năm 1859, giặc Pháp đánh chiếm Gia Định. Nhà thơ lánh về quê vợ ở Cần Giuộc (Long An). Năm 1861, giặc Pháp đánh chiếm Cần Giuộc, Gò Công, Định Tường, ông phải “tị địa” về Ba Tri, Bến Tre. Tại đây, ông tiếp tục dạy học, bốc thuốc chữa bệnh cho dân và sáng tác thơ văn cho đến cuối đời. Năm 1886, vợ ông là bà Lê Thị Điền mất lúc 51 tuổi. Buồn rầu vì vợ mất, vì cảnh nước mất nhà tan đã bấy lâu, vì bệnh tật ngày càng trầm trọng, hai năm sau, ngày 24 tháng 5 năm Mậu Tý (3 tháng 7 năm 1888), Nguyễn Đình Chiểu cũng từ trần tại Ba Tri, thọ 66 tuổi. Ngày đưa tiễn nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu về cõi vĩnh hằng, cánh đồng An Đức rợp trắng khăn tang của những người mến mộ ông.

  • Câu đối tự thuật:
Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm
Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà
  • Đối đáp với Thầy Tàng:
Ở xã Trường Bình, có một ông thầy thuốc, tính tình ngay thẳng tới mức ngang bướng, nhân dân vẫn gọi là ông Tàng. Ông này bị nặng tai, hay qua chơi với Nguyễn Đình Chiểu. Một hôm đang ngồi chơi thầy Tàng đọc: Trâu khát nước bò xuống uống
Nguyễn Đình Chiểu đối: Trẻ thèm mồi lóc lên ăn
(Câu đối chơi chữ ở hai chữ “bò” và “lóc”, vừa có thể hiểu như danh từ là con bò và con cá lóc, vừa có thể hiểu như danh từ, vừa có thể hiểu như động từ).
Kế đó Nguyễn Đình Chiểu đọc: Thầy Tàng tai không nghe sấm (Nói về con vịt có câu ”Trí lôi thanh ư nhĩ ngoại võng nhiếp thiên uy”; dịch là “Để tiếng sấm ở ngoài tai, chẳng sợ oai trời”. Nguyễn Đình Chiểu vừa có ý trêu chọc thầy Tàng bị nặng tai, vừa có ý nói đến tính ngay thẳng tới mức ngang ngạnh “không sợ trời không sợ đất” của thầy Tàng).
Thầy Tàng đối: Đồ Chiểu mắt chẳng xé mây (Lời Mã Siêu nói khi mới theo hàng Lưu Bị: “Nay giặp được minh chúa khác nào vén đám mây mà mà trông thấy trời xanh”. Thầy Tàng cũng có ý trêu lại Nguyễn Đình Chiểu bị mù lòa, vừa có ý phân bua rằng thời buổi này đâu có ai là minh quân thánh chúa mà tôi phải kính trọng, cũng như ông đó thôi, ông có thấy ai là minh quân thánh chúa không?).
  • Đối đáp với Đoàn Ngọc Thơ (1816 - 1876):

1 - Sau khi triều đình Huế ký hòa ước Nhâm Tuất (1862) nhường ba tỉnh miền đông Nam Kỳ cho Pháp, để tỏ thái độ bất hợp tác với giặc, Nguyễn Đình Chiểu quyết định tỵ địa về Ba Tri, Vĩnh Long (nay thuộc tỉnh Bến Tre). Trước ngày Nguyễn Đình Chiểu đi Ba Tri, Đoàn Ngọc Thơ - là bạn thân nhất học trước ông một khóa - và nhiều người khác đến thăm để từ biệt, Nguyễn Đình Chiểu cảm cảnh kẻ đi người ở liền ra một câu đối: Sinh ly nhi tâm bất ly, quí huynh quí đệ (Sống xa mà lòng không xa, thẹn anh, thẹn em)

Đoàn Ngọc Thơ cảm động đối lại: Tử biệt kỳ văn hà biệt, vi quốc, vi dân (Chết cách văn anh nào cách, vì nước, vì dân)

2 - Mười ba năm sau, nhân có ghe buôn xuống Ba Tri, Đoàn Ngọc Thơ có gửi một bài thơ hỏi thăm Nguyễn Đình Chiểu:

Vắng người tri kỷ tự ngày đi, nhớ mãi thương hoài bực trí tri, sức khỏe như xưa còn phấn đấu? bàn cờ thế sự sẽ chờ khi…
Đoàn Ngọc Thơ hẳn cũng mong mỏi bàn cờ thế sự sẽ chuyển biến tốt đẹp hơn. Nhưng thế nước đang lúc lâm nguy, Nguyễn Đình Chiểu trả lời Đoàn Ngọc Thơ bằng một bài thơ họa nói lên tấm lòng yêu nước và trăn trở của mình:
Cắt đất đau lòng hận phải đi, nghĩa tình Cần Giuộc mến Ba Tri, tâm can vẫn nóng thân già yếu, tái ngộ như hà… biết mấy khi

Những câu đối liên quan đến Tổng Đốc Nguyễn Tư Giản (1823 - 1890)[sửa]

Nguyễn Tư Giản vốn tên là Văn Phú, tự Tuân Húc, sau vua Tự Đức thấy tên đó tầm thường quá, đổi lại là Tư Giản. Người huyện Đông Ngạn, nay là phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Ông đỗ tiến sĩ năm 22 tuổi (1844 Thiệu Trị 4); làm quan từ đời Thiệu Trị đến Đồng Khánh thì lên tới chức tổng đốc. Năm 1857 ông đệ bản điều trần về việc trị thủy tiếp đó được cử sung Biện lý Đô chính sự vụ ở Bắc kỳ. Năm 1868 được sung phó sứ phái bộ sang Trung Hoa giao thiệp, có ý muốn nhờ nhà Thanh giúp quân chống Pháp. Sau khi Nam kỳ thành thuộc địa, Nguyễn tư Giản xin sang nước Đức cầu viện song triều đình không cho. Đến năm Ất Dậu (1885) các vị Văn thân đều bị ngờ vực phải trốn tránh. Nên Nguyễn tư Giản phải chạy về Kim Sơn lánh nạn, ở với linh mục Trần Lục. Linh mục trọng ông là bực hay chữ, nên mời về Phát Diệm mở trường dạy học.

  • Nguyễn Tư Giản có làm 2 đôi câu đối ở Sinh từ, đền thờ sống Kinh lược Nguyễn Hữu Độ như sau:
Tứ hải phong trần chi hậu, doãn tạ hiền lao (Đương lúc bốn bề gió bụi, nhờ cái công khó nhọc của ông mới định được đại cục)
Cửu chân sơn thủy chi linh, đĩnh sinh anh kiệt (Khí thiêng sông núi ở quận Cửu chân ( Thanh Hoá ) sinh ra người anh kiệt)
Tri ngã, tội ngã, thân cư lao oán tri trung (Kẻ biết lòng ta, kẻ đổ tội cho ta, mình ở vào giữa chỗ lao oán)
Dĩ nhân, trị nhân, công tại thị phi chi ngoại (Lấy đạo người mà trị người, công mình ở ngoài chỗ phải trái)
Đôi câu đối dưới: "Tri ngã tội ngã" là lời Khổng Tử, sau Mạnh Tử dẫn lại, nói ngài làm sách Xuân Thu, người đời sau kẻ biết lòng ngài, và kẻ buộc tội ngài, đều vì sách Xuân Thu cả. Chữ "Dĩ nhân trị nhân", ở sách Trung Dung, lời Tư Tử.
  • Cách ít lâu Kinh lược Nguyễn Hữu Độ tạ thế, quan cữu đưa về Huế; đi đường thủy theo sông Đáy qua Kim Sơn rồi ra biển. Bấy giờ Trần Lục là Khâm sai tuyên phủ sứ, sức dân huyện Kim Sơn, làm trạm để đón tế một tuần. Các quan tỉnh Ninh Bình có xin Nguyễn tư Giản làm cho câu đối, ông viết như sau:
Thiên hà vi đoạt chi. Hà sóc tinh kỳ vân biến sắc (Trời sao vội cướp ông, cờ tinh kỳ đất Hà sóc mây đã đổi sắc). Câu này lấy tích Lý quang Bật đời Đường đi đánh giặc về, cờ tinh kỳ rực rỡ. Ý nói nay cờ đã đổi sắc là vị chủ tướng chết.
Công tự thử viễn hỹ, Giang đình phong vũ trúc thành lâm (Ông từ đây đi xa hẳn, mưa gió chốn Giang đình trúc mọc thành rừng). Câu này lấy điển Khâu Chuẩn đời Tống. Khi mất, đưa quan cữu đi, quan dân nhớ ơn làm trạm tế. Những cây tre cắm làm rạp tế, sau mọc thành rừng.
  • Sau Nguyễn Tư Giản mất ở Kim Sơn, Tam Nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến có viếng câu đối như sau:
Nhất bi tuyệt bút sinh từ hạ (Một bài văn bia ở sinh từ (Nguyễn hữu Độ) là tuyệt bút)
Thiên cổ du hồn Cự lĩnh gian (Thiên cổ du hồn còn phảng phất ở đường Cự lĩnh (Kim Sơn)
Câu trên nói Nguyễn tư Giản làm văn bia ở Sinh từ, quá tâng bốc Nguyễn hữu Độ. Tuyệt bút: là lấy tích: Xuân Thu tuyệt bút ư hoạch lân (Khổng Tử làm sách Xuân Thu đến chữ hoạch lân là hết, rồi ngài mất). Đường Cự Lĩnh thuộc Kim Sơn là chỗ Trần Lục ở. Yên Đổ lấy hai việc ra chỉ trích: khen gian thần Nguyễn Hữu Độ, và ở nhờ linh mục Trần Lục.

Những câu đối của Tiễu Phong Lệ Ông Ích Khiêm (1829 - 1884)[sửa]

Ông Ích Khiêm sinh tại làng Phong Lệ, tổng Thanh Quýt, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam (nay là Khu vực Phong Lệ Bắc, Phường Hòa Thọ Đông, Quận Cẩm Lệ, Thành phố Đà Nẵng). Tổ tiên Ông Ích Khiêm vốn là người dân tộc miền núi xuống định cư làm ruộng ở miền xuôi. Cha ông là Ông Văn Điều và mẹ là Võ Thị Cốt. Sinh ra trong một gia đình nông dân đông con, gồm 8 trai 5 gái, ông Khiêm là người con thứ tư sau ba chị gái, nhưng lại là người con trai đầu. Mười sáu tuổi, ông thi đậu cử nhân năm Thiệu Trị thứ 7 (Đinh Mùi, 1847) trong khoa thi hương ở Bình Định, nhờ sự sáng suốt của quan chủ khảo Vũ Duy Thanh (1807-1859). Đỗ cử nhân, ông được bổ làm Tri huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương. Khi thực dân Pháp nổ súng tấn công Đà Nẵng vào ngày 01 tháng 9 năm 1858, ông được gọi ra cầm quân dưới tướng Nguyễn Tri Phương bảo vệ thành Đà Nẵng và lo củng cố các đồn trại như đồn Nhất ở đèo Hải Vân, đồn Liên Trì, Phong Lệ và đắp lũy từ Hải Châu đến Phước Ninh...Từ năm 1861 đến năm 1865, Ông lo đàn áp cuộc nổi dậy của Lê Duy Phụng ở vùng Hải Ninh. Năm 1878, Ông Ích Khiêm lại diệt được Lý Dương Tài (người Hoa) ở hồ Ba Bể thuộc Bắc Kạn. Do nhiều công lao, vua Tự Đức phong cho Ông Ích Khiêm tước Kiên Trung Nam. Tháng 7 năm 1883, ông được giao trấn giữ cửa biển Thuận An để bảo vệ kinh thành Huế. Trước thế lực mạnh của quân Pháp, ông không thể làm tròn trách nhiệm nên bị cách chức đi tiền quân hiệu lực. Sau nhờ lập được công nên vua cho nhận lại phẩm hàm cũ. Thời gian làm quan ở kinh, ông tỏ ý không phục hai quan phụ chính là Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường nên bị họ trù dập và hãm hại. Ông bị đày vào nhà lao Bình Thuận, làm một người tù khổ sai. Uất ức, ông nhịn đói mà chết (có tài liệu nói ông bị đầu độc chết)

  • Một hôm, Ông Ích Khiêm ngồi trong quán, quan huyện sở tại đi ngang: có lính che lộng (2 lộng trước, 2 lộng sau, quan ngồi trên võng do lính khiêng). Ai nấy đều ra đường quỳ mọp để cung kính quan huyện, trừ Ông Ích Khiêm. Ông lấy một chiếc giày của ai bỏ đó, cố ý xỏ hai chân vào. Quan huyện cho lính gọi ra, hỏi làm nghề chi. Khiêm bảo mình là học trò. Quan huyện bèn ra vế đối: Cắc cớ thay, hai cẳng xỏ một giày
Ông Ích Khiêm đối lại: Sung sướng mấy, một đầu che bốn lộng
  • Sau khi vua Tự Đức băng hà, nước ta rất "loạn". Trong bốn tháng, thay ba vua (Dục Đức, Hiệp Hoà, Kiến Phúc), quyền hành trong triều đều do Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường nắm giữ. Lại thêm quân Pháp chia luôn "Empire d'Anam". Bờ Bắc của sông Hương, thuộc triều đình Huế, bờ Nam do Pháp chiếm. Ông Ích Khiêm có viết câu đối để phản ánh thế cuộc đó sau:
一江兩國難分說 Nhất giang, lưỡng quốc nan phân thuyết (Một sông, hai nước, không làm sao thương lượng chi hết - chữ Thuyết ở cuối ám chỉ Tôn Thất Thuyết)
四月三王兆不祥 Tứ nguyệt, tam vương, triệu bất Tường (Bốn tháng, ba vua, điềm chẳng lành - chữ Tường ở cuối ám chỉ Nguyễn Văn Tường)
Nguyễn Văn Tường (1824 - 1886) xuất thân từ một gia đình lao động nghèo thuộc làng An Cư, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Nguyên tên là Nguyễn Phước Tường; vì tên trùng với quốc tính, không chịu đổi, nên bị đi đày; hết hạn lại được phục hàm cử nhân". Sau khi đậu cử nhân (1850), dự thi hội, đạt đủ phân số điểm để được bổ nhiệm, ông vào huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi, nhận chức huấn đạo (phụ trách việc dạy và học). Năm 1853, huyện Thành Hóa, thuộc tỉnh Quảng Trị được thành lập. Ông được bổ làm tri huyện ở đó cho đến 9 năm sau. Năm 1862, ông vào kinh đô Huế giữ chức biện lí Bộ Binh, rồi vào Quảng Nam làm án sát. Năm 1864, vì cần có vị quan giỏi để điều hành "điểm nóng" mâu thuẫn lương - giáo, ông được chuyển đổi làm phủ doãn kinh đô (tỉnh Thừa Thiên và đạo Quảng Trị). Năm 1866, vì cuộc khởi nghĩa Chày vôi nổ ra trong phạm vi quản lí, ông bị cách chức. Từ 1866 đến 1868, Nguyễn Văn Tường trở lại huyện Thành Hóa, với chức trách bang biện (tham mưu), tiếp tục xây dựng căn cứ địa Thành Hóa (Tân Sở về sau). Trong hai năm này, ông lại được cấp ấn quan phòng với quyền được trực tiếp tâu lên vua những việc thực thi cụ thể cùng những kiến nghị rộng lớn. Cũng trong năm Đinh Mão 1867, mặc dù đang ở huyện Thành Hóa, ông vẫn được triều đình và vua Tự Đức điều động vào sứ bộ để vô Gia Định đàm phán với Pháp. Năm 1874, ông giữ chức Thượng thư Bộ Hình kiêm Thương bạc đại thần tại kinh đô Huế. Không lâu sau ông được bổ sung vào Viện cơ mật. Từ thời điểm này, Nguyễn Văn Tường là một trọng thần tại triều. Chức vụ ông giữ lâu nhất là Thượng thư Bộ Hộ, quản lí Thương bạc viện (cơ quan ngoại giao và ngoại thương). Năm 1883, vua Tự Đức băng hà, trong tình hình Bắc Kỳ đang bị thực dân Pháp xâm lược lần thứ hai. Mặc dù Henri Rivière cũng bị giết chết trong một trận đánh do Hoàng Tá Viêm làm tổng chỉ huy, Lưu Vĩnh Phúc trực tiếp cầm quân, các tỉnh Bắc Kỳ vẫn chưa thu hồi được, kinh đô Huế lại đứng trước nguy cơ bị tấn công. Và thật sự Thuận An, cửa ngõ của kinh đô, đã bị thất thủ, không lâu sau ngày vua Tự Đức mất. Do đó, cùng với Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Văn Tường lần lượt lập rồi phế bỏ 2 vua Dục Đức, Hiệp Hòa (với lý do: một thân Pháp, "tả đạo"; một cấu kết với Pháp qua De Champeaux), nhằm mục đích đưa lên ngai vàng một vị vua yêu nước, quyết chiến với thực dân Pháp. Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết thực hiện kế sách quân sự "tọa sơn quan song hổ đấu", thúc đẩy chiến tranh giữa Pháp và Hoa nổ ra, còn triều đình Huế đứng vào thế trung lập. Ngày 12 tháng 6 âm lịch, năm Quý Mùi (1884), Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết cùng Tôn nhân phủ, đình thần lập vua Hàm Nghi lên ngôi. Ngày 27 tháng 7 Ất Dậu (5 tháng 9 năm 1885), Pháp ra lệnh bắt Nguyễn Văn Tường. De Courcy chỉ thị De Champeaux công khai cáo thị khắp nước. Khoảng 4 giờ 30 sáng ngày 30 tháng 7 năm 1886, tại Papeete, một làng trên quần đảo thuộc địa Tahiti của Pháp, Nguyễn Văn Tường mất vì bệnh ung thư cổ họng.
  • Cha của Ông Ích Khiêm đã mất từ sớm, lúc Khiêm đang cầm quân dẹp loạn thì nghe tin mẹ mất. Không thể bỏ quân sĩ mà về chịu tang mẹ, ông làm câu đối:
Mạc hiềm trần thế Khiêm vô mẫu (Trần thế đừng hiềm Khiêm mất mẹ)
Ưng tiếu tuyền đài phụ hữu thê (Tuyền đài có vợ, hãy mừng cha)
(Cha chết xuống suối vàng trước, giờ mẹ cũng xuống theo...Vợ chồng sum hợp, mừng cho Cha)

Những giai thoại đối đáp của Ông Cử Hạnh Thông Phan Văn Trị (1830-1910)[sửa]

tượng Phan văn Trị trong bảo tàng thành phố Cần Thơ

Phan Văn Trị sinh tại làng Hưng Thạnh, huyện Bảo An, tỉnh Vĩnh Long, nay là xã Thạnh Phú Đông, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Cha tên là Phan Văn Tấn, "làm quan khâm sai Chưởng tiền dinh Đô thống chế, đã bị triều đình nhà Nguyễn phạt chín đời không được làm quan", thuộc dòng dõi Phan Văn Triệu, một võ tướng đã từng giúp Nguyễn Ánh chống nhau với Tây Sơn, về sau được liệt vào miếu Trung hưng công thần tại cố đô Huế. Vợ là Đinh Thị Thanh, anh em con cô cậu với Lê Quang Chiểu, tác giả cuốn Quốc âm thi hiệp tuyển. Ông thi đỗ cử nhân khoa Kỷ Dậu, năm Tự Đức thứ hai (1849) tại Trường thi Gia Định, cùng khoa với Nguyễn Thông. Nhỏ hơn Nguyễn Thông 3 tuổi và Nguyễn Đình Chiểu 8 tuổi, Phan Văn Trị không chỉ là bạn văn chương của 2 người, mà còn là đồng chí cùng chung lý tưởng chống xâm lược và tay sai. Sau khi đậu cử nhân, ông về làng Bình Cách (nay thuộc thị xã Tân An) dạy học trò, về sau dời về làng Phong Điền, Cần Thơ (nay là xã Nhơn Ái, huyện Châu Thành, tỉnh Cần Thơ) tiếp tục dạy học, làm thơ, bốc thuốc chữa bệnh cho đến cuối đời. Hiện nay, phần mộ ông vẫn nằm tại nơi đây.

Đối đáp với nhiều nhân vật khuyết danh[sửa]

  • Lúc còn ở kinh đô Phú Xuân, nhân một buổi dạo chơi trên bờ sông, thấy những người lặn xuống sông bất ốc khi trồi lên thì cổ họ bị rong quấn, đầu vướng đầy rác rêu, Phan Văn Trị chép miệng ngâm:
Phú quí Trường An rong quấn cổ
Phong lưu kinh địa rác đầy đầu!
  • Một hôm, Phan Văn Trị đi ăn giỗ. Trong đám giỗ hôm ấy, các danh sĩ cùng nhau ngồi đàm luận văn chương, một người ra đối:
Sắc nan
Phan Văn Trị lên tiếng: Dung dị
Người ra thấy vậy nói: "Dung dị à? Thử đối lại coi". Cử Trị đáp: "Tôi đối rồi đó. Dung dị". Lúc đó mọi người mới hiểu ra. Ai cũng khen ngợi. Người ra đối cũng như cử tọa chậm hiểu, bởi lẽ từ “dung dị”: có nghĩa là “dễ dàng”. Do đó, người ta tưởng Phan Văn Trị bảo vế đối đã ra là dễ dàng, chẳng khó khăn gì mà không đối lại được nên bảo Phan Văn Trị hãy thử đối đi. Họ không dè Phan đã đối ngay: “Sắc” đối với “Dung” còn “nan” đối với “dị” không gì chỉnh hơn được nữa.
Có người đang ăn quít, gặp quả quít ngọt tấm tắc khen: Quít ngọt
Phan Văn Trị tưởng người ấy ra đối để thử thách mình, bèn gắp miếng chả vào miệng nhai rồi đáp: Chả ngon
Cử tọa đề vỗ tay thán thưởng, từ “Quít ngọt” còn có nghĩa bóng là “lường quịt khéo”. “Chả ngon” có nghĩa bóng là “chẳng đẹp đẽ, chẳng xứng đáng gì” được dùng để đối lại chỉnh cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.
vế đối khác: Cóc sướng (khuyết danh)
Một người khác đang ăn bỗng cắn phải lưỡi bèn kêu: Ái! (vừa là tiếng kêu, lại có nghĩa là yêu)
Tiếng kêu làm mọi người giật mình, có người đánh rơi miếng thịt hoen bẩn hết chiếc quần sộp. Cử Trị tức cảnh đối ngay: Ố! (vừa nghĩa là hoen ố, lại có nghĩa là ghét)
  • Một hôm, có người bạn giễu cợt mời Phan Văn Trị thử xướng một bài thơ vịnh “tứ khoái”. Không ngờ ông mỉm cười dễ dãi rồi ngâm luôn:
vế ra: Cơm Phiếu Mẫu gối Trần Đoàn, gối nghiêng loan phụng nhẹ nhàng nương long (Để ám chỉ việc ăn, Phan Văn Trị đã lấy tích Hàn Tín (thời Hán – Sở tranh hùng), lúc công danh chưa thành đạt, nhà nghèo phải đi câu cá ở dưới thành Hoài Âm được bà Phiếu Mẫu cho cơm ăn. Còn việc ngủ, ông lại dùng tích Trần Đoàn, đời Ngũ Đại, tu tiên đắc đạo ở dưới Hỏa Sơn, đã ngủ ba mươi năm liền cho khỏe mắt trong thời loạn lạc. Nói về cái khoái thứ ba và thứ tư, bài thơ đã dùng điển tích thanh tao là loan phụng và nương long. Loan phụng là giống chim quí, con mái gọi là phụng, con trống gọi là loan. Điển tích này thường dùng để chỉ việc vợ chồng, tình duyên trai gái, còn nương long là mỹ từ dùng để ám chỉ hậu môn)
vế đối:Gạo Trọng Do bướm Trang Chu, bướm vờn mai trúc phập phù hậu quy (Trường Văn Nguyễn Phước Thắng) (Trọng Do – Tử Lộ, người ở ấp Biện, thuộc nước Lỗ, sinh vào đời Xuân Thu, học trò Đức Khổng. Nhà nghèo, ông thường đi đội gạo đường xa hàng trăm dặm về nuôi cha mẹ. Không có tiền mua thức ăn, phải tìm các thứ rau về nấu canh dâng lên cha mẹ dùng tạm. Sau khi cha mẹ mất, ông sang nước Sở, được vua Sở trọng dụng, phong ban tước cao sang, cấp nhiều bổng lộc. Ông thường than phiền là không còn cha mẹ để được phụng dưỡng như xưa, để ngày ngày đội gạo, bữa bữa nấu canh rau. Khổng Tử thường khen Tử Lộ là người hiếu để và thận trọng từng hành vi. Ông được xếp tên trong Nhị Thập Tứ Hiếu. Trang Tử (365–290 trước CN) là một triết gia và tác gia Đạo giáo. Tên thật của ông là Trang Chu. Ông còn có tên là Mông Lại, Mông Trang hay Mông Tẩu. Ông sống vào thời Chiến Quốc, thời kỳ đỉnh cao của các tư tưởng triết học Trung Hoa với Bách Gia Chư Tử. Có lần Trang Chu nằm mộng thấy mình hóa bướm vui vẻ bay lượn, mà không biết mình là Chu nữa, rồi bỗng tỉnh dậy, ngạc nhiên thấy mình là Chu. Không biết phải mình là Chu nằm mộng thấy hóa bướm hay là bướm mộng thấy hóa Chu. Giấc mơ thành bướm của Trang Tử gợi ra nhiều câu hỏi trong các lĩnh vực triết học tâm thức, triết học ngôn ngữ, và nhận thức luận. Không chỉ là một thành ngữ thường gặp trong tiếng Trung, "Mộng hồ điệp" còn lan sang cả các ngôn ngữ phương Tây. Cây trúc và cây mai, hai cây thường trồng hoặc vẽ cạnh nhau; dùng để chỉ tình nghĩa gắn bó thuỷ chung, khăng khít giữa bạn bè, vợ chồng. Hậu quy là mỹ từ ám chỉ phía sau quy đầu tức là hậu môn)

Đối đáp với Phủ Ba Tôn Thọ Tường (1825 - 1877)[sửa]

Tôn Thọ Tường là người huyện Bình Dương, phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). Ông vốn xuất thân trong một gia đình khoa hoạn, thân phụ là Tôn Thọ Đức đỗ Cử nhân, làm quan dưới triều Thiệu Trị, Tự Đức. Ngay từ thời trẻ, Tôn Thọ Tường học ở Huế, nổi tiếng văn hay chữ tốt. Năm 1840 thân phụ qua đời nên việc học dở dang, đến năm 30 tuổi vẫn chưa đỗ đạt gì. Năm 1855, ông được tập ấm làm quan, nhưng chỉ là một chức quan nhỏ. Bất mãn vì việc đó Tường bỏ về quê. Thêm vào đó, trong một kỳ thi, vì gian lận nên bị tội, vua Tự Đức xét đến tổ tiên và thân phụ từng làm quan lâu đời nên Tường mới được tha tội. Sau khi Pháp lấy Nam Kỳ (1862), ông ra giúp việc Chánh phủ Pháp. Ông từng được cử theo sứ bộ Phan Thanh Giản sang Pháp (1863-1864). Sau khi về nước, ông được người Pháp thăng dần đến chức Đốc phủ sứ, chủ quận Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long. Tường cũng nhiều lần đi dụ hàng các nhà yêu nước Phan Tôn, Phan Liêm ở Bến Tre, nhưng đều bị chỉ trích mạnh mẽ. Về sau, do công việc dụ hàng không hiệu quả, năm 1871, Tường được người Pháp rút về dạy Hán văn ở trường Hậu bổ (Collège des Stagiaires) Nam Kỳ. Năm 1875, Tường làm việc dưới quyền của Tổng Lãnh sự Pháp De Kergaradec ở Bắc Kỳ. Năm 1877, trong một lần theo viên lãnh sự này đi quan sát miền thượng du Bắc kỳ, Tường bị mắc bệnh mất.

  • Tôn Thọ Tường làm quan cho Pháp, Phan Văn Trị trước là bạn rất thân sau trở thành đối địch vì ông là sĩ phu chống Pháp, ông Tường được người Pháp cử đến thuyết phục Đồ Chiểu và Cử Trị ra làm quan cho Tây, do đó diễn ra cuộc xướng họa văn chương quyết liệt giữa 2 người:
Tôn Thọ Tường ra: Giang san ba tỉnh hảy còn đây, trời đất xui chi đến nỗi này? chớp nhoáng thẳng bom dây thép kéo, mây tuôn đen kịt khói tàu bay, xăn văn thầm tính thương đòi chổ, khấp khởi riêng lo biết những ngày, miệng cọp hàm rồng chưa dễ chọc, khuyên đàn con trẻ chớ thày lay!
Tôn Thọ Tường khoa trương lực lượng Pháp: dây thép, tàu thủy, khuyên chớ làm như trẻ con chọc vào miệng cọp hàm rồng.
Phan Văn Trị đối: Hơn thua chưa biết đó cùng đây, chẳng đã nên ta mới thế này, Bến Nghé quản bao cơn lửa cháy, Cồn Rồng dầu mặc bụi tro bay, nuôi muông giết thỏ còn chờ thủa, bủa lưới săn nai cũng có ngày, đừng mượn hơi hùm rung nhát khỉ, lòng ta sắt đá há lung lay!
Cử Trị tả sự tàn bạo của kẻ xâm lăng “ Lửa thiêu Bến Nghé, tro bay Cồn Rồng ”. Nhưng mặc dầu vậy, ta cũng cứ kiên chí nuôi muông bủa lưới, có ngày giết thỏ săn nai, người đừng mượn hơi hùm mà rung cây cho khỉ sợ.
Tôn Thọ Tường lại ra: Thày lay lại chuốc lấy danh nhơ, ai mượn mình lo chuyện bá vơ? trẻ dại giếng sâu lòng chẳng nỡ, đường xa ngày tối tuổi không chờ, áo xiêm chán thấy xăn tay thợ, xe ngựa nào toan gỡ nước cờ, rủi rủi may may đâu đã chắc, miệng lằn lưỡi mối hãy tai ngơ!
Ý của Tôn là bày trò ra thì mang xấu, lo chuyện bâng quơ làm gì: ta thấy giếng sâu, không nỡ cho trẻ lao mình xuống, vả đường xa ngày tối, đi sao cho kịp? Cứ xem các quan ta cố chống trả mà có gỡ được nước cờ đâu? Vậy đừng nên nghe lời xúi dại.
Phan Văn Trị lại đối: Lung lay lòng sắt đã mang nhơ, chẳng xét phận mình khéo nói vơ! người trí mảng lo danh chẳng chói, đứa ngu mới sợ tuổi không chờ, bài hòa đã sẳn trong tay thợ, việc đánh chưa thua giống cuộc cờ, chưa trả thù nhà đền nợ nước, dám đâu mắt lấp lại tai ngơ!
Tôn muốn lung lạc người trí thức, ấy là xấu rồi: trí chỉ lo trọn đạo, ngu mới hành động hấp tấp, ăn xổi ở thì. Bây giờ giảng hoà là ta thua rồi, nhưng đó đã chắc được chưa, chúng ta không thể làm ngơ trước thù nhà nợ nước.
Tôn Thọ Tường tiếp tục ra: Tai ngơ mắt lấp buổi tan tành, nghĩ việc đời thêm hổ việc mình, nghi ngút tro tàn nhà đạo nghĩa, lờ mờ bụi đóng cửa trâm anh, hai bên vai gánh ba giềng nặng, trăm tạ chuông treo một sợi mành, trâu ngựa dầu kêu kêu cũng chịu, thân còn chẳng kể kể chi danh!
Cũng vì tan tành nên không ngơ được: nền lễ giáo đã mất, ta vẫn phải cứu vãn lại nhưng việc thật khó khăn: quả chuông trăm tạ treo bằng sợi chỉ. Thôi thì bảo ta là trâu ngựa ta cũng chịu, ta ra cộng tác thế này còn nghĩ gì đến thân danh nữa; cốt cứu được nước mà thôi.
Phan Văn Trị tiếp tục đối: Tai ngơ sao được lúc tan tành, luống biết trách người chẳng trách mình, đến thế còn khoe danh đạo nghĩa, như vầy cũng gọi cửa trâm anh, khe sâu vụng tính dung thuyền nhỏ, chuông nặng to gan buộc chỉ mành, thân có ắt danh tua phải có, khuyên người ái trọng cái thân danh
Muốn trách người phải trách mình trước. Đã cộng tác thì đừng nói đến đạo nghĩa, trâm anh là gì. Chúng ta đã trót vụng tính để thuyền nhỏ lọt vào khe sâu, thì phải có gan treo chuông bằng chỉ, ấy là bảo trọng thân danh đấy.
Tôn Thọ Tường lại xướng nữa: Kể chi danh phận lúc tan hoang, biển rộng trời cao nghĩ lại càng, lên núi bắt hùm chưa dể láo, vào sông đánh cá há rằng oan, người giương mắt ngạo đôi tròng bạc, kẻ ứa gan trung bảy lá vàng, chiu chít thương bầy gà mất mẹ, cũng là gắng gỏi, dám khoe khoang!
Lúc này kể gì danh phận nữa, nhưng nghĩ vì chống Pháp cũng như lên núi bắt hùm, vào sông đánh cá, nguy hiểm bao nhiêu. Các ông chỉ trích tôi, thật đau đớn cho tôi: vì tôi thương gà con mất mẹ, nên mới gắng ra gánh vác việc nước.
Phan Văn Trị lại họa nữa: Thân danh chẳng kể thiệt thằng hoang! đốt sáp nên tro lụy chẳng càng, hai cửa trâm anh xô sấp ngữa, một nhà danh giáo xáo tan oan, con buôn khấp khởi chưa từng ngọc, người khó xăn văn mới gặp vàng, thương kẻ đồng văn nên phải nhắc, dễ ta đâu dám tiếng khoe khoang
Thân danh mà không đếm xỉa đến, thật là vô liêm sỉ. Khá thương cho kẻ đốt sáp thành tro, làm điếm nhục đến gia thanh. Chỉ trông thấy ngọc đã loé mắt, không biết rằng có chịu khổ sở mới thành công. Vì ông cũng là trong mạch thư hương nên mới nói mà thôi.
Tôn Thọ Tường cố thuyết phục: Khoe khoang sức giỏi cậy tài khôn, múa mép khua môi cũng một phồn, tơ vấn cánh ruồi kinh trí nhện, gió đưa hơi cọp khiếp oai chồn, siêng lo há đợi cơm kề miệng, chậm tính nào ngờ nước đến trôn, hay dở chuyện đời còn lắm lối, múa men xin hãy chớ bôn chôn
Thôi đừng ba hoa nữa: sức các ông như cánh ruồi mà định làm cho nhện sợ; như lũ chồn, ngửi thấy hơi cọp là run. Nếu biết lo thì chẳng nên đợi ai đưa cơm kề miệng cho mình; nước đến trôn lúc nào không biết….
Phan Văn Trị chẳng thèm nghe: Khoe khoang việc phải mới rằng khôn, kẻ vạy người ngay há một phồn! hồng dẫu hư lông đâu sợ sẻ, hùm như thất thế dễ thua chồn, ngươi Nhan sá ngại dao kề lưỡi, họ Khuất nào lo nước đến trôn, tháy máy gặp thời ta sẽ động, muốn nên việc lớn chớ bôn chôn
Kẻ trái người ngay sao lại vơ đãu cả nắm? Chim hông tuy mất ít long đâu có sợ chim sẻ, hùm mà thất thế há thua chồn. Nhan cửu Khanh đời Đường bị giặc bắt, chửi giặc, giặc đem cắt lưỡi, vẫn không hề sợ. Khuất Nguyên can vua Sở, biết vua sẽ ghét mình sẽ nguy, nhưng cũng không lo. Hễ cơ hội đến là ta sẽ hành động.
Tôn Thọ Tường vẫn cố thuyết phục: Hảy chớ bôn chôn việc cửa nhà, sau này còn ngại nỗi đàng xa, ma duồng cơn ngặt lung hai trẻ, trời mỏn lòng thương xót một già, lái đã vững vàng cơn sóng lượn, thoi toan đan dệt lúc mưa sa, ở đời há dễ quên đời được, tình thiệt so hơn cũng gọi là...
Đường xa còn nhiều trở ngại lắm. Nước ta ví như người già trời còn thương, nhưng mà hai trẻ cứ giục chết cho mau. Cơn sóng lượn nay ta đã cầm lái vững, ta lại lo dệt áo phòng mưa nữa. Phải suy hơn thiệt, chớ đừng mai mỉa không công bằng.
Phan Văn Trị cũng chẳng thèm nghe: Bôn chôn cũng bởi bận vì nhà, dám trách người xưa chửa tính xa? hăm hở hãy đang hăng sức trẻ, chìu lòn e cũng mỏn hơi già, mồi thơm cá quý câu không nhạy, cung yếu chim cao bắn chẳng sa, đáy giếng trông trời giương mắt ếch, làm người như vậy cũng rằng là...
Đâu dám trách ông nông nổi: thanh niên đang hăm hở, còn ông thì lòn cúi cũng hết hơi. Ông muốn dụ chúng tôi, nhưng mồi thơm không câu được cá quý, cung yếu không bắn được chim cao. Ông không biết ngó xa trông rộng, như thế không xứng đáng là kẻ sĩ.
Tôn Thọ Tường kiên trì: Cũng gọi là người ắt phải lo, có hay chịu khó mới nên trò, bạc mông mênh biển cầu toan bắc, xanh mịt mù trời thước rắp đo, nước ngược chống lên thuyền một mái, gác cao bó lại sách trăm pho, lòng này dầu hỏi mà không hổ, lặng xét thầm soi cũng biết cho
Người ta phải thực tế không nên viễn vông, bắc cầu trên biển, lấy thước đo trời. Tiếc thay tình thế ngửa nghiêng mà tôi như thuyền một mái, trong khi các ông chỉ ngồi cao xem sách. Tôi tự xét không hổ với mình, đã có trời xét cho.
Phan Văn Trị cương quyết: Rằng là người trí cũng xa lo, nhuần nhã kinh luân mới phải trò, ngay vạy nảy ra cho biết mực, thấp cao trông thấy há rằng đo, xe Châu nào đợi kinh năm bộ, níp Tống vừa đầy sách nửa pho, chuốc miệng khen người nên cắc cớ, đạo trời ghét vạy há soi cho!
Đã là người trí thì phải lo xa, phải cư xử cho đúng đạo thánh hiền. Ai cong ai ngay, ai cao ai thấp, cần gì phải nói. Tôi cũng học nông nổi thôi, nhưng khuyên ông nên ở phải, đạo trời đâu có soi cho kẻ cong queo.
Tôn Thọ Tường tỏ thái độ chưa nản chí: Đã biết cho chưa hỡi những người, xin đừng tiếc hận, chớ chê cười! ví dầu vật ấy còn roi dấu, bao quản thân này chịu dể ngươi, trăng giữa ba thu mây cũng tỏ, hoa trong chín hạ nắng càng tươi, khó lòng mình biết lòng mình khó, òn lỏi công trình kể mấy mươi
Xin đừng chê cười: các ông khinh tôi cũng chẳng ngại, miễn là nước vẫn còn. Rồi ra trắng sáng thì mây mờ; hoa tàn gặp nắng thì tươi, chỉ mình tôi biết cho tôi là công trình luồn lỏi đã nhiều cũng vì thương nước thương dân.
Phan Văn Trị cho thấy sự cứng rắn của mình: Soi cho cũng biết ấy là người, chẳng tiếc thân danh luống sợ cười, ba cõi may dầu in lại cũ, đôi tròng trông đã thấy không ngươi, ngọc lành nhiều vết coi sao lịch, thợ vụng ít màu nhuộm chẳng tươi, đứa dại trót đời già cũng dại, lựa là tuổi mới một đôi mươi
Ông kể cũng lạ, chẳng tiếc than danh lại sợ chê cười! Nếu như đất nước thu về được, thì chẳng ai thèm nhìn đến ông, vì ngọc lành nhiều vết, thơ nhuộm vụng tay. Thật là già đời còn dại.
Tôn Thọ Tường đánh bài lỳ lợm: Kể mấy mươi năm nước lễ văn, ắn dài beo lớn thế khôn ngăn, bốn đời chung đội ơn nuôi dạy, ba tỉnh riêng lo việc ở ăn, hết sức người theo trời chẳng kịp, hoài công chim lấp biển không bằng, phải sao chịu vậy thôi thì chớ, nhắm mắt đưa chân lỗi đạo hằng
Tôi cũng bốn đời gia thế, nay một mình phải lo liệu cho đời sống dân ba tỉnh, tiếc rằng việc nước khó gỡ lại. Chim Tinh Vệ hoài công tha đá lấp biển không bằng, thôi thì nhắm mắt đưa chân, lỗi đạo đành chịu.
Phạn Văn Trị quả là bền gan: Một đôi mươi uổng tính xăn văn, đất lở ai mà dễ dám ngăn? nong nả dốc vun nền đạo nghĩa, xốn xang nào tưởng việc làm ăn, thương người vì nước ngồi không vững, trách kẻ cầm cân kéo chẳng bằng, gió mạnh mới hay cây cỏ cứng, dõi theo người trước giữ năm hằng
Đã đành ngăn sao được đất lở, nhưng mà tính quẩn làm gì, lo gì việc làm ăn, hãy cốt giữ vững lấy đạo nghĩa. Ta những thương kẻ bôn ba lo việc nước và trách trời ở không công. Cây cỏ tuy yếu nhưng gió to mới biết là cứng; nên ở cho đúng đạo làm người thì hơn.
Tôn Thọ Tường không thể nhẫn nại thêm nữa: Đạo hằng chi trước thảo cùng ngay, lỗi đạo sao cho đáng mặt thầy, đất quét đã đành bia lỗ miệng, chén tràn e nỗi trở bàn tay, nghĩa đen dạy trẻ tranh còn lấp, mặt trắng xem trời cánh khó bay, chí muốn ngày nào cho được toại? giang san ba tỉnh hãy còn đây!
Ai chẳng biết đạo thảo ngay, song đi với kẻ thắng đã đành là xấu, nhưng để nước tràn ra ngoài chén thì còn cứu vãn sao kịp; đem lời thực bảo cho mà không nghe thì các ông khó có cánh bay đâu được. Chí muốn của các ông bao giờ thành được? Mà đất có mất đâu: giang san hãy còn đây mà.
Phan Văn Trị khẳng định lòng trung thành với tổ quốc: Năm hằng vốn thiệt thảo cùng ngay, cuộc ấy ai xui khéo bận thầy, gặp lúc chẳng may nên ngậm miệng, chờ khi tháy máy sẽ ra tay, nổi chìm mặt thế tình dày mỏng, cao thấp dầu ta sức nhảy bay, một trận gió đưa xiêu ngã cỏ, hơn thua chưa quyết đó cùng đây
Thật thế: đạo thảo ngay phải giữ, sao ông lại lo giùm cho người ta? Chúng ta gặp bước không may thì ngậm miệng chờ thời cuộc xoay vần. Dân tộc lầm than nhiều ít hãy nán lòng đợi, ta sẽ có lúc đem toàn lực tranh cao thấp. Cỏ bị gió thì ngã xuống, nhưng sự hơn thua đã biết chắc là về ai.
Thấy khó thuyết phục được Phan Văn Trị, Tôn Thọ Tường đem điển cố "Từ Thứ Quy Tào" thời Tam Quốc ở Trung Hoa ra làm ví dụ minh họa: Thảo đâu dám sánh kẻ cày voi, muối xát lòng ai nấy mặn mòi, ở Hán hãy còn nhiều cột cả, về Tào chi sá một cây còi! bâng khuâng nhớ mẹ khôn nâng chén, bịn rịn trông vua biếng giở roi, chẳng đặng khôn Lưu đành dại Ngụy, thân này xin gác ngoại vòng thoi! (kẻ cày Voi: nhắc đến chuyện vua Thuấn đi cày bằng voi)
Tôn tự ví mình như Từ Thứ bất đắc dĩ phải theo Tào, nhưng không theo thật lòng nên chỉ ngậm miệng, không giúp Tào một mưu chước nào: Ý nói mình không dám bảo mình cũng yêu nước như ai, song nước nhà còn nhiều người xứng đáng, thì một người xoàng như mình có theo Tây cũng chẳng đi đến đâu. Tuy theo những vẫn nhớ nước nhớ vua. Thôi thì chẳng được khôn với các ông thì về với Tây làm kẻ dại vậy, từ nay xin đứng ngoài vòng quốc sự.
Phan Văn Trị cũng cho thấy mình là kẻ không dễ bắt nạt: Quá bị trên đầu nhát búa voi, kinh luân đâu nữa để khoe mòi, xăn văn ruổi Ngụy mây ùn đám, dáo dác xa Lưu gió thổi còi, đất Hứa nhớ thân sa giọt tủi, thành Tương mến chúa nhẹ tay roi! về Tào miệng ngậm như bình kín, trân trọng lời vàng đáng mấy thoi? (Đất Hứa: tỉnh Hứa Xương. Ý bài thơ nói rằng vì chữ hiếu mà phải theo Tào Tháo cũng chẳng hé miệng hiến một kế sách nào cả)
Các ông đã theo Pháp ùn ùn như mây kéo, tránh xa cái nước yếu này rồi, tuy thỉnh thoảng nhớ nước mà sa lệ, nhưng lúc ra đi mà tay roi đét ngựa lẹ thế? Ông hứa ngậm miệng không bày mưu gì cho Pháp, nhưng lời ông liệu đáng tin đến mực nào?
Tôn Thọ Tường lại đem một điển tích khác cũng vào thời Tam Quốc gọi là "Tôn Phu Nhân quy Thục" ra để đánh bài ngửa: Cật ngựa thanh gươm vẹn chữ tòng, ngàn thu rạng tiết gái Giang Đông! lìa Ngô bịn rịn chòm mây bạc, về Hán trau tria mảnh má hồng, son phấn thà cam dày gió bụi, đá vàng chi để thẹn núi sông, ai về nhắn với Châu Công Cẩn, thà mất lòng anh, đặng bụng chồng (Tôn Thọ Tường đã mượn tấm lòng băn khoăn, đau khổ lưu luyến giữa Tình và Hiếu của người đàn bà quý phái nước Ngô, đau lòng ra đi theo chồng cho trọn đạo Tòng phu, qua đó để biện hộ cho lập trường “ tiến thoái lưỡng nan” của mình khi ra hợp tác với pháp. Tâm trạng đó đã được phô diễn rõ rệt trong những chữ “bịn rịn. trau tria…” Vì lúc bấy giờ nhóm Nho sỹ công kích Tôn Thọ Tường là bán nước cầu vinh… Vì vậy cho nên ông luôn phải cố gắng vạch rõ thế nào là trung thành hợp lý. Theo ông thì chính sách bảo thủ của triều đình Tự Đức và tầng lớp Nho sỹ đương thời đã đưa dân tộc vào con đường mất nước. Ngày xưa vì Tôn Quyền quá tin lời Chu Công Cẩn mà Tôn Phu nhân phải đau khổ về Thục. Thì ngày nay, Vua tôi nhà Nguyễn cũng đã làm mất Nam Việt khiến ông phải“ dứt áo theo chồng, ông ra đi không phải vì lợi danh mà đeo lấy một nhiệm vụ chính trị, “quyết tâm cứu nước”)
Để kết thúc cuộc chơi, Phan Văn Trị khóa lại bằng mấy vần họa đanh thép sau: Cài trâm sửa áo vẹn câu tòng, mặt ngã trời chiều biệt cõi Đông, ngút tỏa đồi Ngô ùn sắc trắng, duyên về đất Thục đượm màu hồng, hai vai tơ tóc bền trời đất, một gánh cang thường nặng núi sông, anh hỡi Tôn Quyền anh có biết? trai ngay thờ chúa gái thờ chồng (Phan văn Trị có dụng ý muốn cho Tôn Thọ Tường biết bà Phu Nhân họ Tôn cũng như bao nhiêu người con gái khác “ xuất giá tòng phu” thì phải “cài trâm sửa áo” chớ không thể “cật ngựa thanh gươm”. Cử Trị đã ngầm bảo với họ Tôn: Ong đã theo về với Pháp, chịu hàng kẻ thù thì nên “ chỉnh tề khăn áo” chớ có oai vệ nỗi gì mà “cưỡi ngựa đeo gươm”!? Phan văn Trị cho ta thấy Tôn Phu Nhân từ giả quê hương vào một buổi chiều tà, bị bao trùm một màu ảm đạm thê lương. Dùng những chữ “ mặt ngả trời chiều”. Tác giả muốn nói đến cảnh đau thương của dân tộc đang đắm chìm trong khói lửa chiến tranh. Cử Trị muốn cho họ Tôn nhớ rằng người con của đất Giang Đông đã lìa quê trong một hòan cảnh đau buồn, chớ không phải được “rạng tiết gái” cũng như họ Tôn đã đang tâm theo Pháp trong khi nước non suy tàn, như vậy sao lại gọi là rạng rỡ?! Hình ảnh những đám mây trắng vào một buổi chiều thu nắng nhạt gợi lên trong lòng người ly hương mối sầu viễn xứ. Lìa quê trong cảnh buồn bã như thế Tôn Phu Nhân chẳng bao giờ tưởng nhớ tới mẹ già và anh trai. Tác giả muốn ám chỉ việc họ Tôn theo Pháp trong lúc đất nước điêu tàn, nhân dân lầm than trước họa xâm lăng để hưởng sự vui sướng cho thân mình. Họ Phan nói thẳng với họ Tôn rằng: “ Tôn Phu Nhân đã vẹn hai vai tơ tóc” và trọn đạo thờ chồng. Còn ông, ông theo về với Pháp có giữ được “ gánh cương thường” không? Nếu không, ông đã bất trung với Vua, bất nghĩa đối với nước non, vậy còn khoe khoang đạo nghĩa làm gì nữa? Khen Tôn Phu Nhân là người đàn bà, biết giữ tròn đạo nghĩa bao nhiêu thì họ Phan lại chê trách Tôn Thọ Tường bấy nhiêu. Tôn Thọ Tường là người đàn ông thì làm thế nào giống như trường hợp Tôn Phu Nhân được. Gái tiết hạnh phải làm tròn bổn phận người vợ hiền, trai ngay phải trọn đạo làm tôi đối với chúa. Trong lúc non sông nghiêng ngửa, Tôn Thọ Tường ra hợp tác với kẻ thù cướp nước thì sao lại gọi là “trai ngay” được?!)

Những câu đối liên quan đến Tiến Sĩ Bùi Văn Dị (1833 - 1895)[sửa]

Bùi Văn Dị, còn được gọi là Bùi Dị, tự: Ân Niên, các tên hiệu: Tốn Am, Do Hiên, Hải Nông, Châu Giang; Ôg là người làng Châu Cầu, tỉnh Hà Nam. Bắc Việt. Cha ông là Bùi Văn Hy, đỗ tú tài thời vua Minh Mạng. Nối nghiệp nhà, Bùi Văn Dị đi học từ rất sớm. Sau khi đỗ tú tài, khoa Ất Mão (1855), ông đỗ cử nhân, nhưng mãi đến khoa Ất Sửu (1865) năm Tự Đức thứ 18 (1865), ông mới đỗ Phó bảng cùng với người em họ (con chú ruột) là Bùi Văn Quế. Khoa Ất Sửu, Tự Đức 18 (1866) vào kinh thi Hội, làm xong bốn kỳ, khi kéo bảng được vào hạng chánh trúng cách. Thi đỗ, Bùi Văn Dị được bổ làm Tri huyện Lang Tài, Việt Yên, Yên Dũng thuộc tỉnh Bắc Ninh rồi làm Án sát Ninh Bình. Sau đó, ông được triệu về kinh đô Huế, giữ chức Nội các sự vụ Thị lang bộ Lễ, tiếp theo là Tham tri bộ Lại. Khi quân Pháp đánh thành Hà Nội lần thứ nhất (1873), ông được cử ra đó lo việc chống ngăn. Từ năm 1876 đến 1878, ông được cử làm Chánh sứ, dẫn đoàn sang nhà Thanh (Trung Quốc). Cuối năm 1878, ông lại được sung vào Nội các, lại được cử duyệt quyển thi Hội, thi Đình. Năm 1881, ông nhận chức Quản lý Thương bạc sự vụ đại thần. Năm 1882, Pháp đánh thành Hà Nội lần thứ hai, ông dâng sớ xin quyết đánh trả, và được làm Phó Kinh lược sứ Bắc Kỳ. Sau đến hồi Hà Nội thất thủ, Hoàng Diệu tuẫn tiết, ông cùng Nguyễn Chính ra khâm sai Bắc Việt, để cùng Hoàng Kế Viêm thương lượng việc chống Pháp. Trong thời gian sang sứ Tàu, qua chơi Hoàng Hạc lâu là thắng cảnh Nam Kinh, và Chương Hà, nơi mộ Tào Tháo, ông có đề thơ, và thơ ấy được truyền tụng trong giới văn học Trung hoa thời ấy. Cuối đời Tự Đức, muốn tránh những chuyện lôi thôi, ông cáo quan về nhà. Đầu năm 1884, ông lại được triệu về triều làm giảng quan chuyên giảng sách cho vua Kiến Phúc và vua Hàm Nghi. Năm 1885, ông bị ốm phải đi dưỡng bệnh tại Hải Quật (Yên Định, Thanh Hóa). Đến năm 1887, ông lại được triệu vào kinh làm giảng quan cho vua Đồng Khánh, rồi dần đảm đương nhiều chức vụ khác. Đến năm Thành Thái thứ nhất (1889), thì ông đã xin thôi giữ chức Thượng thư bộ Lễ, Thượng thư bộ Lại và Phụ chính đại thần, mà chỉ còn giữ chức Phụ đạo đại thần kiêm Phó Tổng tài Quốc sử quán. Kinh lược Bắc kỳ Hoàng cao Khải có tiễn đôi câu đối:

Tái khởi vị thương sinh, lang miếu giang hồ, lưỡng ưu ái (Ông đã về nghỉ, nay lại phải ra làm quan, ấy là vì dân: ở trong lang miếu hay ở ngoài giang hồ, đều có long ưu quân ái quốc)
Nhất thiên phú hoàng cúc, Trạng nguyên Tể tướng dĩ an bài (Xem bài thơ hoàng cúc, tài Trạng nguyên tể tướng, vận mệnh đã định sẵn)
  • Bùi Ân Niên được vua Thành Thái hạ chiếu, sắc tứ cờ biển mũ áo Tiến sĩ cho ông, và lập thêm một bia Tiến sĩ vào khoa Ất Sửu khắc tên ông, trên có ghi cả bài dụ, nay bia ấy còn ở nhà Giám kinh thành Huế. Do đó, khi Bùi Ân Niên mất, Tam Nguyên Yên Đổ có câu đối viếng, lời giản mà ý thâm:
Ngư ky cựu phố, hoa sơ lạc (Bến cá bàn xưa, hoa đã rụng)
Long bảng tân bi, thạch vị đài (Bảng rồng bia mới, đá chưa rêu)
Thì ra bao nhiêu năm phụng sự quốc gia, ông không lấy làm việc quan trọng đáng cho mình toại ý, mà đến già vẫn hậm hực về cái danh hiệu Tiến sĩ với Phó bảng. Mới biết cái nọc khoa cử khi xưa đã ăn vào cốt tủy của sĩ phu. Yên Đổ cố ý viếng hai chữ “bia mới” để tỏ rằng bia của mình là tranh thủ nơi trường ốc chứ không phải bia thỉnh cầu về sau. Ấy cái hơn kém chỉ là một mảnh bia ông Nghè, chứ không ở công nghiệp một đời!
  • Con trải trưởng của Bùi Văn Dị (chưa rõ tên) thi Hương khoa Đinh Dậu, đời Thành Thái (1897) đỗ Cử nhân. Khoa ấy ông đương có tang cha, theo lệ học trò có đại tang không được đi thi. Tính ra đến ngày mồng 5 tháng 10 ông mới hết tang, mà trường thi Nam Định xưa nay, kỳ đệ nhất mở vào ngày mồng 1 tháng 10. Cứ kể nhật kỳ như thế ông không được phép thi; nhưng năm ấy triều đình có việc, xuống chỉ hoãn kỳ thi đến 16 tháng 10, tức là hoãn lại 15 ngày. Thế là ông vừa hết tang, được vào thi, trước khi thi vài ngày lại cưới vợ; ngày ra bảng đỗ Cử nhân thứ 80. Khoa này cũng như trước chỉ lấy 80 Cử nhân, vậy là đỗ cuối bảng. Nhưng trong số Tú tài có Nguyễn hán Khả, vì làm việc ở phủ Thống sứ, nên được đặc ân, thành ra trường phải lấy them 2 Cử nhân nữa, cộng là 82 ông. Ông Khả đỗ thứ 81. Rốt cục ông Bùi đỗ thứ 80, đáng lẽ cuối bảng, lại đỗ trên được hai người. Lúc về ăn mừng, Tam Nguyên Yên Đổ có tặng câu đối:
Thánh thượng diệc lân tài, cống viện trì lai tam ngũ nhật (Nhà vua ý thương tài, thi hoãn lại năm ba bữa (năm ba là mười lăm)
Khuê trung ưng phá tiếu, lang quân áp đắc kỷ đa nhân? (Cô Cử cười vỡ bụng, anh chàng đè được những bao người?)

Những câu đối của Tam Nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến (1835 - 1909)[sửa]

chân dung Nguyễn Khuyến

Nguyễn Khuyến hiệu Quế Sơn, tự Miễn Chi, lúc nhỏ tên Nguyễn Thắng, con của ông Nguyễn Tông Khải và bà Trần Thị Thoan. Bên nội ông quê gốc ở vung Treo Vọt, huyện Can Lộc, Hà Tĩnh, di cư ra làng Yên Đổ huyện Lục Bình, tỉnh Hà Nam, cho đến thời Nguyễn Khuyến đã được năm trăm năm. Cụ bốn đời là Nguyễn Tông Mại, đỗ Tiến sĩ, làm quan đến Hiến sát sứ Thanh Hóa. Ông thân sinh nhà thơ là Nguyễn Liễn, vẫn theo đòi nho học, đỗ 3 khoa Tú tài, chuyên nghề dạy học để kiếm sống ở xứ vườn Bùi. Năm 17 tuổi, Nguyễn Khuyến cùng cha đi thi nhưng hỏng. Năm sau ông cưới vợ, người cùng làng. Chính người vợ tào khang này đã 1 nắng 2 sương gánh việc nhà để chồng học tập. Năm 1854, cha mất, cuộc sống gia đình ngày càng túng quẫn hơn. Nguyễn Khuyến phải đi làm gia sư để nuôi mẹ, ông được ông nghè Vũ Văn Lý đem về nuôi cho ăn học. Năm 30 tuổi, Nguyễn Khuyến thi hương đỗ giải nguyên. Năm sau thi hội trượt, Nguyễn Khuyến ở lại Huế học trường Quốc Tử Giám. Năm 1871, lúc đó ông 37 tuổi, Nguyễn Khuyến thi đỗ hội Nguyên rồi Đình Nguyên. Là người đỗ đầu 3 kì thi nên ông được vua phong tặng danh hiệu "Tam nguyên yên đỗ". Sau đó, Nguyễn Khuyến làm việc ở nội các Huế. Năm sau, làm đốc học Thanh Hóa rồi án sát Nghệ An. Năm 1876, ông làm biện lý Bộ hộ. Năm 1877, làm thăng bố chánh Quãng Ngãi. Năm 1879, làm Quốc Sử Quán Huế. Năm 1884, ông được đề cử chức Tổng Đốc Sơn,Hưng,Tuyên nhưng ông không nhận và cáo quan về quê năm ông 50 tuổi. Từ năm 1891 đến 1893, ông làm nghề dạy học.

Những câu đối thuở thiếu thời và câu đối Tết[sửa]

  • Giai thoại khi còn là học trò:

Nguyễn Khuyến khi ông còn là cậu học trò nhỏ. Học giỏi được thầy, bạn quý nhưng cậu lại bị anh trưởng tràng học kém hơn ganh ghét. Anh ta bày trò bắt cậu làm câu đối “dán chuồng lợn” để giễu cợt (vì có ai làm câu đối để dán chuồng lợn bao giờ!?). Cậu đã làm ngay đôi câu đối để trả đũa anh trưởng tràng, vì vậy hai vế chỉ dùng có… hai chữ “trưởng tràng”:

長長長長長長長 Trưởng trưởng tràng tràng tràng trưởng trưởng
長長長長長長長 Tràng tràng trưởng trưởng trưởng tràng tràng
Cấu đối này viết bằng chữ Hán thì chỉ mỗi chữ "Trưởng" còn có phiên âm khác là "Tràng" được nhắc đi nhắc lại 14 lần, nghĩa là: "Lớn lớn dài dài dài lớn lớn lớn, dài dài lớn lớn lớn dài dài". Câu đối dán chuồng lợn là để cầu cho lợn chóng lớn, thiết tưởng không còn câu nào hay hơn thế, nhưng đã cho anh trưởng tràng một vố thật sâu cay, nhớ đời.
  • Những câu đối Tết:
Chúng nó dại vô cùng, pháo nổ đì đùng thêm mất chó
Ông đây khôn bất trị, rượu say túy lúy lại nằm mèo
Nguyễn-Khuyến quan niệm rằng người ta thật là vô cùng dại dột, chẳng những mất bao nhiêu tiền mua pháo đốt mà lại còn bị mất chó nữa vì pháo nổ đì đùng làm cho chó hoảng sợ chạy đi mất. Còn như ông là một người rất tinh khôn cho nên ngày Tết ông chỉ uống rượu say rồi nằm nghỉ không cần phải làm gì hết cả
Tết đến, rượu ngon đưa mấy chén
Xuân về, bút mới thử vài trang
Tranh pháo vui xem đàn trẻ nhỏ
Tóc râu thêm một sợi tuổi trời cao
Ủa! Tết đến rồi đó, chẳng lẽ trơ cùi cùng tuế nguyệt
Kìa! Xuân sang đấy ư, thôi đành mở múi với giang sơn
Ngào ngạt mùi hương, dẫu tại đất người, không mất gốc
Lung linh ánh lữa, dù xa quê cũ, chẳng quên nguồn
Xuân vẫn còn dài, hướng đến tương lai vùng đất mới
Tết dù đã ngắn, quay nhìn dĩ vãng cảnh người xưa
Già trẻ gái trai đều khoái Tết
Cỏ cây hoa lá cũng mừng Xuân
Ai đẻ mãi ra Xuân, Xuân ấy đi, Xuân khác về, năm nay năm ngoái Xuân hơn, kém?
Nhà lại sắp có khách, khách quen vào, khách lạ đến, năm ngoái năm nay khách vắng, đông?
Tối ba mươi, nghe pháo nổ đùng, ờ ờ Tết
Sáng mùng một, chạm nêu đánh cộc, à à Xuân
Ai nấy dại vô cùng, pháo pháo nêu nêu kinh những Quỷ
Ta đây nhàn bất trị, chè chè rượu rượu sướng bằng Tiên

Những câu đối ứng khẩu trong hoàn cảnh thật[sửa]

  • Một lần ông đi qua chùa Đọi (Hà Nam). chùa này có một chú tiểu nói ngọng và một sư cụ móm nói phều phào. Tam nguyên Yên Đổ làm đôi câu đối:
Phất phất phóng phong phan pháp phái phi phù phan phụng phật (Phất phơ cờ phướn bay trước gió, đạo pháp và cờ phướn bay để thờ phật)
Căn căn canh cổ kệ cao ca kì cứu cứu cùng kinh (Tất cả cùng đọc kinh cổ, đọc to lên để khảo cứu kinh phật cho đến cùng)
Về ý, không ai dám chê câu đối ca tụng phật pháp không hay nhưng về âm, khi đọc lên không ai không bật cười vì cái phều phào, cái ngọng ngịu, ngíu ngô cứ ẩn, cứ hiện… Thật là tài tình
  • Câu đối mừng đám cưới:
Giàu có thiếu gì tiền, đi một vài quan không phải lẽ
Sang không thì ra bạc, gửi năm ba chữ gọi là tình
Ba cặp: “giàu” - “sang” (“sang” tính từ, và “sang” động từ); “tiền” - “bạc” (“bạc” danh từ, và “bạc” tính từ); “quan” - “chữ” (“chữ” là đồng tiền, và “chữ” là văn tự, chữ nghĩa).
  • Câu đối vịnh nghề nhuộm:
Đã chót nhúng tay, xâu đều còn hơn tốt lỏi
Quý hồ thuận mắt, thắm lắm lại phai nhiều
  • Câu đối khóc con là Nguyễn Hoan, đỗ phó bảng và làm tri phủ Kiến Xương (Thái Bình) bị bệnh chết.
Bảng vàng bia đá nghìn thu, tiếc cho người ấy
Tóc bạc da mồi trăm tuổi, thiệt lắm con ơi
  • Câu đối khóc vợ:
Nhà chỉn rất nghèo thay, nhờ được bà hay lam hay làm, thắt lưng bó que, sắn váy quai cồng, tất tưởi chân nam chân xiêu, vì tớ đỡ đần trong mọi việc
Bà đi đâu vội mấy, để cho lão vất vơ vất vưởng, búi tóc củ hành, buông quần lá tọa, gật gù tay đũa tay chén, cùng ai kể lể chuyện trăm năm
  • Câu đối lúc cáo lão hoàn hương:
Quan chẳng quan thì dân, chiếu trung đình ngất ngưởng ngồi trên, nào lềnh, nào cả, nào bàn ba, tiền làm sao, gạo làm sao, đóng góp làm sao, một năm mười hai tháng thảnh thơi, cái thủ lợn nhìn thầy đà nhẵn mặt
Già chẳng già với trẻ, đàn tiểu tử nhấp nhô đứng trước, này thơ, này phú, này đoạn một, bằng là thế, trắc là thế, lề lối là thế, ba vạn sáu nghìn ngày thấm thoắt, con mắt già cái kính đã mòn tai
Vế đối trên nói về việc Nguyễn Khuyến hăng hái tham gia công việc làng - Chiếu trung đình là chỉ việc cụ Tam Nguyên giữ ngôi tiên chỉ ở làng, khi ra đình, được ngồi chiếu giữa - Lềnh, Trưởng là hai chức vị ở làng, dành cho người có danh vọng và nhiều tuổi nhất - Bàn ba là bàn dọn cỗ hàng thứ ba ở đình làng - Thủ lợn là lễ vật cúng ở đình, sau khi cúng xong thì ngôi tiên chỉ được hưởng lộc. Vế đối dưới nói về việc cụ Tam Nguyên sau khi cáo quan về mở trường dạy học trò - Chẳng già với trẻ là ý nói không muốn già với đám trẻ con, cũng hoà mình vui đùa với chúng - Tiểu tử, chỉ các học trò nhỏ - Đoạn một là lối tập làm văn giản đơn - Bằng trắc, tức âm đọc không dấu hoặc dấu huyền là bằng; âm đọc có dấu sắc, nặng, hỏi, ngã là trắc - Điểm khuyên chỉ cách chấm văn chữ Hán - chữ Nôm xưa, chỗ nào hay vừa thì thầy chấm những chấm son bên cạnh, chỗ nào thật hay thì khuyên vòng tròn, còn chỗ nào dở thì thầy sổ nét dọc - Mắt gà chỉ mắt bị bệnh quáng gà hoặc mắt mờ mờ như quáng gà.
  • Câu đối diễn tả tình trạng làm quan của mình trong cảnh thanh bần:
Sớm trưa dưa muối cho qua bữa
Chợ búa trầu chè chẳng dám mua
  • Khi Nguyễn Khuyến cáo quan về dạy học ở một làng nọ, theo lệ cứ đến khoảng cuối tháng Chạp, vào dịp năm hết Tết đến là các phụ huynh học sinh lại tính sổ để trả nốt tiền cho thầy về quê ăn Tết. Nguyễn Khuyến vốn là nhà thơ thích khôi hài, trước cảnh tượng các ông bố học trò lui tới nộp tiền cho thầy, liền tức cảnh hai vế đối Nôm như sau:
Hàng ngày mổ bụng con nhét chữ
Cuối năm bổ đầu bố lấy tiền
  • Câu đối viếng bà Thông Gia:
Ôi thương ôi! Hơn một ngày chẳng ở, kém một ngày chẳng đi, bà năm mươi tám mà bà nhà tôi sáu mươi tư, xuân thu tuổi đã cao rồi, lọ là bon chen bảy tám chín mười mươi, thôi đừng cầu phật cầu trời chín suối không nên ân hận nữa
Ấy quái nhỉ! Sống mỗi người một nết, chết mỗi người một tật, bà tháng năm này mà bà nhà tôi tháng tư trước, ngày tháng cũng không cách mấy, nào có lâu la một năm năm bảy tháng, ví chẳng dâu gia dâu giáo, đường mây sao khéo rủ rê nhau
Bà này là vợ ông Vũ Văn Báo người làng Vĩnh Trụ (Nam Hà) đỗ phó bảng, làm tổng đốc Nam Định, là “thế huynh” (con trai thầy học) và thông gia của nhà thơ.
  • Câu đối viếng nhà thơ Tú Xương:

Tú Xương sinh năm 1870, sau Nguyễn Khuyến 35 năm (1835), nhưng lại ra đi trước, khi nhà thơ mới có 37 tuổi (1907). Cụ Tam nguyên Yên Đổ lúc đó đã 72 tuổi, chống gậy đến viếng người bạn thơ đất Vị Hoàng bằng câu đối:

Kìa ai chín suối, Xương không nát
Có lẽ nghìn thu, tiếng vẫn còn
“Xương” là xương cốt (tng: “Sống gửi nạc, thác gửi xương”), cùng âm với tên người được viếng.
  • Câu đối tức cảnh:
Đem đỗ cống đút vào Cống Đỗ
Lấy Mồi câu ném xuống cầu Môi
Cống Đỗ và Cầu Môi là hai địa danh gần làng Yên Đổ'
  • Câu đối có tính cách chấm biếm và hưởng nhàn cho các bô lão:
Sáng sáng ăn sáng rồi, cầm quyển mới, kỳ cui ký cúi viết vài chương; đoạn rồi thu gương mắt xếp khăn tay, dắt bút vào tam sơn, ngả lưng ngáy khò khò chờ tối xuống
Ngày ngày ngủ ngày dậy, với câu cũ, phếu pháo phều phào ngâm mấy khẩu; đứng dậy ngắm chậu hoa nhìn cây thế, rê chân đi bách bộ, vỗ tay cười khanh khách đón trăng lên

Những câu đối viết tặng người mới giàu[sửa]

  • Câu đối viết cho Hàn Soạn:

Ở làng Nãi Văn (nay thuộc xã Vũ Bản, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam) có một người chủ gia đình tên là Hàn Soạn. Chữ Hàn ở đây hàm nghĩa là nghèo. Hàn Soạn, có nghĩa anh ta tên Soạn và nghèo. Do gặp vận may và cũng biết cơ chỉ làm ăn, chắt bóp, đến một dạo Hàn Soạn đã "đổi đời". Tâm tính anh ta cũng chuyển đổi, tỏ ra khinh người, dáng đi điệu đứng khệnh khạng, ngữ khí hách dịch, rất có vẻ ta đây. Hàn Soạn làm nhà to, còn xây liền kề một ngôi từ đường lớn làm nơi thờ phụng tiên tổ, ông cha. Một ngôi từ đường oách đến thế không thể thiếu bức hoành phi, đôi câu đối của cụ Tam nguyên Yên Đổ. Hàn Soạn đến làng Và, tìm vào Vườn Bùi, trang viên của cụ Tam nguyên, nêu nguyện vọng với cụ. Đôi câu đối cụ viết cho Hàn Soạn nội dung như sau:

一脈貫通往者過來者續 Nhất mạch quán thông, vãng giả quá, lai giả tục (Một mạch thông suốt, người trước qua, người sau tiếp)
三神恭拜幼在後長在前 Tam thần cung bái, ấu tại hậu, trưởng tại tiền (Ba vì lễ bái, trẻ lễ sau, già lễ trước)
Mang cặp câu đối về, Hàn Soạn rất hài lòng, vì nội dung của nó ca ngợi "dòng dõi gia giáo" và ngày càng hưng thịnh của gia đình anh ta. Hàn Soạn cho chạm khắc vào hai tấm gỗ quý, sơn son thếp vàng, treo trang trọng hai bên tả - hữu từ đường. Ai vào nhà, Hàn Soạn cũng khéo léo giới thiệu cặp câu đối ứng rất sát với hoàn cảnh danh giá của anh ta. Khi được khách ngợi khen, Hàn Soạn càng vênh vang. Nhưng cũng chỉ vì có sự xuất hiện của cặp câu đối có vẻ kỳ kỳ ấy trong từ đường nhà Hàn Soạn mà từ đó người ta bắt đầu có cái nhìn săm soi, bới lông tìm vết với gia đình anh ta. Người ta nhớ ra ba đời nhà anh ta từng làm thợ xẻ. Họ bắt đầu đọc và suy ngẫm kỹ lưỡng hơn cặp câu đối cụ Nguyễn Khuyến viết cho Hàn Soạn. Cuối cùng họ luận ra, cặp câu đối, ngoài cái nghĩa bề nổi, còn có một nghĩa chìm, mô tả những động tác của cha con thợ xẻ: "Một mạch cưa thông suốt, kẻ kéo qua, người kéo lại" và "Ba vì lạy nhau, con lạy trước, cha lạy sau". Thâm ý của cụ Tam nguyên là muốn nhắc nhở Hàn Soạn: Trước kia ba đời nhà anh làm thợ xẻ, cũng nghèo khổ như ai, bây giờ mới khá giả chớ vội vênh vang, khinh suất, chẳng hay hớm gì. Mọi người nói đến tai Hàn Soạn, anh ta toan hạ cặp câu đối xuống, nhưng lại cảm thấy xót tiền của bỏ vào việc mua gỗ và thuê người trạm khắc, hơn nữa, anh ta nghĩ: Ở cái vùng quê đa phần là nông dân mù chữ này mấy ai suy diễn được cái ý thứ hai của câu đối!? Thế là anh ta cứ để treo.
  • Câu đối mừng vào nhà mới tặng cho vợ chồng anh trưởng chợ (khán thị) vừa gần chợ, vừa gần sông:

Cũng ở trong vùng nông thôn đồng chiêm trũng ấy, có một anh làm nghề coi chợ, còn gọi là khán thị. Nhờ cái vị thế coi chợ, vợ chồng anh ta còn buôn bán thêm, kiếm được khá, chẳng bao lâu xây được căn nhà to, ngự sát chợ lại gần sông. Tòa nhà của anh ta chiếm luôn cả ngôi nhất và ngôi nhì, vậy thì không có lý do gì lại không tổ chức một bữa liên hoan thật xôm mừng nhà mới. Mặc dù anh ta chỉ biết lõm bõm dăm bảy chữ nho có tính thông dụng, nhưng trong tiệc liên hoan mừng nhà anh ta lại muốn chứng tỏ cho mọi người biết thân phận anh ta đã thay đổi, không còn thuộc hàng thứ dân cấp thấp như xưa nữa. Anh ta tìm đến Vườn Bùi xin cụ Nguyễn Khuyến thửa cho một cặp câu đối. Cụ Tam ngyên nhận lời, hẹn hôm sau đến lấy. Anh ta về nhà khoe với vợ, bảo vợ chuẩn bị tiền tạ lễ cụ Tam. Chị vợ mù tịt chữ nho nên muốn thửa một cặp câu đối chữ nôm cho dễ hiểu. Sau một hồi tranh cãi không ngã ngũ, không ai chịu ai, vợ chồng anh ta cùng kéo nhau đến gặp cụ Tam nguyên. Nghe họ tranh nhau trình bày mấy câu, cụ Tam nguyên đã hiểu ra vấn đề, cụ xua xua tay: "Thôi thôi, thửa câu đối cho nhà mới mà cứ cãi nhau như xát ốc thế này thì dông lắm, gở lắm! Để ta chiều cả hai, viết một bên nho, một bên nôm, được chưa nào?" Rồi cụ viết:

一近市二近江此地可丰佳辟屋 Nhất cận thị, nhị cận giang, thử địa tích tằng xưng tị ốc
Giầu ở làng, sang ở nước, nhờ trời nay đã vểnh râu tôm
Vế trước, bằng chữ Hán, ca ngợi cái thế "phong thủy" đẹp của ngôi nhà. Vế sau, bằng chữ nôm, ca ngợi cái địa vị mới của anh khán thị: Thị (chữ nho, tức chợ) đối với làng (chữ nôm). Giang (chữ nho, tức sông) đối với nước (chữ nôm). Địa (chữ nho, tức đất) đối với trời (chữ nôm). Tích tằng (chữ nho, tức xưa từng) đối với đã (chữ nôm). Đúng là chữ Hán chữ nôm cứ đối nhau chan chát y như như hai vợ chồng đấu khẩu với nhau. Nhưng phải đến ba chữ cuối Xưng tị ốc (Hán) đối với Vểnh râu tôm (nôm) thì toàn bộ cặp câu đối mới "thăng hoa" hết ý nghĩa: Cụ Tam đã khái quát đắc địa, trúng phóc cái khung cảnh nhà cửa, phong thái trưởng giả học làm sang của cặp vợ chồng mới giầu xổi! Xưng tị ốc: do câu “”Đường Ngu chi thời ốc nhi phong”. Ý nói đời Đường Ngu, trong nước có nhiều người hiền, nên nhiều nhà ở liền vách nhau được khen thưởng. Có thuyết khác lại nói trường hợp này Nguyễn Khuyến viết mừng một ông chánh tổng trước bị cách chức, sau được phục sự và làm nhà mới).
  • Câu đối “khen” sinh phần của Nghị Viên Lại Văn Chung ở Thái Bình:

Thời Pháp Thuộc, ở tỉnh Thái Bình có 1 nhân vật là nghị viên Lại Văn Chung vốn xuất thân làm nghề lái lợn (buôn heo), nhờ luồn lọt mà trở nên giàu có và mua được chức nghị viên. Tuy còn khỏe mạnh nhưng ông ta đã lo xây "mộ gió" (tức sinh phần) trước phòng xa, mộ vừa xây xong đã có ai đó viết vào đôi câu đối:

Rực rỡ mé đường Tây, kẻ lại người qua, ca tụng sinh phần quan lớn Lại
Vang lừng trong thôn Bắc, trên kính dưới rái, một lòng tôn trọng cụ trong dân
Câu đối thâm thúy ở chỗ nói lái. "Quan lớn Lại" thành "quan lái lợn". "Cụ trong dân" là "Rận trong cu". "Trên kính dưới rái" là trên kính dưới sợ, cũng còn ám chỉ bệnh sa đì của "quan". Đọc đôi câu đối, Nghị Lại đau như hoạn, vội cho xóa ngay kẻo thiên hạ biết. Khốn nỗi ai đọc qua là nhớ nên nó mới tồn tại đến ngày nay, tương truyền đôi câu đối này do nhân dân Thái Bình xin chữ của Tam Nguyên Yên Đổ

Những câu đối viết theo đơn đặt hàng[sửa]

  • Câu đối đề ở đền thờ Thánh Mẫu:

Năm ấy làng Cổ Ngựa xã Hiển Khánh huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định chuẩn bị khánh thành đền thờ Thánh Mẫu, có cử người đến “xin chữ” cụ Nguyễn Khuyến. Vốn ghét bọn quan lại làng này về tội nhũng nhiễu dân, cụ viết:

美人玉行雨行風英令莫仄 Mỹ nhân như ngọc, hành vũ, hành phong, anh linh mặc trắc (Người đẹp như ngọc làm mưa làm gió thiêng không lường hết)
济世其陰护民护國萬吏無窮 Tế thế kỳ âm, hộ dân, hộ quốc, thướng lai vô cùng (Âm đức cứu đời giúp dân giúp nước ơn lớn vô cùng)
Lời văn của đôi câu đối Hán Nôm nghe qua tưởng như rất nghiêm chỉnh, nếu như ta đọc theo lối ngắt câu ở từng bốn chữ một, nhưng chỉ cần chuyển cách ngắt câu về sau chữ thứ năm của đầu mỗi vế đối, thì câu đối đó trở thành một câu đùa rất ác và rất... tục! Ở đây Nguyễn Khuyến đã tách chữ Ngọc Hành và chữ Âm Hộ để đối với nhau, nếu đọc và liền mới thấy cái oái oăm của đôi câu đối này
  • Câu đối hạng hàng và câu đối hạng thừa:
鶯啼鳳語迎花帳 Oanh đề phượng ngữ nghinh xuân trướng (Trướng xuân đón phượng kêu, oanh hót)
雁舞鸞飛拂錦屏 Nhạn vũ loan phi phất cẩm bình (Bình phong lay nhạn múa, loan bay)
Tại vùng đồng chiêm trũng Bình Lục vào dịp áp tết, có một đám cưới diễn ra. Trong tiệc hỷ, người ta nhìn thấy một cặp câu đối hạng hàng như đã nêu trên treo hai bên cột nhà. Mọi người cứ ngẩng lên đọc đi đọc lại mãi, trầm trồ ngợi khen. Ông khách mang câu đối nói rằng mình đặt 3 quan tiền lễ để xin chữ của cụ Tam Nguyên Yên Đổ, cụ nói rằng 3 quan thì chỉ được câu đối hạng hàng mà thôi, nếu muốn câu đối hạng thừa thì phải 5 quan mới đủ. Mọi người nghe ông kia nói thế thì bình phẩm: "câu đối hạng hàng mà cụ viết hay đến thế, nếu là hạng thửa thì phải là loại tuyệt bút!" Thế là mấy ông có chút chữ nghĩa nảy ra ý tò mò, muốn thưởng thức câu đối hạng thừa của cụ Tam nguyên. Họ bảo nhau gom góp mỗi người một ít cho đủ năm quan, rồi cắt cử mấy ông kéo đến vườn Bùi xin chữ, kết quả họ được câu đối hạng thừa như sau:
屏錦拂飛鸞舞雁 Bình cẩm phất phi Oanh vũ Nhạn (Bình gấm phất phơ oanh múa nhạn)
帳花迎語鳳啼鶯 Trướng hoa nghinh ngữ Phượng đề Oanh (Trướng xuân nghiêng ngửa phượng đề oanh)
Về đến nơi, mọi người cứ đọc đi đọc lại mãi và lấy làm lạ rằng cụ Tam chỉ đảo lại chữ ở cái câu đối hạng hàng mà cụ đã viết cho ông khách tặng đám cưới này, vậy thì làm sao gọi là câu đối hạng thừa được! Cuối cùng họ nghĩ mãi cũng hiểu ra cái tài chơi chữ rất độc đáo của cụ Tam nguyên, đúng là cụ chỉ đảo chữ cái cặp câu đối hạng hàng thì chữ nghĩa nó đã biến hóa tài tình: chữ "múa" và chữ "đề", nếu đọc giọng bè ra, nhất là những người ngà ngà men rượu, sẽ đọc thành "mó" và "đè". Mọi người vỡ nhẽ cùng cười ngặt nghẽo, nhưng phía chủ nhà đám cũng như khách khứa đều nhận thấy câu đối này rất hợp với đám cưới, lại cũng hợp với không khí “sinh sôi” của mùa xuân, nó đúng là câu đối hạng thừa.
  • Câu đối viết cho góa phụ bán thịt lợn:
四時八節更終始 Tứ thời bát tiết canh chung thủy (Bốn mùa, tám tiết luôn chung thủy)
岸了堆蒲慾点装 Ngạn liễu đôi bồ dục điểm trang (Dặm liễu, gò bồ muốn điểm trang)
Đây là một câu đối làm hoàn toàn bằng Hán văn, có nghĩa là: “bốn mùa tám tiết lần lượt thay đổi; bờ cỏ dậm liễu cũng muốn trang điểm”. Câu đối nói lên ý chí, quyết tâm chung thủy của người vợ góa trước nỗi xao xuyến, đòi hỏi được “điểm trang” của “dặm liễu”, “gò bồ”. Tuy nhiên, hai chữ “tiết ” và “canh” trong vế trên và “bồ ” và “dục” trong vế dưới nếu đọc liền nhau lại có thể coi là tiếng Việt thuần túy, với “tiết canh” và “bồ dục” là hai món trong thịt lợn
  • Câu đối viết hộ người con rể khóc ông bố vợ, lúc ông bố vợ chết mới thọ được 68 tuổi:
Khi ông sống, ông đẻ anh, ông đẻ chị, ông đẻ vợ tôi, nay được sáu tuần thêm tám lẻ
Giờ ông chết, ông bỏ cửa, ông bỏ nhà, ông bỏ bà lão, ai ngờ một phút hoá trăm năm
  • Câu đối làm giúp ông hàng gà, khóc vợ vừa qua đời:
Lồng tạo hóa úp rồi xao xác con tìm mẹ
Gánh giang san để lại, lục tục trống nuôi con
Các từ lồng, úp, gánh đã tạo nên trường nghĩa chỉ các vật dụng và hàng động của người làm nghề buôn gà. Hơn nữa cụm từ “lục tục con tìm mẹ” vừa chỉ cảnh con nhà hàng gà mất mẹ, vừa gợi tiếng kêu của bầy gà con lạc mẹ cù bất cù bơ,... “trống nuôi con” là cảnh cha nuôi con thay mẹ, lại gợi chuyện của...gà!
  • Câu đối viết cho người góa phụ có chồng làm nghề đánh trống đám ma:
Hu ta tồ hề, tòng Xích Tùng chi tung tịch cốc (Ôi thôi người đã đi về. theo dấu chân tiên Xích Tùng mà bỏ thóc gạo nơi dương thế)
Phu nhi trĩ hĩ, trắc hỗ sơn chi trắc trùng bi Thế là thoả lòng lắm lắm, trèo lên sườn núi cao càng gấp thêm những nỗi buồn đau)
  • Câu đối viết hộ một ả đào thờ Bà Trùm (ta vẫn gọi là mụ Tú Bà):
Giàu làm kép hẹp làm đơn, tống táng cho yên hồn phách mẹ
Cá kể đầu rau kể mớ, tình tang thêm tủi phận đàn con
Ở đây Nguyễn Khuyến đã dùng những tiếng: “ Kép, đầu, tống táng, tình tang, phách đàn …” để tả nghề hát ả đào
  • Câu đối làm cho một góa phụ láng giềng làm nghề bán thịt khóc chồng và con trai đi chợ bị đắm đò chết cùng một lúc:
Con ơi con! Những mong con kinh sử dùi mài, ơn phụ mẫu nỡ dứt tình xương thịt
Chàng hỡi chàng! Sao bội ước hải sơn chan chứa, nghĩa phu thê càng đứt cả ruột gan
  • Câu đối viếng người Thợ Rèn chết trẻ, để lại vợ góa con côi:
Nhà cửa để lầm than, con thơ dại lấy ai rèn cặp
Cơ đồ đành bỏ bễ, vợ trẻ trung lắm kẻ đe loi
Trong hai vế đối này, nhà thơ đã dùng những tiếng: than, rèn, cặp, bễ, đe, loi…là những dụng cụ cần thiết trong nghề thợ rèn
  • Câu đối viết cho vợ anh Thợ Nhuộm khóc chồng:
Thiếp kể từ lá thắm xe duyên, khi vận tía lúc cơn đen, điều dại điều khôn nhờ bố đỏ
Chàng ở dưới suối vàng nghĩ lại, vợ má hồng con răng trắng, tím gan tím ruột với ông xanh
câu đối trên có đủ thứ màu cần thiết cho nghề thợ nhuộm: Thắm, Tía, Đen, Điều, Đỏ và Vàng, Hồng, Trắng, Tím, Xanh
  • Gần Tết, có một anh đến xin cụ Nguyễn Khuyến đôi câu đối về thờ ông. Sau khi đặt cơi trầu lên bàn, anh ta lễ phép thưa: "Cháu kiếm một cơi trầu đem biếu cụ để xin đôi câu đối thờ ông". Nghe xong cụ vừa cười vừa bảo: "Anh chẳng phải xin vì chính anh đã tự làm câu đối rồi đó". Anh này ngơ ngác chẳng hiểu nên cụ bảo: "Để tôi nhắc lại câu anh vừa nói, câu này chỉnh lắm, vừa nôm na dễ hiểu vừa thể hiện được tấm lòng chân thành của anh. Để tôi ghi nguyên văn câu anh nói rồi đem về thờ".
Kiếm một cơi trầu thưa với cụ
Xin đôi câu đối để thờ ông
  • Câu đối tặng người học trò đi làm quan cho Tây:
Hay thật là hay đáo để, bảo một đàng quàng một nẻo
Thôi thế thời thôi cũng được, phi đằng nọ tắc đằng kia
  • Câu đối dán trước của nhà:
Người nước Nam, hỏi tiếng Tây chẳng biết tiếng Tây, hỏi tiếng Tàu chẳng biết tiếng Tàu, cho nên phải “minh tiên vương chi đạo dĩ đạo” (làm sáng đạo của tiên vương để mà noi theo)
Nhà hướng Bắc, người chưa rét thì mình đã rét, người chưa bức thì mình đã bức, mới gọi là “tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu” (lo trước điều lo của thiên hạ)
  • Câu đối dán ngoài cổng:
Không tham không hãi, không dại không lo, không cứng cổ không to khí tượng
Có phúc có phần, có nhân có nở, có lọt lòng có nợ quân thân
  • Câu đối viếng một ông kỳ mục trong làng vừa lên lão được ít bữa đi tắm bị chết đuối:
Vừa mới họp việc làng, mặc áo địa, cầm quạt lông, đủng đỉnh coi như ra dáng nhỉ
Thế mà chết đầu nước, lấp ván thiên, vùi đất thịt, viếng thăm thì đã đứt đuôi rồi
  • Hai câu đối tặng một ông quan võ tên là Quản Long, tuy chột một mắt nhưng vốn nổi tiếng dũng cảm trong các trận chiến đấu chống Pháp:
Cung kiếm ra tay, thiên hạ đổ dồn hai mắt lại
Rồng mây gặp hội, anh hùng chỉ có một ngươi thôi
Tài cung kiếm đã ra tay chiến đấu thì cả thiên hạ phải trố mắt ra. Nhìn trong triều đình chỉ có mình nhà người là bậc anh hùng. Nhưng nghĩa bóng còn có ý cả triều đình chỉ có mình ông bị chột mắt, chỉ còn có một con ngươi.
Bình tây sát tả thiếu chi người
Ngó lại anh hùng chỉ một ngươi
  • Câu đối mừng ông Tiên Chỉ:
Đám công danh có chí thời nên, ơn làng giấy trắng, ơn vua giấy vàng, chiếu trung đình ngất ngưỡng ngồi trên, ngôi tiên chỉ cũng rất là đáng
Nhờ phúc ấm sống lâu lên lão, anh cả bàn năm, anh hai bàn sáu, đoàn tiểu tử xênh xang múa trước, tranh tam đa ai khéo vẽ nên

Câu đối viết tặng những nhân vật thân Pháp[sửa]

  • Câu đối mượn tiếng tặng người quen để mỉa mia những nhân vật làm việc cho chính quyền Pháp:
Có hay chi “cõng rắn cắn gà nhà”, phong lưu chú Bát, phú quý dì Tư, mây nổi đã từng qua trước mắt
Thôi đừng có “rước voi giày mả tổ”, sự nghiệp bà Bông, thơ từ ông Húng, gió bay đành lẽ gác ngoài tai
Chú Bát là ẩn danh của Nguyễn Trọng Kim, thường gọi là Thương Kim vì y làm Thương biện Hà Nội, đi lại với Tây, nên chúng cho hàm “bát phẩm bá hộ” có sản nghiệp hàng Khay, tương truyền là bá hộ Kim xây tháp rùa để mả. Dì Tư tức cô Tư Hồng. Bà Bông là vợ kế của Hoàng Cao Khải, ám chỉ việc Hoàng Cao Khải làm tiểu phủ sứ đánh Đề Thám, mất ấn, sau phải sai vợ đến ở trong trại một lãnh tụ là Thân Đức Luận để đánh lừa lấy trộm ấn về. Ông Húng tức Phạm Văn Toán, người làng Yên Lăng (nay là ngoại thành Hà Nội) sản xuất rau húng, hay làm thơ, nhờ khéo nịnh Tây mà leo lên đến chức tổng đốc Nam Định. Vì y dốt mà lại sính làm thơ nên Nguyễn Khuyến mới mỉa là “thơ từ ông Húng”.
  • Những câu đối viết cho Tổng Đốc Hà Đông Hoàng Cao Khải (1850 - 1933):
Hoàng Cao Khải

Hoàng Cao Khải nguyên danh của ông là Hoàng Văn Khải, tự Đông Minh, hiệu Thái Xuyên, quê ở làng Đông Thái (nay thuộc xã Tùng Ảnh), huyện La Sơn (nay là huyện Đức Thọ), tỉnh Hà Tĩnh. Đỗ cử nhân ân khoa 1868 (cùng khóa thi với anh ông Phan Đình Phùng tên là Phan Đình Thuật, Phan Đình Phùng năm 1876 mới đậu ở Trường Thi, Nghệ An) năm Tự Đức thứ 21 (1868), cùng được bổ làm huấn đạo huyện Thọ Xương, sau làm giáo thụ ở phủ Hoài Đức (Hà Tây). Trước khi Pháp chiếm Bắc Kỳ, ông lần lượt giữ các chức vụ Tri huyện Thọ Xương rồi thăng quyền Án sát Lạng Sơn, quyền Tuần phủ Hưng Yên. Năm 1884, Pháp chiếm Bắc Kỳ, trong khi các phòng trào chống Pháp nổi dậy thì ông lại hợp tác với Pháp để đàn áp các phong trào nghĩa quân chống Pháp. Tháng 1 năm 1887, quyền Tuần phủ Hưng Yên, Hoàng Cao Khải được vua Đồng Khánh cho thực thụ Tuần phủ, gia hàm Thự lý Tổng đốc, nhưng vẫn lãnh Tuần phủ kiêm Tiễu phủ sứ ba tỉnh Hải Dương, Bắc Ninh, Hưng Yên, đặc biệt tham gia đàn áp khốc liệt cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy. Năm 1888, ông được thăng làm Tổng đốc Hải Dương, rồi làm Khâm sai Kinh lược Bắc Kỳ, tước Duyên Mậu quận công (1890), đây là biệt lệ vì quan lại triều Nguyễn chỉ được phong quận công khi đã mất, ban cho thực ấp Thái Hà. Năm 1894, theo lệnh của toàn quyền De Lanessan, ông viết thư dụ hàng Phan Đình Phùng, nhưng bị cự tuyệt. Năm 1897, Nha Kinh lược Bắc Kỳ bị bãi bỏ, Hoàng Cao Khải được điều về Huế lãnh chức Thượng thư Bộ Binh và làm phụ chính đại thần cho vua Thành Thái, hàm Thái tử Thái phó, Văn minh điện Đại học sĩ. Như vậy, Hoàng Cao Khải là viên Kinh lược sứ Bắc Kỳ cuối cùng của triều Nguyễn. Năm 1904 khi tỉnh Cầu Đơ được đổi tên là Hà đông, ông làm Tổng đốc tỉnh Hà Đông, giúp Thống sứ Bắc Kỳ soạn Nghị định về tổ chức bộ máy quản lý cấp xã ở Bắc Kỳ. Về sau con trai ông là Hoàng Trọng Phu kế nhiệm ông làm Tổng đốc Hà đông đến năm 1937. Ông về hưu tại Ấp Thái Hà, huyện Hoàn Long, tỉnh Hà đông nay thuộc phường Trung Liệt, quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội và mất tại đây. Ngày 6 tháng 5 năm 1922, Hội Thanh niên Việt Nam (Foyers de la Jeunesse Annamite) được thành lập, Hoàng Cao Khải cùng Thống sứ Bắc Kỳ Monguillot làm đồng Chủ tịch Hội, Chánh mật thám Pháp Marty làm Chủ tịch danh dự. Đương thời các dĩ phu Hưng Yên có làm đôi câu đối chửi khéo ông như sau:

Ông ra Bắc là may, chức Kinh lược, tước Quận Công, bốn bể không nhà mà nhất nhỉ!
Ông về Tây cũng tiếc, trong triều đình, ngoài chính phủ một lòng với nước có hai đâu?
"Bốn bể không nhà" là ý nói mất gốc; "ông về Tây cũng tiếc": chính nghĩa nói là đi về cõi Tây Trúc, Tây Thiên, âu cũng thiệt thòi nhưng thực ra là nói người Tây tiếc vì mất đi tay sai đắc lực. Còn như "một lòng với nước có hai đâu" chính là một mình ông trung với nước, không có người thứ hai nhưng thực là mỉa có hai nước (nước Nam, nước Tây), ông trung với nước nào?

1 - Câu đối giăng bẫy:

Có một lần, vào cuối năm, Hoàng Cao Khải nhân có việc phải đến Hà Nam, bèn nhắn cho Nguyễn Khuyến biết sẽ ghé thăm, vì Nguyễn là gia sư nhà Hoàng. Biết thế, nên Nguyễn mới bảo người nhà trồng một cây nêu cao có treo đèn lồng và một câu vế đối Tết như sau:

Kết kết can mao, tiết táo, kinh thiên phù nhập nguyệt (Chót vót cờ mao, Tết đến, chống trời phò nhật nguyệt)
Khi Hoàng Cao Khải tới, nhìn thấy vế đối thì tấm tắc khen hay, nhưng thắc mắc sao chỉ có một vế, nên yêu cầu Nguyễn Khuyến cho xem vế sau.
Nguyễn mới dẫn Hoàng xuống nhà bếp chỉ cho xem vế đối treo cạnh nhà bếp: Mang mang khôi thổ, thời lai, tảo địa tác quân vương (Mênh mông khối đất, được thời quét rác cũng làm vua).
Hoàng đọc xong, miệng tuy khen hay, nhưng trong lòng ấm ức vì bị Tam Nguyên giăng bẫy.

2 - Câu đối mừng Tân Ấp:

Len vai để đệ một làng quan, nào giầy, nào dép, nào ngựa, nào xe, nào nước cờ chén rượu, nào mảnh hát cung đàn, thú tự nhiên đặt sẵn gió trăng này, dẫu tử mạch hồng trần nhưng chẳng tục
Mở mặt giang san trong đất nước, có quán có cầu, có chợ, có chú Khách ông Xiêm, có kẻ thầy người thợ, kho vô tận của chung trời đất cả, lọ hoa viên thú uyển mới là xuân
Hoàng Cao Khải lập ra ấp Thái Hà, thuộc khu Đống Đa – Hà Nội bây giờ. Khi Hoàng Cao Khải xây dựng ấp, ý kêu gọi một số quan lại cùng làm nhà ở ấp ấy, lập thành một làng
  • Những câu đối mừng cô Tư Hồng:

1 - Trường hợp thứ nhất:

Có tàn, có tán, có hương án thờ vua, danh giá lẫy lừng băm sáu tỉnh
Nào biển, nào cờ, nào sắc phong cho cụ, chị em hồ dễ mấy lăm người
Tư Hồng tên thật là Trần Thị Lan, quê ở Phủ Lý ( Hà Nam) lấy người Hoa Kiều là chú Hồng ở Hải Phòng, sau lấy người cố đạo phá giới là Croibier Huguet (còn gọi là cố Hồng). Cô Tư Hồng đã nhận đứng thầu phá nốt những mảnh tường thành Hà Nội lấy gạch xây nhà cho thuê nhờ thế mà trở nên giàu có. Hà Nội thời đó nhiễu nhương, không thiếu gì cơ hội và công việc lớn. Lúc ấy chính quyền thuộc địa đang dần dần thi hành chương trình mở mang Hà Nội. Cô Tư hơi tinh mắt, trông thấy thời cơ dễ làm giàu như thế, nên chuyên tâm chú ý. Năm 1898, chính quyền thuộc địa làm theo chương trình kiến thiết định sẵn, bỏ thầu phá thành Hà Nội làm đất bằng. Giới thầu khoán xứ Bắc, ngơ ngác, nhảy dựng cả lên, như đã ngồi phải ổ kiến lửa, không ngờ cái việc khó khăn mà chắc chắn phát tài ấy lại lọt vào tay một người đàn bà. Việc thầu khoán phá thành đã đặt vào tay cô Tư một mối phát tài to. Cô Tư Hồng có sự tính toán thật khôn ngoan. Một công hai việc: Vừa dọn thành xưa, vừa xây nhà mình. Thì ra những viên gạch cạy gỡ ở bức cổ thành kia không phải là vật đáng bỏ đi, vô dụng. Giữa lúc vất vả dọn thành cứ dọn, cô vẫn lo tậu đất làm nhà. Những viên gạch nào nậy ở thành ra còn nguyên lành, cô đem dùng vào việc xây nhà cất phố. Cô Tư Hồng mua đứt xóm Đông môn (cửa Đông ngày nay) với giá một xu một thước. Tiền có, đất rẻ, gạch kia tha hồ; lúc bốn vách thành Hà Nội ngã xuống sát đất tức là lúc mấy dãy nhà mới của cô Tư Hồng ở mặt đất mọc lên. Năm 1901, người ta thấy công cuộc phá thành vừa hoàn hảo thì một dãy nhà mới ở phố cửa Đông Gesnee al Bichot cũng tạo lập gần xong. Lại xây thêm một dãy khác ở Hàng Da, cả thảy tám căn. Những dãy nhà kia so với phố xá bây giờ chẳng thấm vào đâu, nhưng một thế kỷ trước, người làm chủ nó đã nổi tiếng là lộng lẫy và được coi là một đại phú gia. Đó chỉ là một phi vụ của Tư Hồng. Người đàn bà này vốn là một thôn nữ quê mùa, nhưng sa ngã vào những thói hư tật xấu của thời phong kiến nửa thuộc địa. Bà hết qua tay chồng Tàu lại ngả vào vô số chồng Tây, dùng thân xác và “mỹ nhân kế” để kiếm ăn, rồi thành một con buôn không từ bỏ một thủ đoạn nào kiếm lợi, từ ép giá lúa gạo toàn Việt Nam đến thầu phá thành Hà Nội.

2 - Trường hợp thứ hai:

Về sau Tư Hồng buôn gạo lậu thuế bị bắt, nói dối là đem phát chẩn, được bọn thực dân đề nghị với triều đình phong kiến cho thị hàm “Tứ phẩm cung nhân” và cho cả bố thị hàm Thi độc. Tư Hồng về làng ăn khao linh đình, được Nguyễn Khuyến mừng đôi câu đối:

Tứ phẩm sắc phong hàm cụ lớn
Trăm năm danh tiếng của bà to

3 - Câu đối chúc Tết:

Mở toang ra, toác toạc toàng toang, nền tạo hóa chia lìa đôi mảnh
Khép kín lại, khít khịt khìn khin, máy âm dương đưa đẩy một then
Câu đối này có thể hiểu hai lối. Hiểu theo nghĩa thanh, câu đối nói tới sự chuyển vận tuần hoàn biến hóa của vũ trụ thiên nhiên. Hiểu theo nghĩa tục, câu đối nói tới các “động tác nghề nghiệp” của cô Tư Hồng. Câu đối này còn đặc biệt ở chỗ đã dùng các tiếng láy rất là bình dân trong cả hai vế, “toác toạc toàng toang” và “‘khít khịt khìn khin” (có tài liệu chép là “khìn khin khít khịt”), để diễn tả hai trạng thái rộng hay lỏng (toác toạc toàng toang) và hẹp hay chật (khít khịt khìn khin). Và đặc điểm này cũng có thể hiểu theo nghĩa thanh hay nghĩa tục

4 - Câu đối trong trường hợp khác:

Thầy Bá Bưởi đi xuống cầu Chanh, đồ đề chi mà bưng bồng kín mít
Cô Tư hồng ở làng cầu Cậy, nhân duyên gì mà quấn quít cho cam

Câu đối của Phụ Chính Đại Thần Tôn Thất Thuyết (1835 - 1913)[sửa]

Chân dung Tôn Thất Thuyết

Tôn Thất Thuyết là con thứ hai của Đô đốc Tôn Thất Đính. Quê ông ở Xuân Long, Thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên. Ông là hậu duệ của Hiền Vương Nguyễn Phúc Tần thuộc dòng tộc Nguyễn Phúc ở Huế. Năm 1869, làm án sát Hải Dương, rồi Tán tương Quân thứ Thái nguyên rồi Tán lý quân thứ Sơn Hưng Tuyên. Năm 1873, cùng quân Cờ đen của Lưu Vĩnh Phúc đánh Pháp ở Ô Cầu Giấy, giết được sĩ quan chỉ huy Pháp Gacniê (F. Garnier). Năm 1875, ông chiến thắng ở Tây Sơn, bắt sống tướng giặc Cờ Vàng là Hoàng Sùng Anh. Ông được phong làm Hữu Tham tri bộ Binh, tước Nam. Đến năm 1881, ông làm Thượng thư bộ Binh , sau vua Tự Đức mất (1883), ông làm phụ chánh đại thần. Cùng Nguyễn Văn Tường phế vua Dục Đức (Nguyễn Phúc Ưng Châu) lập vua Hiệp Hòa (Nguyễn Phúc Hồng Dật), nhưng mới được 4 tháng, ông và Tường lại mưu giết Hiệp Hòa ngày 29-11-1883, đưa vua Phúc Kiến (Nguyễn Phúc Ưng Đăng) lên ngôi. Nhưng chỉ được 8 tháng, Kiến Phúc mất vào ngày 31-7-1884, ông lập em Phúc Kiến là Ưng Lịch lên ngôi tức Hàm Nghi. Từ đây ông ráo riết chuẩn bị chống Pháp, De Courty rất căm ghét muốn hại ông, nhưng không được. Ngày 4-7-1885, Tôn Thất Thuyết chủ động tấn công Pháp ở Huế nhưng thất bại. Sau đó, rước vua Hàm Nghi ra sơn phòng Quảng Trị, rồi Quảng Bình, Hà Tĩnh mở đầu phong trào Cần vương kháng Pháp. Năm 1886, ông để lại hai người con là Tôn Thất Thiệp và Tôn Thất Đàm phò vua Hàm Nghi, ra Miền Bắc rồi sang Trung Quốc (1887) cầu viện, nhất thời có một số kết quả, nhưng sau đó triều đình nhà Thanh thoả hiệp với Pháp quản thúc ông ở Long Châu rồi Thiều Châu và mất ở đó, thọ 78 tuổi. Gia đình ông từ cha mẹ, vợ đến các em, các con, kể cả con rể (Nguyễn Thượng Hiền) đều giàu lòng yêu nước, chống Pháp. Tương truyền, sau khi Tôn Thất Thuyết nghe tin thành Hà Nội bị quân Pháp chiếm, ông đã gửi đôi câu đối viếng Tổng Đốc Hoàng Diệu đã tuẫn tiết giữ thành như sau:

Nhất tử thành danh tự cổ anh hùng phi sở nguyện (Tử mà thành danh, chí anh hùng từ xưa thường không toại)
Bình sinh trung nghĩa đương niên đại cục khả vô tâm (Sinh trọn trung nghĩa, nhìn đại cục có thể chẳng thẹn tâm)
Hoàng Diệu tên thật là Hoàng Kim Tích, sau mới đổi là Hoàng Diệu, tự là Quang Viễn, hiệu Tỉnh Trai. Theo phả họ Hoàng thì Hoàng Diệu gốc từ Huệ Trì, huyện Quang Minh, phủ Nam Sách, đạo Hải Dương. Cụ tổ vốn họ Mạc, do trốn chạy chính quyền Lê Trịnh nên di cư vào lập nghiệp ở vùng Kỳ Lam truyền được mười đời, ông là đời thứ 7. Hoàng Diệu sinh ngày 10 tháng 2 năm Mậu Tý (1828), trong một gia đình có truyền thống nho giáo tại làng Xuân Đài, huyện Diên Phước, tỉnh Quảng Nam (nay là huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam). Gia đình ông có 7 anh em và họ đều nổi tiếng là những người thông minh trong vùng. Sử chép rằng gia đình Hoàng Diệu có một người đỗ phó bảng, ba người đỗ cử nhân, hai người tú tài trong các kỳ thi dưới thời vua Tự Đức. Năm 20 tuổi ông đã đồng đỗ Cử nhân với anh trai Hoàng Kim Giám (khi ấy 23 tuổi) khoa Mậu Thân (1848) trong khoa thi Hương tại Thừa Thiên, năm 25 tuổi đỗ Phó bảng khoa Quý Sửu (1853). Năm 1851, ông được vua Tự Đức bổ nhiệm làm Tri huyện Tuy Phước rồi Tri phủ Tuy Viễn (Bình Định). Năm 1873 ông được triệu về kinh đô Huế giữ chức Tham tri Bộ Hình rồi Tham tri Bộ Lại, kiêm quản Đô Sát Viện, dự bàn những việc ở Cơ Mật Viện. Năm 1878, đổi làm Tuần phủ Quảng Nam, thăng Tổng đốc An Tịnh (Nghệ An và Hà Tĩnh ngày nay), nhưng vì nguyên Tổng đốc Nguyễn Chính vẫn lưu nhiệm nên ông ở lại Huế, làm Tham tri Bộ Lại (Thực lục của Cao Xuân Dục). Chẳng bao lâu sau, ông được sung chức Phó Toàn quyền Đại Thần đàm phán với Sứ thần Tây Ban Nha một hiệp ước giao thương. Đầu năm 1880, ông làm Tổng đốc Hà Ninh, lãnh chức hàm Thượng thư bộ Binh, kiêm quản cả việc thương chính. Ông đã chỉ đạo quân dân Hà Nội tử thủ chống lại quân đội Pháp, bất chấp triều đình Huế đã chấp nhận đầu hàng. Ngày 25 tháng 4 năm 1882 (tức ngày 8 tháng 3 năm Nhâm Ngọ), thành Hà Nội thất thủ, Hoàng Diệu đã tự vẫn tại Võ Miếu để không rơi vào tay đối phương. Ông được thờ tại đền Trung Liệt ở thủ đô Hà Nội cùng với danh tướng Nguyễn Tri Phương.

Những câu đối liên quan đến Ông Nghè Giao Cù Vũ Văn Lợi (1836 - 1884)[sửa]

Vũ Văn Lợi còn gọi là Võ Hữu Lợi, quê xã Giao Cù, huyện Nam Chân, tỉnh Nam Định (nay là thôn Giao Cù, xã Đồng Sơn, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định). Năm Canh Ngọ (1870), ông đỗ Cử nhân, năm Ất Hợi (1875), ông đỗ Tiến Sĩ, tục gọi là ông Nghè Giao Cù (vì quê ông ở làng Giao Cù). Ông làm Đốc học tỉnh Nam Định. Sau khi Pháp chiếm Bắc Kỳ, ông bỏ quan về khởi nghĩa chống Pháp bên cạnh Nguyễn Quang Bích và các sĩ phu yêu nước dưới cờ Cần vương chống Pháp. Ít lâu, ông bị Tổng đốc Nam Định Võ Văn Báo lừa đem nộp cho Pháp. Ông bị chúng xử ở chợ Nam Định trong đêm 30 tết năm Giáp Thân (1884), hưởng dương 48 tuổi. Trong số các học trò cũ của ông có Đinh Quang Nhường chỉ huy nghĩa quân, sau bắt được Võ Văn Báo đem đốt sống trả thù cho ông.

  • Trước khi lâm hình Vũ Văn Lợi có ngâm nga:
Võ vô dụng địa tương thùy thích? (Võ không còn đất đi đâu được?)
Sự đại như thiên nại nhĩ hà? (Việc lớn như trời biết tính sao?)
  • Vì sợ uy thế người Pháp, nên bạn bè và học trò không ai dám đến lo ma và phúng viếng, chỉ duy nhất Tam Nguyên Yên Đổ có câu đối:
Vị tiệp thân tiên, trường xử anh hùng lệ mãn (Ra quân chưa báo tin thắng, mà đã chết, khiến người anh hùng đầy nước mắt)
Tịnh du nhan hậu, khẳng giao phu tử sinh hoàn (Những bạn ông đều xấu hổ, dầy mặt, nghĩ như ông, chết là phải không nên sống)
Vế trên lấy chữ trong Đường thi bài: Đỗ Phủ đề đền Gia Cát Võ Hầu: "Xuất sư vị tiệp thân tiên tử, trường xử anh hùng lệ mãn khâm". Lấy câu trên bốn chữ, câu dưới bỏ đi một chữ khâm. Vế dưới sử dụng từ ngữ từ Tống thi bài: Đường Giới phải đi đày lại được về: "Tịnh du anh tuấn nhan hà hậu, vị tử gian du cốt vị hàn, thiên vị ngô hoàng phù xã tắc, khẳng giao phụ tử bất sinh hoàn". Lấy câu đầu bốn chữ, câu cuối cùng bớt đi một chữ bất.

Những câu đối liên quan đến Hồng Y Liệt Nữ Lê Thị Miên (1836 - 1908)[sửa]

Bà Ba Cai Vàng, tên thật là Lê Thị Miên, còn được gọi là Yến Phi, biệt biệu Hồng Y liệt nữ; là vợ ba của Cai Vàng, thủ lĩnh cuộc nổi dậy chống lại nhà Nguyễn vào năm 1862-1864, dưới thời vua Tự Đức tại miền Bắc Việt Nam. Quê bà ở thôn Đại Trạch, xã Đình Tổ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Tương truyền, trong một ngày hội Lim, có một công tử đang giỡ trò thô lỗ trêu ghẹo những cô gái quê. Bất bình, một chàng trai trẻ xông tới tung quyền cước khiến người vị công tử ngã sóng soài trên mặt đất. Lập tức, những người theo hầu ùa tới. Thất thế, chàng trai vội nhảy phốc lên con ngựa của mình rồi phóng đi mất dạng...

  • Đối đáp với Tổng Thịnh:

Giữa thế kỷ 19, trên bầu trời Việt Nam xuất hiện sao chổi, kéo theo hạn hán mất mùa nhiều năm liền, dân tình đói khổ, nhiều nơi trong nước nổi lên chống lại triều đình. Trong số đó nổi tiếng hơn cả có Nguyễn Văn Thịnh tức Cai Tổng Vàng (còn gọi là Cai Vàng), người xã Vân Sơn, huyện Phượng Nhỡn, Kinh Bắc (nay thuộc xóm Kẻn, thôn Vân Sơn, xã Phương Sơn, huyện Lục Nam, Bắc Giang) Năm 1862 Cai Vàng khởi binh chống lại vua Tự Đức, thời đó trong nước lan truyền câu ca: "Trên trời có ông sao dài, ở vùng Kinh Bắc có Cai Tổng Vàng". Một lần, Cai Vàng mở hội vật, hội võ ở khắp nơi để tuyển người khoẻ mạnh xung vào nghĩa quân của mình. Trong một hội vật ở vùng Thiên Thai, Bắc Ninh có một đô vật nhỏ nhắn, khôi ngô tuấn tú, mặt hoa da phấn đã vật ngã nhiều đô vật sĩ nổi tiếng trong vùng, sắp chiếm giải nhất, thì trong là gián điệp của triều đình, nên nữ đô vật này và hơn 10 cô gái bạn của cô đều bị bắt giải về keo vật cuối cùng mái tóc của “đô” này bị xổ tung, hiện nguyên hình là một giai nhân. Nghi đó bản doanh, trình lên thủ lĩnh Cai Vàng. Cai Vàng cho nhốt riêng từng người qua đêm, sáng hôm sau đích thân ông thẩm vấn. Cô gái “đô vật” khai tên Lê Thị Miên, tự Yến Phi, con gái một ông đồ ở thôn Đại Trạch, xã Đình Tổ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Cai Vàng nói cô là con thầy đồ ắt phải biết chữ bèn ra câu đối: Cô Miên ngủ một mình

Vì đêm qua cô bị nhốt một mình ở trong rừng sâu, nên Cai Vàng mới nghĩ ra vế đối này. Nhưng vấn đề ở chỗ chữ "cô" là gái chưa chồng, đổi ra "cô" là cô đơn, một mình; chữ "Miên" là "dài" lại viết chữ "miên" là "ngủ" thành ra từ Hán Việt "cô miên" nghĩa nôm là "ngủ một mình", mà tai quái ở chỗ Miên lại chính là tên của cô gái này. Tổng Thịnh nghĩ chắc chắn cô gái không thể đối nổi.

Không ngờ cô gái đối ngay: Tổng Thịnh tóm nhiều đứa

Ông Cai Vàng tên "Thịnh" làm "cai tổng", thì "tổng" là "tóm", "Thịnh" là "nhiều", còn chữ "mình" thì cô đối bằng "đứa" mà lại rất phù hợp với tình thế lúc ấy. Cai Tổng Vàng cảm phục tài trí cô Miên, đã thu nạp làm… “vợ ba”, phong cho làm phó tướng.
Sau này có người là Võ Văn Hoa đối thêm được 2 câu nữa:
Hoàng Mai mai nở vàng (Hoàng Mai cũng có nghĩa là mai nở vàng)
Liên Hoa đội búp sen (Liên Hoa cũng có nghĩa là đội búp sen)
  • Người ta kể rằng, vì cô Miên không chịu lấy chồng,, nên có lần cô bị các nho sĩ làm thơ trêu ghẹo rằng: Lạnh lùng thay, giấc cô Miên/Mùi hương tịch mịch bóng đèn thâm u. Không chịu kém, cô Miên xướng trước một câu, thách ai đối được sẽ nhận người ấy làm chồng, nhưng rồi không một ai lên tiếng.
vế ra: Chưa chồng chơi chốn chùa chiền, chanh chua chuối chát chính chuyên chờ chồng
Câu đối này phải chờ mãi đến cuối năm 2013 sang đầu năm 2014 mới có ông Trường Văn Nguyễn Phước Thắng đối lại được như sau: Thủ thân thăm thất thiên thần, thi thông thư thạo thảo thuần thành thân
  • Câu đối đề tại miếu thờ:

Sau khi Tổng Thịnh bị trúng đạn chết, để trả thù cho chồng, mùa xuân năm 1864, Bà Ba Cai Vàng trực tiếp cầm quân đánh vào Nải Sơn (Kiến Thụy, Hải Phòng). Sau 22 ngày chiến đấu liên tục, hao quân hao tướng mà không thắng được, bà cho lui quân. Xét thấy, không còn đủ sức để tiến hành cuộc chiến đấu lâu dài được nữa, ngày 11 tháng 3 năm 1864, bà tổ chức lễ tế chồng cùng các thuộc hạ đã mất, rồi giải tán lực lượng...Theo truyền thuyết, Bà Ba Cai Vàng mai danh ẩn tích ở chùa Dặn (Đình Bảng, Bắc Ninh). Cũng có người cho rằng, bà đã vào tu tại chùa Hương nơi thôn Tứ Kỳ (nay là thôn Đại Trạch, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh), với pháp danh là Đàm Giác Linh. Tại chùa này, bà đã cho dựng miếu Âm Hồn để thờ chồng (Cai Vàng) và các cộng sự đã bỏ mình trong cuộc chiến vừa qua. Sau khi bà mất, nhân dân lập miếu thờ, hai bên cửa miếu có đề đôi câu đối sau:

Tiểu cát phục nhung y, kỵ mã huy kỳ, danh trấn anh hùng nhân Kinh Bắc (Thời trẻ mang giáp trụ, cỡi ngựa phất cờ, nức tiếng anh hùng miền Kinh Bắc)
Xuất gia quy thiền phái, chiêu kinh tịch kệ, giác chân đức độ Phật Như Lai (Xuất gia vào chùa thiền, tụng kinh đọc kệ, hiểu tường đức độ Phật Như Lai)

Những câu đối liên quan đến Tiến Sĩ Tống Duy Tân (1837 - 1892)[sửa]

Tốg Duy Tân người làng Bồng Trung tỉnh Thanh Hoá, năm Canh Ngọ (1870), ông đỗ cử nhân, đến năm Ất Hợi (1875), thì đỗ tiến sĩ. Bước đầu, ông được bổ làm Tri huyện, sau làm Đốc học Thanh Hóa rồi Thương biện tỉnh vụ.đỗ Tiến sĩ đời Tự Đức, làm đến Đốc học rồi cáo quan về. Tháng 7 năm 1885, hưởng ứng dụ Cần Vương, Tống Duy Tân được vua Hàm Nghi phong làm Chánh sứ sơn phòng Thanh Hóa. Sau đó, ông tham gia xây dựng chiến khu Ba Đình. Năm 1886, Tống Duy Tân và Cao Điển nhận lệnh của thủ lĩnh Đinh Công Tráng đến Phi Lai (Hà Trung, Thanh Hóa) lập căn cứ, nhằm hỗ trợ cho căn cứ chính là Ba Đình. Ngoài căn cứ Phi Lai trong sự nghiệp chung, Tống Duy Tân còn chuẩn bị lực lượng và căn cứ kháng Pháp ngay tại quê hương mình, đó là căn cứ Hùng Lĩnh, nằm ở vùng thượng nguồn sông Mã thuộc Vĩnh Lộc, Thanh Hóa. Đầu năm 1887, đông đảo quân Pháp kéo đến đàn áp dữ dội phong trào Cần Vương ở tỉnh này. Căn cứ Ba Đình và căn cứ Mã Cao nối tiếp nhau thất thủ. Sau đó, các thủ lĩnh lần lượt hy sinh (Đinh Công Tráng, Nguyễn Khế, Hoàng Bật Đạt), tự sát (Phạm Bành, Hà Văn Mao, Lê Toại), hoặc đi tìm phương kế khác (Trần Xuân Soạn). Trước tình thế hiểm nguy, Tống Duy Tân bèn mang quân chạy lên căn cứ Hùng Lĩnh, lập nên một trung tâm kháng chiến mới. Các cộng sự cùng theo có Cao Điển, Cầm Bá Thước, Hà Văn Nho,...Tuy nhiên, nghĩa quân Hùng Lĩnh chỉ mở được vài trận tập kích, thì bị thiếu tá Térillon dẫn quân đến vây đánh rất gắt. Xét thấy lực lượng Hùng Lĩnh vừa gầy dựng bị cô thế và yếu sức hơn, Tống Duy Tân bèn đi ra Bắc rồi Trung Quốc để gặp gỡ các sĩ phu yêu nước, tìm nguồn hỗ trợ và liên kết với các lực lượng kháng Pháp khác. Theo sử gia Phạm Văn Sơn thì Tống Duy Tân đã gặp Tôn Thất Thuyết tại Quảng Đông, và ông đã nghe theo lời vị tướng này trở về Thanh Hóa để tiếp tục công cuộc kháng Pháp. Đầu năm 1889, Tống Duy Tân về đến quê nhà. Sau khi tập hợp lại lực lượng, thì ông trở thành người chỉ huy chính của phong trào kháng Pháp tại Hùng Lĩnh ở thượng nguồn sông Mã (thuộc huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa). Từ nơi đó, ông cùng hai cộng sự là Cao Điển và Cầm Bá Thước cho quân mở rộng địa bàn hoạt động lên tận vùng hữu ngạn và tả ngạn sông Mã, đến hợp đồng chiến đấu với Đề Kiều-Đốc Ngữ ở vùng hạ lưu sông Đà, và với Phan Đình Phùng ở vùng rừng núi Nghệ An-Hà Tĩnh. Trong năm 1890, Tống Duy Tân đã tổ chức tập kịch nhiều trận. Đáng kể hơn cả là trận thắng lớn ở Vân Đồn (Nông Cống) và ở Yên Lãng (Xuân Yên-Thọ Xuân) bên tả ngạn sông Chu vào tháng 3 năm 1890, và trận Thanh Khoái xảy ra vào ngày 29 tháng 5 năm 1890. Bị thiệt hại đáng kể, quân Pháp bèn tập trung lực lượng mở cuộc truy quét quy mô nhằm tiêu diệt nghĩa quân Hùng Lĩnh. Đầu năm 1891, Tống Duy Tân cho chuyển quân từ An Lẫm (châu Thường Xuân) lên Lang Vinh (một làng Mường ở châu Thường Xuân). Hay tin, quân Pháp liền tổ chức tấn công. Mặc dù chống trả quyết liệt, nhưng cuối cùng ông cũng phải dẫn tàn quân rút về Hòn Mông, rồi về vùng Trịnh Vạn thuộc châu Thường Xuân (tức quê hương và là căn cứ của Cầm Bá Thước). Tháng 3 năm 1892, từ sông Đà, Đốc Ngữ dẫn quân vượt sông Mã vào Thanh Hóa. Sau khi bàn bạc, Tống Duy Tân và Đốc Ngữ cùng hợp quân đi tấn công quân Pháp ở hang Niên Kỷ (nay thuộc xã Thiết Ống, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa). Sau đó, ông về ẩn náu ở hang Niên Kỷ (nay thuộc xã Thiết Ống, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa). Chẳng lâu sau, Cao Ngọc Lễ (vừa là học trò cũ, vừa là cháu kêu Tống Duy Tân bằng cậu) đi mật báo cho Pháp đến bủa vây và bắt được Tống Duy Tân vào ngày 4 tháng 10 năm 1892. Không chiêu hàng được, Tống Duy Tân bị thực dân Pháp cho xử tử tại Thanh Hóa ngày 5 tháng Mười năm Nhâm Thìn (tức 23 tháng 11 năm 1892), lúc 55 tuổi.

  • Lúc Tống Duy Tân còn ở nhà dạy học có câu đối:
Cố bất như: sơn nhi bích, truyền nhi trì, vân thủy tiêu dao trần cảnh ngoại (Không gì bền bằng: lấy núi làm vách, lấy suối làm ao, mây nước nhởn nhơ ngoài cõi thế)
Duy kỳ hữu: dữu khả phong, đình khả nguyệt, cúc tùng tự tại cố châu trung (Chỉ riêng vui có: cửa sổ gió mát, ngoài sân trăng soi, cúc tùng thong thả chốn cố châu)
  • Trước ngày mất, Tống Duy Tân có làm đôi câu đối:
Nhị kim thủy liễu tiên sinh trái (Món nợ tiên sinh nay mới trả)
Tự cổ do truyền bất tử danh (Cái danh bất tử trước còn truyền)
  • Sau khi Tống Duy Tân thọ án, nhân sĩ tỉnh Thanh Hóa có làm câu đối phúng điếu như sau:
Tự cổ anh hùng, thiết thạch can trường nan tận tả (Từ trước anh hùng, dạ sắt gan vàng không xiết tả)
Đáo đầu sự thế, xuyên hà huyết lệ hạt năng lưu (Đến cùng sự thế, máu sông lệ suối chảy sao trôi!)

Câu đối liên quan đến Hàn Lâm Viện Thị Giảng Học Sĩ Trương Vĩnh Ký (1837 - 1898)[sửa]

Tên Trương Vĩnh Ký sinh tại ấp Cái Mơn, xã Vĩnh Thành, tổng Minh Lý, huyện Tân Minh, phủ Hoàng An, tỉnh Vĩnh Long (nay thuộc huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre). Vĩnh Ký là con thứ ba (sau một anh cả và một người chị) của Lãnh binh Trương Chánh Thi và bà Nguyễn Thị Châu. Tên Pétrus Ký do linh mục đặt năm 1843 (Ất Tỵ) ở trường dòng Sài Gòn. Các tên: Sĩ Tải, Chánh Ký là bút danh tự đặt. Danh hiệu Pétrus Ký từ 6 tuổi đầu đời đến 61 tuổi cuối đời năm 1898 (Mậu Tuất) và lưu truyền nhiều đời sau. Lúc 5 tuổi, Vĩnh Ký cùng anh trai là Trương Chánh Sử được đi học chữ Hán với một thầy đồ tên Học ở trong xóm dạy. Năm ông 8 tuổi, thân phụ ông được triều đình cử đi phò tá đoàn sứ thần sang Cao Miên (Campuchia ngày nay), rồi mất vì bệnh ở bên ấy. Thấy ông ngoan và cần mẫn, Cố Tám (một tu sĩ Công giáo từng được ông Thi che giấu lúc nhà Nguyễn cấm đạo gắt gao) đã khuyên mẹ ông cho ông đi học chữ Quốc ngữ và cải theo đạo Công giáo. Sau đó, ông có tên là Jean-Baptiste Pétrus Trương Chánh Ký, sau này đổi tên đệm là Pétrus Trương Vĩnh Ký, viết và gọi tắt là Pétrus Ký. Đến khi Linh mục Long từ Pháp sang, Cố Tám (ít lâu sau ông mất) cho Pétrus Ký theo hầu nhà truyền giáo này. Thấy ông thông minh và ham học, Linh mục Long đã tận tình dạy dỗ chữ Latinh, đồng thời dành riêng cho ông một chỗ ở trong nhà Giảng vừa mới thành lập ở Cái Nhum (1846). Năm 21 tuổi (1858), Trương Vĩnh Ký học xong và về nước đúng vào lúc mẹ ông qua đời. Năm 1861 Pétrus Ký thành hôn với bà Vương Thị Thọ (con gái ông Vương Tấn Ngươn, hương chủ làng Nhơn Giang [Chợ Quán] do Linh mục Đoan họ đạo Nhơn Giang mối mai) và dời về cư ngụ ở Chợ Quán, Sài Gòn. Từ năm 1866 đến 1868, ông được bổ làm Giáo sư dạy tiếng Pháp ở trường Thông ngôn Sài Gòn. Năm 1872, Pétrus Ký được Pháp thăng chức Tri huyện hạng nhất, đồng thời được bổ làm Đốc học (Giám đốc) trường Sư phạm dạy người Pháp học tiếng phương Đông, kiêm chức thư ký Hội đồng châu thành Chợ Lớn (1 tháng 6 năm 1872). Ngày 1 tháng 1 năm 1874, Pétrus Ký lãnh chức Giáo sư dạy chữ Việt và chữ Pháp cho người Pháp và người Tây Ban Nha tại trường Tham biện Hậu bổ (Collège des administrateurs stagiaires), rồi làm Chánh đốc học trường ấy, đồng thời lãnh chức Ủy viên thượng Hội đồng Giáo dục (17 tháng 11 năm 1874). Cũng trong năm này, Pétrus Ký được bình chọn đứng hàng thứ 17 trong 18 "Thế giới Thập Bát Văn Hào". Năm 1876, Thống đốc Nam Kỳ Duperré cử ông ra Bắc Kỳ tìm hiểu tình hình miền Bắc. Trương Vĩnh Ký được một nhà Nho (khuyết danh) tặng câu đối sau:

Bắc du phong độ nhan như ngọc (Cuộc đi chơi đất Bắc, dáng bộ ung dung, mặt đẹp như ngọc)
Tây vọng dung quang khí tự hồng (Trông về hướng tây, dung mạo sáng sủa, sắc khí tựa cầu vồng)
Trương Vĩnh Ký rất cảm động, nhưng sau đó, về nhà nghiền ngẫm mới biết nhà Nho kia xỏ xiên mình: Câu đối đó còn còn có nghĩa khác là “Chơi đất Bắc, phong độ nhẵn nhụi như đầu ngọc... hành. Hướng theo Tây, mặt mũi ngây ngô như tĩn con... lợn”. Năm 1886, Paul Bert (nghị sĩ, hội viên Hàn lâm, bác học gia sinh vật học) được cử sang Đông Dương làm Khâm sứ Trung Kỳ và Bắc Kỳ. Vốn là bạn từ trước, nên Paul Bert mời Trương Vĩnh Ký ra Huế giúp việc. Khoảng đầu tháng 6 năm ấy, Pétrus Ký ra Huế, được vua Đồng Khánh cho lãnh chức trong Cơ mật viện Tham tá, sung Hàn lâm viện Thị giảng học sĩ. Năm 1888, ông xuất bản tạp chí tư nhân Thông Loại Khóa Trình (Miscellanées) được 18 số (1888-1889). Cũng trong năm này, trường Thông ngôn đóng cửa, Pétrus Ký gần như thất nghiệp. Sống trong hoàn cảnh buồn bã, túng quẫn, bệnh hoạn luôn, Pétrus Ký qua đời vào ngày 1 tháng 9 năm 1898.

Câu đối liên quan đến Ngự Sử Lạc Tràng Vũ Duy Tuân (1840 - 1815)[sửa]

Vũ Duy Tuân người làng Lạc Tràng, tỉnh Hà Nam. Ông đỗ Cử nhân trường Hà Nội khoa Đinh Mão (1867), vào thi Hội khoa Mậu Thìn (1868), đỗ Phó bảng, làm quan dưới triều vua Tự Đức đến chức Ngự sử khi mới 29 tuổi. Vũ Duy Tuân xuất thân từ dòng họ nổi tiếng về truyền thống khoa bảng. Họ Vũ ở Lạc Tràng là một nhánh có gốc từ làng Mộ Trạch, xã Tân Hồng, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương. Ông tổ của họ Vũ là cụ Vũ Hồn, từng làm quan dưới triều nhà Đường (Trung Quốc) tới chức Lễ bộ Thượng thư Tả thị lang. Vì thương mẹ là người ở Hải Dương phải sống xa quê hương, cụ Vũ Hồn đã xin với vua Đường được từ quan để đưa mẹ về đất Việt phụng dưỡng. Trước tấm lòng hiếu thảo của cụ, Vua Đường chấp thuận, cụ đưa mẹ về làng Mộ Trạch lập ấp và chăm sóc tuổi già của mẹ. Sau này, con cháu của cụ Vũ Hồn có nhiều người đỗ đạt cao, giữ nhiều chức tước, đóng góp công sức vào sự nghiệp chống ngoại xâm, xây dựng và bảo vệ nền độc lập, tự chủ của đất nước từ các triều đại Lý, Trần, Lê…Noi gương tổ tiên, ông Vũ Duy Tuân đã làm rạng danh thêm cho dòng họ Vũ ở Lạc Tràng. Vua Tự Đức có thân mẫu là Từ Dụ Thái hậu, Vua rất có hiếu, thường quanh quẩn bên màn, sớm hôm hầu hạ, nên việc triều chính có phần trễ nải. Bên ngoài thì quân Pháp chỉ lăm le thôn tính, tình thế nước nhà ngàn cân treo sợi tóc. Có nhiều việc quan trọng, khẩn cấp cần phải tấu trình, Vũ Duy Tuân xin vào chầu mấy lần mà không được gặp, sau phải dâng sớ có câu: “Yến tước sử đường, mẫu tử tương hộ, hú hú nhiên kỳ tương lạc, tự dĩ vi an”. Nghĩa là: “Nhà cháy đến nơi mà mẹ con chim én, chim sẻ ở góc đầu nhà vẫn cùng mớm nhau, ra chiều vui vẻ, tự cho là yên ổn lắm”. Nhà Vua xem xong giận quá, châu phê bốn chữ “Tiến sỹ bất đệ” có ý mỉa mai rằng: Tiến sỹ cũng không đỗ được, còn làm nên trò trống gì mà cứ hay chỉ trích. Thấy lời tấu không được Vua chấp thuận, ít lâu sau ông dâng sớ xin Vua được từ quan. Khi từ giã triều đình, ông cho khắc bốn chữ “Tiến sỹ bất đệ” vào biển sơn son thếp vàng treo trên chỗ ngồi ngầm nói rằng: “Ở lăng miếu hay ở giang hồ, lúc nào cũng nhớ lời Vua quở trách, dù phi lý”. Thấy không tiện về quê, ông đến ở nhờ nhà một người bạn họ Lê quê làng Kim Lũ, huyện Thanh Liêm, rồi làm nghề dạy học ở đó. Ông mất năm 1915, thọ 75 tuổi.

  • Tương truyền, khi vào thi hội, các sĩ tử (đủ mặt cử nhân các trường Trung, Nam, Bắc) họp lại thử đoán xem đầu bài sẽ ra về vấn đề gì. Vũ Tuân nói: "Theo ngu ý, năm nay quân Pháp, ngoài sự khiêu khích ra, còn xây thành lũy ở khắp nơi, và đặt binh trại rải rác gần kinh thành, có ý nhòm ngó. Tôi chắc kỳ văn sách khoa này thế nào đức Kim thượng cũng hỏi về công thủ chi sách (kế sách đánh hay hoà), anh em nghĩ sao?" Cử toạ vỗ tay tán đồng, rồi bàn nhau nếu đầu bài đúng như thế sẽ nhất tề luận theo thế công, nhất quyết xin chủ trương đánh, để tỏ lòng bất khuất của sĩ phu. Khi vào trường thi, quả như lời họ Vũ đoán, kỳ văn sách ra đề về đoạn kim: "quân xâm lăng hiện nay càng ngày càng thêm gây hấn, đồn lũy khắp dân gian, vậy nên đánh hay nên hoà?" Sĩ tử thấy đầu đề đều khâm phục Vũ và cùng làm bài xin triều đình khởi thế công. Trong quyển văn của Vũ có câu: “Triều đình ủng bách vãn chi tinh binh, kiến nghĩa bất vi vô dũng dã”. (Triều đình hiện có sẵn trăm vạn quân lính tinh nhuệ, theo việc nghĩa thì nên đánh quân xâm lăng, thế mà không đánh thì thật là không dũng cảm chút nào). Vua Tự Đức phê vào bên câu này: "Kim nhật thỉnh chiến, minh nhật thỉnh chiến, chiến nhi bất thắng, tương trí trẫm ư hà địa?" (Hôm nay xin đánh, ngày mai xin đánh, nếu đánh mà thua, thì rồi đặt trẫm ở nơi nào?) Văn trường không trúng ý khảo quan, nên họ Vũ chỉ đỗ phó bảng. Trong bọn có cử nhân họ Dương, bội ước với anh em: khi họp bàn thì vâng vâng, dạ dạ: xin đánh; đến khi vào trường lại viết trái lại: xin hoà. Trúng ý quan trường, nên Dương được đỗ tiến sĩ. Dẫu sao, Vũ vẫn là người chiến thắng về sĩ khí, danh dự còn hơn đỗ tiến sĩ nhiều. Hết thảy sĩ tử Trung, Nam, Bắc hợp lại khen ngợi ông nhiệt liệt, rồi cùng nghĩ đôi câu đối mừng:
Minh đình sách vấn kiêm tam đối (Triều đình hỏi kế sách thì ông đối đáp được mọi điều)
Giáp đệ thâu nhân chỉ nhất hoà (Thế mà giáp đệ chỉ đỗ phó bảng, thua người khác chỉ tại một chữ hòa)

Câu đối của Bắc Kỳ Tán Lý Quân Vụ Nguyễn Cao (1840 - 1885)[sửa]

Nguyễn Cao sinh năm tại làng Cách bi, tức làng Gạch, huyện Quế Dương, tỉnh Bắc Ninh, học trò Hoàng giáp Phạm văn Nghị, sau giữ chức Tán tương quân vụ chống Pháp, nên thường gọi là Tán Cao. Cha là tri huyện Nguyễn Hành thất lộc sớm. Năm Nguyễn Cao được 12 tuổi, gửi xuống ở nhà học Tú tài Nguyễn Gia Chấp, xã Liễu Ngạn, phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Đến năm 20 tuổi, học đã đủ lối, Nguyễn tú tài mới cho xuống nhập môn Hoàng giáp Phạm văn Nghị ở Tam Đăng. Năm 28 tuổi, Cao đỗ thủ khoa Đinh Mão (1867). Ông được bổ làm tri huyện Yên Dũng, sau thăng tri phủ Lạng Giang. Lúc Pháp gây hấn ông giữ chức bang biện quân vụ. Rồi ông lên Bố chánh Thái Nguyên, được ít lâu xin đi khẩn hoang ở Nhã Nam. Năm Quý Mùi (1883) ông giữ chức Bắc kỳ tán lý quân vụ. Đến khi triều đính ký hoà ước với Pháp, ông lấy làm bất mãn, bèn treo ấn từ quan. Năm 1885, vua Hàm Nghi xuất bôn, xuống chiếu Cần Vương, Nguyễn Cao tìm đến chiến khu Bãi Sậy phụ lực với Nguyễn thiện Thuật, chuyên giữ việc huấn luyện chiến thuật du kích. Nghĩa quân do Nguyễn Cao chỉ huy thường đánh phá đồn Pháp, gây thiệt hại cho Pháp không ít. Sau Pháp phải dùng đại binh, hợp quân cùng lính của Hoàng cao Khải và Lê Hoan, thắt chặt vòng vây. Chủ tướng Nguyễn thiện Thuật chạy lên Thái Nguyên rồi thuận đường sang Trung Hoa. Nguyễn Cao tìm về nương náu tại làng Kim Giang, phủ Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông. Nguyễn Cao bèn mở trường dạy học trong làng, học trò đến học rất đông. Vốn người đạo đức, nên được khắp vùng kính nể như bậc phụ huynh. Một hôm có một nhà nho đến xin câu đối để mừng một ông đỗ tiến sĩ làm quan to, Nguyễn Cao viết:

大家積德百年而今也高名顯宦 Đại gia tích đức bách niên, nhi kim giã cao danh hiển hoạn (Nhà đại gia tích đức hàng trăm năm, nên ngày nay ông nghè được làm quan to nổi danh lừng lẫy)
聖朝開科取士所求乎子孝臣忠 Thánh triều khai khoa thủ sĩ, sở cầu hồ tử hiếu thần trung (Nhà vua mở khoa thi kén học trò, mong muốn rằng chọn được người làm con có hiếu, làm tôi phải trung)
Không ngờ ông Nghè cạn nghĩa cho rằng câu này dụng ý mỉa mai, bèn ngầm báo quan trên đến bắt họ Nguyễn về tội phản đối chính phủ Bảo hộ. Khi Nguyễn Cao bị bắt, học trò và cả dân làng Kim Giang, rủ nhau gom góp mỗi người một quan tiền xanh để lo lót cho Nguyễn, để Nguyễn được thả về. Về sau, đề đốc Nhung muốn lập công, lại báo bắt lần nữa. Dân làng lại bổ tiền như lần trước, mong để Nguyễn thoát nạn, song ông không muốn phiền lụy xa gần nhiều quá, tự ra xuất thú. Khi bị giải ra trước quan ta lẫn tây, trong đó có Hoàng cao Khải, hội đồng dụ dỗ nếu chịu ra làm quan sẽ bổ chức to và còn hậu đãi. Nguyễn Cao không chịu hàng, hội đồng lại cho đem khí cụ tra tấn ra để doạ nạt. Ông thò tay vào trong áo lấy mảnh sứ đã dấu sẵn. Rạch bụng, rút ruột ra vứt vào mặt họ Hoàng, rồi thống mạ thậm tệ, làm cho cử tọa vừa kinh hoàng vừa tức giận. Lát sau, ông cắn lưỡi tự tận.

Câu đối liên quan đến Diên Lộc Quận Công Nguyễn Thân (1840 - 1914)[sửa]

Nguyễn Thân tự Thạch Trì; là võ quan nhà Nguyễn và là cộng sự đắc lực của thực dân Pháp vào những năm cuối thế kỷ 19 tại Việt Nam. Quê gốc Nguyễn Thân là làng Thạch Trụ, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Cha là Nguyễn Tấn, một võ quan triều Tự Đức, nhờ dùng mưu kế, thu phục được các sắc dân ở Đá Vách (Quảng Ngãi). Tương truyền Nguyễn Tấn ăn đường Phèn, người Đá Vách tưởng ông ăn đá cuội, nên tôn ông làm "thần tướng". Sau, các bộ tộc này lại nổi dậy, triều đình sai Nguyễn Thân đi đánh dẹp, biết ông là con của "thần tướng", họ lui quân. Lập được công, Nguyễn Thân trở nên nổi tiếng. Khi vua Hàm Nghi ban bố dụ Cần Vương, Nguyễn Thân tham gia Nghĩa hội Quảng Ngãi. Nhưng sau khi suy tính thiệt hơn, ông phản lại Nghĩa hội để phục vụ cho vua Đồng Khánh đang hợp tác với thực dân Pháp. Vua Đồng Khánh sai Nguyễn Thân đem quân đàn áp cuộc khởi nghĩa ở Quảng Ngãi do Lê Trung Đình-Nguyễn Tự Tân chỉ huy (tháng 7 năm 1885), cuộc khởi nghĩa ở Bình Định (1885-1187) do Mai Xuân Thưởng lãnh đạo. Kể từ đó, Nguyễn Thân trở thành một tướng lĩnh quan trọng của triều vua Đồng Khánh đồng thời là cộng sự đắc lực, rất được Pháp tin cậy. Tháng 8 năm 1886, đánh dẹp cuộc kháng Pháp của Bùi Điền. Năm 1887, Nguyễn Thân Vào Quảng Nam đánh dẹp phong trào kháng Pháp của Trần Văn Dư, Nguyễn Duy Hiệu, Phan Bá Phiến. Thành công, được Pháp thưởng Bắc đẩu bội tinh ngũ hạng. Năm 1888: Được triều đình Huế cho lĩnh chức Binh bộ thượng thư, kiêm Tổng đốc Bình Định. Tại đây, Nguyễn Thân cho lính đàn áp các cuộc nổi dậy, được Pháp thưởng Bắc đẩu bội tinh tứ hạng. Năm 1895: Lĩnh chức Khâm mạng tiết chế quân vụ, đem ba ngàn quân ra Hà Tĩnh lùng diệt cuộc khởi nghĩa do Phan Đình Phùng lãnh đạo. Ở đây, Nguyễn Thân đã cho quật mồ Phan Đình Phùng, đổ dầu đốt cho xương thịt ông cháy thành tro, rồi trộn vào thuốc súng bắn xuống sông La. Nhờ công lao này, Nguyễn Thân được cử làm phụ chính đại thần, và được phong tước Diên Lộc Quận công. Sau Nguyễn Thân đến ở làng Thu Xà (nay thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi), sau bị bệnh điên mà chết. Tương truyền, có đoàn hát bội đã lợi dụng diễn tuồng, làm đôi câu đối hát để đả kích Nguyễn Thân như sau:

Đội mũ mang râu làm mặt lạ
Vác siêu khuân giáo đánh người quen

Những câu đối của Tam Nguyên Vị Xuyên Trần Bích San (1840 - 1877)[sửa]

  • Đối đáp với Linh Mục Trần Lục (1825 - 1899):

Trần Lục tên thật là Trần Văn Hữu, ông là người con thứ trong một gia đình nông dân, có bảy người con, năm trai hai gái. Thân phụ cậu là ông Trần Văn Nhu xuất xứ từ tỉnh Nam Ðịnh, còn thân mẫu cậu bản quán tỉnh Ninh Bình. Năm 15 tuổi (1840), cậu Trần Văn Hữu tạm biệt gia đình đi theo linh mục Trần Văn Tiếu làm đệ tử tại giáo xứ Bạch Bát. Năm 20 tuổi (1845), được Chúa kêu gọi, cậu lên đường vào Tiểu chủng viện Vĩnh Trị, đổi tên Hữu Thành Triêm để khỏi trùng với một học sinh khác. Sau 5 năm tu học, năm 25 tuổi (1850), tốt nghiệp tiểu chủng viện, thầy Trần Văn Triêm được gửi đi thực tập truyền giáo trong một số giáo xứ. Năm 30 tuổi (1855), với trí thông minh sâu sắc và lòng đạo đức khiêm tốn, thày Triêm được gọi về tiếp tục theo học Triết lý và Thần học tại đại chủng viện Kẻ Non, tỉnh Hà Nam và thụ phong Phó Tế. Hai năm sau (1857), con đường tu học của thày Triêm bị gián đoạn, vì thời gian này vua Tự Ðức cương quyết tiêu diệt đạo Công giáo trong khắp nước, một cuộc bách hại rùng rợn bắt đầu bùng nổ. Khi giải cứu cho Ðức Cha Khiêm (Jeantet) thầy bị bắt và đày lên Lạng Sơn. Tháng giêng 1860 thầy Triêm thụ phong linh mục ở Kẻ Trừ (ngay xưa có thói quen gọi linh mục và các Thầy Phó Tế, chức Sáu, là “Cụ” nên từ khi chịu chức Sáu và linh mục “chui” ờ Kẻ Trừ, để tránh tên bộ là Trần Lục, người ta goị tên nôm na vắn tắt là “Cụ Sáu” hoặc “Cụ Sáu Trần Lục”).

Trần Bích San tự: Vọng Nghi, hiệu: Mai Nham, được vua Tự Đức ban tên là Hy Tăng; ông là người ở xã Vị Xuyên, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định.Nay là phường Vị Hoàng, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định. Cha ông là Phó bảng Trần Đình Khanh tức Trần Doãn Đạt. Thuở nhỏ, Trần Bích San từng theo học Hoàng giáp Phạm Văn Nghị. Năm Giáp Tý (1864), ông đỗ đầu kỳ thi Hương. Năm sau, ông đỗ đầu thi Hội và thi Đình, cho nên người đương thời gọi ông là Tam nguyên Vị Xuyên. Hơn 10 năm làm quan dưới triều Tự Đức, ông lần lượt giữa các chức vụ: Tu soạn Viện Hàn lâm, Án sát Bình Định, Biện lý bộ Hộ, Tuần phủ Hà Nội...Trong khoảng thời gian ấy, có lần ông làm Phó chủ khảo trường thi Hương Thừa Thiên (1868). Khi ra đề thi gợi ý sĩ tử, ông nói trái luận điểm của Tự Đức (vì lúc này nhà vua đã nhượng bộ, thỏa hiệp với thực dân Pháp), do đó ông bị giáng chức. Năm Canh Ngọ (1870), ông cũng đã từng được cử đi sứ sang Trung Quốc. Năm Đinh Sửu (1877), ông được thăng Tham tri bộ Lễ, làm Chánh sứ sang Pháp. Chưa kịp đi, ông đột ngột mất ở Huế. Sau khi mất, Trần Bích San được thăng hàm Tham Tri.
Tương truyền khi Trần Bích San làm Tuần Phủ Hà Nội, Linh Mục Trần Lục mới được phong làm Khâm Sai Tuyên Phủ Sứ từ Phát Diệm lên thăm. Trong lúc trò truyện, muốn thử tài vị Tam Nguyên, Linh Mục Lục đưa ra một vế câu đối nói thác đi là đã nghe được muốn đối nhưng khó quá, nhân dịp gặp nhà đại khoa nhờ đối giùm. Vế ra như sau:
Ba cụ ngồi một cỗ, cụ đủ điều cụ chẳng sợ ai
Vế ra rất khó vì có tới 3 chữ “Cụ” với 3 nghĩa khác khau. “Cụ” là cụ đạo, tiếng gọi các Linh Mục ở miền Bắc, “Cụ” cũng có nghĩa là sẵn sàng, “Cụ” còn có nghĩa là sợ hãi. Ý và lời tỏ ra vừa ngạo mạn, vừa đắc ý của người đang gặp thời. Trần Bích San từ chối vì e rằng vế đối khiếm nhã. Linh Mục Lục cho rằng Trần Bích San không đối nổi nên càng nài ép, nại cớ đây là chuyện văn chương văn hành công khí, không có gì phải e ngại.
Trần Bích San lúc đó mới bèn ứng khẩu đối lại: Một đạo há hai đường, đạo trộm cắp đạo còn nói láo
Dùng chữ “Đạo” đối với chữ “Cụ” là tuyệt hay. Chữ “Đạo” cũng có 3 nghĩa: “Đạo” là cố đạo tiếng dùng gọi các Linh Mục, “Đạo” cũng có nghĩa là con đường, “Đạo” còn có nghĩa là trộm cắp. Ý và lời mỉa mai kẻ tu hành không giữ được đạo hạnh, xu thời theo thực dân Pháp không biết xấu hổ với đất nước mà còn lên mặt đắc chí.
  • Câu đối mang tính triết lý:
Văn vô sơn thủy phí kì khí (văn hay bởi khí hùng non nước)
Nhân bất phong sương vị lão tài (người gió sương thao lược mới già)

Câu đối của Thủ Khoa Nguyễn Hữu Huân (1841-1875)[sửa]

Nguyễn Hữu Huân sinh tại Định Tường, làng Tịnh Hà: năm 20 tuổi đỗ thủ khoa nhưng không màng đến công danh. Năm 1861, đứng ra tổ chức nghĩa quân ở các tỉnh Định Tường, Kiên Giang, Hà Tiên, Châu Đốc. Lại giao thiệp với các tàu buôn Hải Nam để mua khí giới. Sau vì cạn lương, ông phải giải tán nghĩa quân, về ẩn náu ở chợ Gạo, Định Tường. Năm 1863, ông bị quân Pháp bao vây, ông chạy thoát về Châu Đốc, nhưng rồi bị bắt ở đó. Pháp dụ hàng ông không chịu nên bị đày ra Côn đảo, và sau đày đi đảo Réunion. Năm 1874, triều đình nhường sáu tỉnh miền Nam cho Pháp, Pháp tha cho ông về, nhưng giao cho Tổng đốc Đỗ hữu Phương quản thúc. Trong thời gian bị quản thúc, ông chỉ ngâm thơ uống rượu, và tỏ ý băn khoăn về việc gia đình, cốt để cho Phương yên trí ông đã chán nản mọi việc. Quả nhiên Phương tưởng thật, xin Pháp trả tự do cho ông. Bấy giờ Pháp đã nắm vững được tình hình rồi, nên cũng ưng thuận thả ông ra. Được tha, ông lại ngầm tổ chức nghĩa quân chống Pháp. Tháng 4 - 1875, ông bị quân Pháp vây bắt. Lần này, Pháp lại dụ hàng nữa, song ông khăng khăng một mực, nên bị đem hành hình tại chợ Phú Kiết, tỉnh Định Tường. Trước khi chết ông để lại câu đối như sau:

Hữu chí nan thân, không uổng bách niên chiêu vật nghị (Có chí khôn bày, không uổng trăm năm lời nghị chúng)
Tuy công bất tựu, diệc tương nhất tử báo quân ân (Tuy công chưa lập, cũng đành một thác báo ơn vua)

Những câu đối của Cử Nhân Hồ Sĩ Tạo (1841 - 1907)[sửa]

Theo Gia phả Hồ tộc làng Song Nhã (họ Hồ ở thôn Lai Nhã - xã Thái Nhã - một nhánh của họ Hồ ở Cương Gián, Nghi Xuân, Hà Tĩnh và cũng từ ông tổ họ Hồ làng Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu, Nghệ An mà ra) chép: “Ông Hồ Sĩ Tạo, húy là Thàng, đẹp trai, học giỏi, thông minh, thi Hương đậu Giải nguyên, thi Hội trúng Tam trường. Lúc vào tứ trường phúc hạch thì bị vua đánh hỏng bởi vì đến triều Nguyễn, thời vua Tự Đức, Pháp sang xâm lược nước ta. Vua Tự Đức thì muốn đầu hàng, bèn ra bài thi phỏng vấn thí sinh, ai theo ý vua muốn đầu hàng thì đậu. Còn ai muốn đánh Pháp là trái ý vua(??!). Bài của ông Tạo rất hay, song trái ý vua, cũng như những người yêu nước khác nên bị hỏng. Sau ông được bổ làm quan giáo dục huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình. Tái bổ làm quan Thông phán 6 tháng. Sau đó tái bổ làm quan Tri phủ Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Tương truyền lúc ông Hồ Sĩ Tạo trên 20 tuổi, tuy con nhà Nho giáo, song rất nghèo và thanh liêm, nên ông phải vừa đi học, vừa tự túc học thêm để trau dồi văn chương. Sử chép ông rất đẹp trai, nhất là hát đối đáp và đàm đạo văn chương. Ông từng ngồi dạy học ở nhà ông Hà Văn Cẩn. Trong gia phả chữ Hán có chép có cô con gái rượu của ông Cẩn là Hà Thị Hy, một người nhan sắc xinh đẹp đã yêu ông Tạo. Khi ông Tạo về nhà xin cha cho hỏi cô Hy làm vợ, thì cụ thân sinh là Hồ Sĩ Tuyển (cụ Tuyển đậu 3 Khoa Tú tài) chưa cho lấy, vì chưa đậu đạt thành danh. Do đó, ông Tạo đành ngậm ngùi, không dám xuống làng Mậu Tài dạy học nữa và nói lời từ biệt…Tương truyền khi bà Hy lâm bệnh chết, ông Tạo làm điếu văn, đọc ở mộ, mọi người có mặt ai cũng cảm động và khóc cùng tang quyến”. Ở trang sau trong gia phả, phần “Đôi điều suy diễn” chép tiếp: “Truyền rằng cụ Hồ Sĩ Tạo đi lại với bà Hà Thị Hy ở làng Mậu Tài, Nam Đàn thuở xuân xanh. Khi bà Hy còn mang thai, thì cụ Tuyển chưa cho ông lấy vợ để lên đường chấp kinh thi cử. Cụ Nguyễn Sinh Nhậm chết vợ, vả lại đã già yếu, lấy bà Hy làm vợ kế, thai này ra đời là Phó Bảng Nguyễn Sinh Sắc. Ông đỗ đầu kỳ thi Hương (Giải nguyên) năm Tự Đức thứ 21 (1868) (ông là người đầu tiên giành được thứ hạng này ở tổng Võ Liệt), đặc biệt khoa này Hoàng Cao Khải 18 tuổi đậu chót, thứ 22/22 . Sau ông được bổ làm quan Huấn đạo (lo việc giáo dục) huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình. Tái bổ làm quan Thông phán 6 tháng. Sau đó tái bổ làm quan Tri phủ Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Sinh thời, Hồ Sĩ Tạo nổi tiếng rất thông minh và có văn tài. Cụ Phan Bội Châu có lần bảo với học trò cụ là không nên theo học Hồ Sĩ Tạo: "Tôi là con rắn, Hồ Sĩ Tạo là con rồng. Các anh chỉ có thể hiểu được con rắn mà thôi". Ông nổi tiếng hay chữ, bấy giờ ở xứ Nghệ có câu: “Văn Giao, phú Tạo, thơ Thành” (Văn hay có Nguyễn Văn Giao, phú giỏi có Hồ Sĩ Tạo, thơ đặc sắc có Nguyễn Nguyên Thành). Ông là thầy học của nhiều nhà khoa bảng xứ Nghệ và là người có công dạy dỗ, giúp đỡ cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc trên con đường cử nghiệp. Sau khi treo ấn từ quan, ông về quê dạy học tại xã Xuân Tường, huyện Thanh Chương. Khi mất, ông được học trò chôn cất trên một quả đồi tại đây. Phần mộ ông hiện nay đã được các con cháu tu sửa, xây dựng khang trang, đây là điểm viếng thăm thường xuyên của các con cháu trong dòng tộc họ Hồ và bạn bè mến mộ trong cả nước.

  • Câu đối viết cho nhà thờ họ Hồ ở Quỳnh Đôi:
Trâm anh nhất thổ Quỳnh Đôi trụ (Nhà thờ họ Hồ nghìn thu hương hoả)
Hương hoả thiên thu Cổ Nguyệt đường (Cột trụ Quỳnh Đôi một sắc trâm anh)
  • Thuở nhỏ, lúc 16 tuổi, Hồ Sĩ Tạo nhà nghèo, đi tìm chỗ dạy để nuôi thân. Ông chủ nhà thử tài học, bảo Hồ Sĩ Tạo vịnh con muỗi. Hồ Sĩ Tạo liền đọc:
Bạch nhật dĩ vô điêu Tể Ngã (Ban ngày, không thể làm được Tể Ngã)
Thanh tiêu hà xứ mộng Chu Công (Ban đêm, làm gì có chỗ nào để mộng Chu Công)
  • Câu đối mừng thọ cụ Can Bang 80 tuổi:

Cụ Can Bang ở xã Đại Đồng, tổng Đại Đồng, huyện Thanh Chương, là mẹ Cử nhân Nguyễn Như Cơ (đậu năm 1882) và là em gái Tiến sĩ Nguyễn Hữu Điển (1825- ?) đậu Cử nhân năm 1846, Tam giáp Tiến sĩ năm 1853):

Yên Sơn đan quế liên phương nhật (Bàn đào Vương Mẫu năm năm kết trái)
Vương Mẫu bàn đào kết thực niên (Đan quế Yên Sơn ngày ngày toả hương)
  • Lúc Hồ Sĩ Tạo làm tri phủ ở Quảng Bình, một người đàn bà có chồng họ Mạnh lội sông đi hát phường vải bị chết đuối đến xin câu đối điếu chồng, ông liền đọc:
Quân thị Mạnh gia danh, khỉ bất văn: Dự chúng lạc, độc lạc, thục lạc? (Chàng họ Mạnh, há không nghe: Cùng dân chúng vui nhạc, một mình vui nhạc, đàng nào vui hơn?)
Thiếp phi ngư phu tử, cánh vô như, bất độ hà, độ hà, nại hà? (Thiếp không phải con ngư phủ, biết làm sao, không qua sông, qua sông, làm cách nào?)
  • Khi mắc tội bị giáng làm Giáo thụ (phụ trách việc học ở phủ), Hồ Sĩ Tạo có làm câu đối tự thuật như sau:
Ngã đặc hà vi đa sự tai: thiếu phủ hư danh sĩ, tráng tác hoạn trường nô, gián hữu thất túc ư quốc sự tù, bán thế dĩ thành tam biến kiếp (Riêng ta sao mà lắm chuyện thay: trẻ là kẻ sĩ hư danh, lớn là đầy tớ quan lớn, giữa chừng lỡ chân quốc sự vào tù, nửa đời từng qua ba bốn kiếp)
Kim khả dĩ cáo vô tội hĩ: triêu xuất canh điền ông, mộ nhập quán viên tẩu, dạ lai vĩnh toạ thính gia nhi độc, dư sinh tằng vấn kỷ tri âm! (Nay mình đáng nói không tội vậy: sớm làm ông già cày ruộng, chiều thành cụ lão tưới vườn, tối đến nghe lũ gia nhi ngồi học, tuổi chưa từng hỏi mấy tri âm!)

Câu đối treo giải của Tổng Đốc Danh Dự Đỗ Hữu Phương (1841 - 1914)[sửa]

Đỗ Hữu Phương là một cộng sự đắc lực của thực dân Pháp. Trong thời kỳ đầu quân Pháp đến chiếm đóng Việt Nam, trong dân gian có câu: Nhất Sỹ, nhì Phương, tam Xường, tứ Định. Căn cứ theo lời truyền này, thì ông được xếp ở vị trí thứ hai trong số bốn người giàu có nhất Nam Kỳ buổi ấy. Ông sinh tại Chợ Đũi (Sài Gòn), gốc người Minh Hương, biết chữ Hán, nói được một ít tiếng Pháp. Cha ông là một người giàu có, tục gọi là Bá hộ Khiêm. Ông này đã cưới con gái một vị quan người Quảng Nam vào Nam Kỳ làm Tri phủ (sau về hưu với chức Lang trung bộ Binh) và sinh ra ông. Ngày 17 tháng 2 năm 1859, quân Pháp tiến đánh Gia Định, Đỗ Hữu Phương lên Bà Điểm (Hóc Môn) lánh thân và chờ thời. Sau khi Đại đồn Chí Hòa thất thủ vào tháng 2 năm 1861, ông Phương nhờ cai tổng Đỗ Kiến Phước ở Bình Điền dẫn về giới thiệu với Francis Garnier (lúc bấy giờ đang làm tham biện hạt Chợ Lớn. Sau, ông này mất năm 1873 trong trận Cầu Giấy ở Bắc Kỳ) và được nhận làm cộng sự. Buổi đầu, ngày 1 tháng 10 năm 1865, Đỗ Hữu Phương được chính quyền Pháp cho làm hộ trưởng (bấy giờ, thành phố Chợ Lớn chia ra làm 25 hộ). Năm 1872, được chỉ định làm hội viên Hội đồng thành phố Chợ Lớn. Năm 1879, làm phụ tá Xã Tây Chợ Lớn là Antony Landes (1879-1884). Giữ chức việc này, ông Phương thường ngầm làm trung gian để giới thương gia người Hoa hối lộ cho các viên chức Pháp. Nhờ vậy, mà ông giàu lên nhanh chóng, uy thế lên cao đến mức quan Toàn quyền Paul Doumer khi vào Nam còn ghé nhà ông ăn uống. Tháng 7 năm 1867, ông được bổ làm Đốc phủ sứ Vĩnh Long. Đỗ Hữu Phương lần lượt được nhận các phần thưởng như sau: Huyện Danh dự (25 tháng 7 năm 1868), Huy chương vàng (31 tháng 12 năm 1868), Phủ Danh Dự (4 tháng 8 năm 1869), Đốc phủ sứ Danh dự (4 tháng 8 năm 1868), Đệ tam đẳng bội tinh (1 tháng 1 năm 1891), Tổng đốc Danh dự (8 tháng 10 năm 1897). Ngoài ra, ông còn nhận được những ưu đãi khác, như: Năm 1878, ông được qua Pháp dự hội chợ quốc tế. Năm 1881, ông được gia nhập quốc tịch Pháp, và liên tiếp qua Pháp vào các năm 1884, 1889, 1894. Tương truyền trong 1 dịp Tết, ông Phương ra câu đối ca tụng nhà ông và treo giải thưởng nếu ai đối được như sau:

vế ra: Ðất Chợ Lớn có nhà họ Ðỗ, Ðỗ một nhà, ngũ phước tam đa
Ngay ngày hôm sau, có người gởi đến câu đối lại: Cù Lao Rồng có lũ thằng phung, Phung một lũ: Cửu trùng bát nhã (Thằng Phung là bệnh phong hủi)

Câu đối của Thi Sĩ Nguyễn Văn Lạc (1842 - 1915)[sửa]

Nguyễn Văn Lạc, biệt hiệu là Sầm Giang, thường gọi là Học Lạc. Ông vốn người làng Mỹ Chánh, thuộc tỉnh Mỹ Tho, nay là tỉnh Tiền Giang. Trong khuynh hướng thi văn, nhiều nhà nghiên cứu văn học xếp Học Lạc vào các nhà thơ có khuynh hướng trào phúng và châm biếm như Chu Mạnh Trinh, Trần Tế Xương, Nguyễn Khuyến...Học Lạc, nhà tuy nghèo, nhưng nhờ có trí thông minh từ thuở nhỏ nên được tuyển thẳng vào ngạch học sinh, ngạch do triều đình nhà Nguyễn đặt ra, được cấp lương và được học tại trường của quan đốc học địa phương. Do đó, người ta mới gọi là "học sinh Lạc", dần dần bỏ mất chữ "sinh", còn lại hai chữ "Học Lạc". Học Lạc học rất giỏi nhưng thi mãi không đậu, sau đó vì triều đình Huế phải ký hòa ước năm 1862 nhường đứt ba tỉnh miền Đông cho Pháp, nên Học Lạc không còn trông mong gì đến việc thi cử nữa. Ông rời bỏ làng Mỹ Chánh, dời nhà về chợ Thuộc Nhiêu (Mỹ Tho) chọn nghề dạy học và bốc thuốc, làm phương tiện sinh sống cho đến hết đời. Tương truyền ông có viết câu đối tặng một quán cơm như sau:

Mạc vị quán trung vô phiếu mẫu
Chỉ hiềm lộ thượng thiểu vương tôn
Câu đối này ý nói quán nầy sẳn lòng làm như Bà Phiếu mẩu khi xưa đem cơm cho Hàn Tín, lúc Hàn Tín chưa làm nên sự nghiệp, nhưng e rằng khách bây giờ, ít ai tài giỏi như Hàn Tín để mà được nuôi cơm.

Những câu đối liên quan đến Tham Tá Nội Các Sự Vụ Đỗ Huy Liêu (1845 - 1891)[sửa]

Đỗ Huy Liêu tên tự là Ông Tích, hiệu Đông La; là một viên quan nhà Nguyễn, và là một danh sĩ yêu nước ở Nam Định vào cuối thế kỉ 19 trong lịch sử Việt Nam. Ông sinh tại làng La Ngạn, xã Yên Đồng, huyện Ý Yên tỉnh Nam Định. Ông nội ông là cử nhân Đỗ Huy Cảnh, cha ông là Phó bảng Đỗ Huy Uyển (làm Biện Lý La Ngạn), cả hai đều là bậc danh sĩ triều Nguyễn. Năm Đinh Mão (1867), Đỗ Huy Liêu đi thi Hương đỗ giải nguyên, được bổ làm Điển tịch Viện Hàn lâm, Huấn đạo huyện Yên Mô (Ninh Bình). Năm Kỷ Mão (1879), ông thi Hội (ân khoa) đỗ thứ tám. Dự thi Đình, ông đỗ Hoàng giáp nên được tục gọi là Hoàng giáp Liêu. Trong kỳ thi này, bài của ông được vua Tự Đức châu phê là: quyển này thực có sức học, không phải hạng học theo lối viết sáo, có thể làm được. Thi đỗ hạng cao, Đỗ Huy Liêu được bổ làm Hàn lâm viện trước tác, sau đó bổ giữ chức Tri phủ phủ Đoan Hùng (nay thuộc tỉnh Phú Thọ). Tháng 7 năm Canh Thìn (1880), đổi ông làm Tri phủ Lâm Thao (cũng thuộc tỉnh Phú Thọ). Tháng 4 năm Nhâm Ngọ (1882), thăng ông làm Án sát Hà Nội. Tháng 5 năm Tân Mão (1882), thân phụ mất, ông về nhà cư tang. Năm Giáp Thân (1884), vua Hàm Nghi được đưa lên ngôi ở tuổi 13, Đỗ Huy Liêu được triệu vào kinh làm Biện lý bộ Hộ, rồi Tham Tá nội các sự vụ. Trong khoảng thời gian này, ông còn giữ chức Phụ đạo, dạy cho vua học và dạy cho hai con của Phụ chính Tôn Thất Thuyết là Tôn Thất Đạm và Tôn Thất Thiệp. Năm Ất Dậu (1885), đánh úp quân Pháp ở Huế không thành, Tôn Thất Thuyết phải đưa vua Hàm Nghi xuất bôn, ông bị quân Pháp bắt giam vì có liên can. Để mua chuộc, sau đó thực dân Pháp thả ông và cho ông làm Bố chính Bắc Ninh, nhưng ông cương quyết từ chối. Về lại Nam Định, Đỗ Huy Liêu lo phụng dưỡng mẹ già. Theo nhà chí sĩ Phan Bội Châu thì sau khi quân Pháp đánh chiếm Nam Định, ông cùng với bạn là Vũ Hữu Lợi (lúc bấy giờ cũng đang bỏ quan về đây dạy học), ngầm chiêu mộ nghĩa quân, chuẩn bị khởi nghĩa chiếm lại tỉnh thành này. Tuy nhiên cuộc khởi nghĩa không thành, vì bị Tổng đốc Vũ Văn Báo cáo giác. Dụ hàng không được, Vũ Hữu Lợi bị quân Pháp chém chết tại chợ Nam Định vào đầu năm 1887, còn ông thì bị bắt giam đến mấy năm mới được tha, nhưng vẫn phải chịu sự quản thúc của nhà cầm quyền Pháp. Ngày 1 tháng 5 năm Tân Mão (1891), tổ chức xong lễ mãn tang cho mẹ vào buổi sáng thì buổi chiều Đỗ Huy Liêu đột ngột từ trần. Theo Phan Bội Châu, thì ông đã uống thuốc độc tự vẫn, năm ấy ông mới 47 tuổi.

  • Câu đối viếng Tổng Đốc Nghệ Tĩnh Đặng Toán của Đỗ Huy Liêu:

Đặng Toán làm quan có tiếng thanh liêm, đang giữ chức tuần phú Ninh Bình thì có chỉ cử làm tổng đốc Nghệ Tĩnh, nhưng sắp sửa lên đường nhận chức mới thì mất. Đỗ Huy Liêu có câu đối viếng Đặng Toán:

Phương đáo Hoan chi thăng, hồ kị hạc quy, quy Thúy Hạc (Mới nghe tin ông thăng quan lên châu Hoan (Nghệ Tĩnh), sao ông vội cỡi hạc về, về núi Thúy Sơn, núi Hồi Hạc)
Khởi dữ Ninh hữu ước, hưu tương hồng ấn, ấn Lam Hồng (Hay là với tỉnh Ninh có hẹn, nên không đem dấu chim hồng in ở sông Lam Giang, núi Hồng Lĩnh)
“Hạc”, “hồng” là tên hai loài chim lớn (HV), cùng âm với một thành tố của tên gọi địa danh Thúy Hạc, Lam Hồng.
  • Đối đáp với Cử Nhân Phạm Văn Phổ:

Sau khi thực dân Pháp bình định xong Trung và Bắc Việt vừa mới đặt cuộc bảo hộ, triều đình muốn tìm những bậc văn nhân có danh vọng ra làm quan, để yên lòng dân. Tổng đốc Nam Định Vũ văn Báo, cho mời Đỗ Huy Liêu và cử nhân Phạm Văn Phổ làng Tam Quang, ý muốn để ông làm đốc học Nam Định, Phổ làm tri phủ Nghĩa Hưng. Nhưng hai ông từ chối, nên bị tống giam, bị ngâm vào bể nước, cho lính tráng đứng tắm ở bên bể, cố làm nhục hai ông. Hai ông ngồi trong bể làm câu đối cho đỡ buồn, một ông ra, một ông đối:

vế ra của Pham Văn Phổ: Tại luy tiết chi trung, phi kỳ tội dã (Câu này lấy ý trong Luận ngữ, thiên Công dã Tràng, điển Công dã Tràng, dẫu phải giam trói, nhưng không phải vì tội mình làm ra)
vế đối của Đỗ Huy Liêu: Tuy khỏa trình ư trắc, yên năng nỗi tai (Câu này từ nội dung sách Mạnh Tử, thiên Công tôn Sửu, điển Liễu hạ Huệ vốn có tính khoan hoà nói: kẻ khác làm bậy như là cởi áo chìa vai ở bên ta, cũng không nhơ nhuốc đến ta)
  • Sau được tha về, lấy cớ là có mẹ già, Đỗ Huy Liêu xin ở nhà phụng dưỡng, nhất định không chịu ra làm quan. Được bốn năm thì mẹ mất, ông có câu đối khóc mẹ như sau:
Tằng tứ niên lai, quốc vận gia đình lụy lụy (Đã từng bốn năm nay, vận nước tình nhà, thường gặp gian truân)
Tài tam nguyệt nội, thần tâm tử niệm du du (Vừa trong ba tháng, lòng người bầy tôi, và lòng người con cảm thấy xót xa)
  • Câu đối viếng Đỗ Huy Liêu của Đốc Học Hà Nội Khiếu Năng Tĩnh (1835 - ? ):

Khiếu Năng Tĩnh là người xã Chân Mỹ, tổng Tử Vinh, huyện Đại An, phủ Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định (nay thuộc xã Yên Cương, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định). Năm 1878, ông đỗ Cử nhân (Hương cống). 2 năm sau, ông đỗ đồng tiến sĩ xuất thân. Ông làm quan Đốc học Hà Nội, Tế tửu Quốc tử giám. Năm Canh Tý 1900, Khiếu Năng Tĩnh là Chánh chủ khảo tại Nghệ An. Ở đó, ông cùng với nhiều vị quan giám khảo khác rất bất ngờ trước hình ảnh một cụ già râu tóc bạc phơ đi thi cùng với biết bao người trẻ. Đó chính là Đoàn Tử Quang, một nho sinh độc nhất vô nhị trong lịch sử khoa bảng Việt Nam. Vì đây là chuyện hiếm thấy nên Khiếu Năng Tĩnh đã viết bài kí Nghệ trường giai sự (Việc đáng nói ở trường thi Nghệ An) để mô tả những hành động mà Đoàn Tử Quang đã làm trong buổi thi ấy. Hết ngạc nhiên rồi cảm phục, Khiếu Năng Tĩnh đã thảo tờ chiếu lên vua Thành Thái xin cho thí sinh độc nhất vô nhị này được đỗ, dù có mắc một số lỗi khi phạm một số quy định của trường thi ngày ấy, nên Đoàn Tử Quang đã đỗ ở tuổi 82, nhưng bị xếp thứ 29 trong 30 người trúng tuyển. Sau khi nghe tin Đỗ Huy Liêu mất, ông có gửi đôi câu đối phúng điếu như sau:

Hiển tàng độc dị phùng tam mão (Lúc hiển đạt và lúc mất, một điều lạ là cùng gặp vào ba năm mão)
Tâm sự toàn nghi đối lưỡng thân (Tâm sự như thế là trọn đạo làm con đối với hai đấng thân)
Thân” trong “lưỡng thân” (cũng gọi song thân, là cha mẹ), cùng âm với “thân” (thuộc thập nhị địa chi), do yếu tố “mão” cùng trường nghĩa này, ở vị trí đối ứng chỉ ra 2 Đỗ Huy Liêu đỗ thủ khoa năm đinh mão (1867), đỗ hoàng giáp năm kỉ mão (1879), mất năm tân mão (1891).
  • Câu đối viếng Đỗ Huy Liêu của Đông Các Đại Học Sĩ Cao Xuân Dục (1843 - 1923):
Cái kỳ sinh kỳ cố kỳ tử diệc kỳ, mạc hoặc giả nhân trọc nhi ngã thanh, nhân túy nhi ngã tinh, thuật lai chúc tử sổ ngôn, quát nhãn quan hà lưu thế lệ (Lúc sống vốn kỳ, lúc chết cũng kỳ, có phải chăng người say mà ta tỉnh, người đục mà ta trong, những trối trăng con cháu đôi lời, ngoảnh lại non sông giàn nước mắt)
Duy kỳ hành hiển, cố kỳ tàng diệc hiển, dĩ yên tai tương kiến năng kỷ thời, tương thức năng kỷ nhân, tài khứ đàm thân nhất nhật, hồi đâu thân thế hận ba đào (Khi xuất đã rõ, khi xử càng rõ, rành là thế cùng hiểu nào mấy người, cùng gặp nào mấy độ, vừa xong tang mẹ già một bữa, đoái trông thân thế hận ba đào)
Cao Xuân Dục tự là Tử Phát, hiệu Long Cương Cổ Hoan Đông Cao, sinh tại thôn Thịnh Mỹ (Thịnh Khánh), xã Cao Xá, huyện Đông Thành, phủ Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Năm 1876, ông đỗ Cử nhân, đồng khoa với Phan Đình Phùng ở Hà Tĩnh, Nguyễn Đôn Tiết ở Thanh Hoá và Phan Văn Ái ở Hà Nội. Trong quá trình làm quan, ông đã trải qua những chức: Biện lư Bộ Hình (1883), Án sát Hà Nội (1883), Bố chánh Hà Nội (1884), Tuần phủ Hưng Yên (1889), Tổng đốc Sơn Tây - Hưng Hóa - Tuyên Quang (1889), Khâm sai Chủ khảo trường thi Hương Hà Nam (1894), Tổng đốc Định Ninh (1896), Phong hàm Kiên Giang Quận công (1898), Tổng tài Quốc Sử Quán (1903), Thượng thư Bộ Học (1907). Ông được phong hàm Thái tử Thiếu bảo (1908), phong tước An Xuân tử (1911), về hưu với hàm Đông các Đại học sĩ (1913).

Những câu đối của Cơ Mật Viện Đại Thần Đào Tấn (1845-1907)[sửa]

Đào Tấn, tự là Chỉ Thúc, hiệu là Tô Giang và Mộng Mai, biệt hiệu là Tiểu Linh Phong Mai Tăng hoặc Mai Tăng, là một nhà soạn tuồng nổi tiếng Việt Nam. Ông được coi là ông tổ hát bội và là vị tổ thứ 2 trong 3 vị tổ nghề sân khấu Việt Nam (Phạm Thị Trân, Đào Tấn & Cao Văn Lầu). Ông là vị quan thanh liêm thời nhà Nguyễn, đã từng giữ chức vụ Tổng đốc An – Tĩnh (Nghệ An – Hà Tĩnh), Công Bộ Thượng thư. Ông tên thật là Đào Đăng Tấn, sinh ngày 27 tháng 2 năm Ất Tỵ (tức 3 tháng 4 năm 1845), tại thôn Vinh Thạnh, tổng Thời Tú, huyện Tuy Phước, phủ An Nhơn, tỉnh Bình Định (nay thuộc thôn Vinh Thạnh, xã Phước Lộc, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định). Do tránh quốc húy nên bỏ chữ Đăng, nên gọi gọn Đào Tấn. Ông thuộc dòng dõi Lộc Khê hầu Đào Duy Từ (1572-1634), một danh nhân thời chúa Nguyễn, vào lập nghiệp ở đất Đàng trong đầu thế kỷ XVII. Cha là Đào Đức Ngạc, mẹ là Hà Thị Loan. Thuở nhỏ, ông thọ giáo với cụ Tú Nguyễn Diêu, người làng Nhơn Ân (nay là thôn Nhơn Ân xã Phước Thuận cùng huyện); không những được thầy dạy chữ để đi thi mà còn đào tạo thành một nhà soạn tuồng. Năm 19 tuổi, lúc còn học với thầy, ông soạn tuồng đầu tay Tân Dã Đồn, nổi tiếng từ ấy. Năm 23 tuổi, ông đỗ thứ 8 Cử nhân khoa Đinh Mão (1867) tại trường thi Bình Định, dưới triều vua Tự Đức. Tuy nhiên, dù văn tài xuất chúng, ông không vượt được kỳ thi hội tiếp theo đó. Mãi đến bốn năm sau, năm Tự Đức thứ 24 (1871), khi vua Tự Đức cho soát xét lại những người chưa đỗ đạt, Đào Tấn mới được triệu về kinh thành Huế, được sơ bổ Điển tịch, sung vào Hiệu thư ở Nội các, tức hội nhà văn của triều đình, lo việc biên soạn và sáng tác, do vua Tự Đức làm chủ tọa. Năm 1874, ông đư­ợc bổ nhiệm tri phủ Quảng Trạch sau thăng chức lên Phủ doãn Thừa Thiên. Làm quan suốt 3 triều, từ Tự Đức đến Thành Thái (1871 - 1904), ông kinh qua các chức vụ Tham biện, Tổng đốc An Tĩnh, Tổng đốc Nam Ngãi, Thượng thư Bộ Hình, Thượng thư Bộ Binh, Thượng thư Bộ Công, quan hàm nhất phẩm, được phong Hiệp biện Đại học sĩ, tước Vinh Quang tử. Năm 1904 vì chống đối với đại thần Nguyễn Thân, ông bị cách chức rồi lui về quê nhà ở ẩn cho đến lúc qua đời.

  • Những câu đối viết tặng Chùa Linh Phong:
Thạch thất thiên niên hoàng hổ ngọa (Nhà đá cọp vàng nghìn thuở nghỉ)
Hoa trì thập nguyệt bạch liên khai (Ao hoa sen trắng tháng mười đơm)
Thập niên hồ hải quy lai mộng (Khói hoa một mớ trời dành sẵn)
Nhất kỉnh yên hoa tự tại thiên (Ao biển mười năm mộng trở về)
Ở câu đối thứ nhất, Đào Tấn (người sáng lập bộ môn hát bội ở Bình Định) đã ghi lại một vài nét về hiện tượng lạ nơi, ngôi danh lam ấy : hoặc tương truyền (vế 1) hoặc chính mắt ông trông thấy (vế 2). Còn với câu đối thứ nhì thì đây chính là một khám phá phải đánh đổi cả đời người mới có được, cùng nói lên cái tâm đắc của ông Đào với cửa Thiền.
  • Câu đối viết trước của rạp nhà Hát:
Thiên bất dữ nhàn, thả hướng mang trung tầm tiểu hạ (Thời chẳng cho nhàn, tìm chút thảnh thơi trong bận rộn)
Sự đô như hý, hà tu giả xứ tiếu phi chơn (Việc như đùa cợt, lọ cười chỗ giả chẳng là chơn)
  • Một hôm, Đào Tấn ngủ dậy thấy trước cổng nhà có câu đối (có ý chê bai) do ai đó dán sẵn từ tối hôm trước không rõ:
Hát hay
Học dở
Ông điềm nhiên viết thêm năm chữ vào sau mỗi câu làm thay đổi hẳn ý nghĩa (từ bị chế diễu thành tự hào):
Hát hay, chính kép Qui Nhơn thiệt
Học dở, làm quan Quảng Ngãi chơi
  • Câu đối viếng Lãnh Tụ Nghĩa Quân Hương Khê Phan Đình Phùng (1847 - 1895):

Phan Đình Phùng sinh tại làng Đông Thái (nay là xã Tùng Ảnh), huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Cha là Phó bảng Phan Đình Tuyển, ông là em ruột các ông Tú tài Phan Đình Thông, Cử nhân Phan Đình Thuật và là anh ruột Phó bảng Phan Đình Vận. Phan Đình Phùng thi đậu Cử nhân năm 1876; năm sau, 1877, đậu Đình nguyên Tiến sĩ, nên nhân dân địa phương cũng gọi là cụ Đình; được bổ Tri huyện Yên Khánh (Ninh Bình), sau đó được đổi về kinh đô Huế, sung chức Ngự sử Đô sát viện. Năm 1882, ông dâng sớ đàn hặc Thiếu bảo Nguyễn Chánh về tội “ứng binh bất biến” (cầm quân ngồi yên không đi tiếp viện) khi giặc Pháp tiến công thành Nam Định. Năm 1883, vì thấy Tôn Thất Thuyết làm việc phế Dục Đức lập Hiệp Hòa, ông đứng lên phản đối, và vì thế bị Tôn Thất Thuyết đuổi về làng. Năm 1885, hưởng ứng Chiếu Cần vương, Phan Đình Phùng đã đứng ra chiêu tập quân sĩ chống Pháp. Nghĩa quân xây dựng căn cứ tại vùng núi rừng Hương Sơn, Hương Khê (Vụ Quang) hiểm trở, nhằm tiến hành cuộc kháng chiến lâu dài. Địa bàn hoạt động rất rộng, bao gồm vùng Nghệ Tĩnh và một phần tỉnh Quảng Bình và tỉnh Thanh Hóa. Ông giao cho Cao Thắng lãnh trách nhiệm tổ chức và xây dựng phong trào ở Nghệ Tĩnh, còn mình ra Bắc (1887) đặt quan hệ và vận động thống nhất các lực lượng chống Pháp ở cả hai miền. Năm 1888, Phan Đình Phùng ở Bắc về, trực tiếp lãnh dạo phong trào. Trận Vụ Quang tháng 10-1894, với kế “Sa nang úng thủy” của Hàn Tín đánh quân Sở ngày xưa, đã làm cho bọn địch tổn thất nặng nề. Phan Đình Phùng kiên quyết kháng chiến, một lòng một dạ vì nhân dân, vì đất nước. Đến cuối năm 1895, trong một trận giao tranh ác liệt, Cụ bị thương và sau đó đã hy sinh tại quân doanh vào ngày 28-12-1895. Nhà soạn tuồng Đào Tấn có viết đôi câu đối (được cho là dài nhất Việt Nam với 160 chữ) phúng điếu như sau:

Thành bại anh hùng mạc luận, thử cô trung, thử đại nghĩa, thệ dữ chư quân tử thủy chung; Châu chi anh, Mặc chi linh, độc thư mỗi niệm cương thường trọng; Khả hận giả thùy điên đại hạ, nhất mộc nan chi, cung lãnh yên tiêu, thùy nhân bất tác thâm sơn oán; Huống đương nhật long phi vân ám; cộng ta nhân sự vô thường, khả liên La Việt giang sơn, bách niên văn hiến phiền nhung mã (Anh hùng thành bại kể chi? Dạ sắt son, lòng vàng đá, thề cùng các bạn giữ trước sau; Son mực đúc khí tinh anh, trung hiếu hẹn hò cùng sử sách; ngao ngán nhẻ, lầu cao sắp đổ, một cột khó nâng; phòng vắng khói tan, liếc mắt non xanh thêm tức tối. Và bây giờ rồng bay mây ám, xót xa việc thế không lường; Thương thay La Việt giang sơn, văn hiến trăm năm thành trận mạc)
Cổ kim thiên địa vô cùng, nhi lưu thủy, nhi cao phong, đồng thử đại trượng phu vũ trụ; Lam chi phong, Hồng chi tuyết, xung hàn vô nại bá tùng điêu; Vị hà tai hội quyết đồi ba, trung lưu để trụ, tinh di vật hoán, hà nhân bất khởi cố viên tình? Cập thử lời nhạn tán phong xuy, kham thán thiên tâm mạc trợ, độc thử tùng mai khí tiết nhất tử tinh thần quán Đẩu Ngưu (Trời đất xưa nay thế mãi, đá dựng ngược, nước chảy xuôi, đó vẫn non sông phương tuấn kiệt; Lam Hồng nổi cơn bão tuyết, bách tùng úa rụng luống xông pha. Đau đớn thay! Đê vỡ sóng vồ, giữa dòng trụ đứng; sao dời vật đổi, ngảnh đầu người cũ phải bôn chôn. Đương lúc này gió thổi nhạn lìa, căm giận lòng trời cay nghiệt; riêng cảm Tùng Mai khí tiết, tinh thần một thác rạng trăng sao)

Những câu đối của Tri Phủ Hán Dương Ngải Tuấn Mĩ tặng đoàn sứ bộ Đại Nam[sửa]

Năm 1868, vua Tự Đức cử đoàn sứ bộ sang triều cống nhà Mãn Thanh. Cầm đầu là Kinh Lược Sứ Bắc Kỳ Lê Tuấn (đỗ Hoàng Giáp năm 1853); phó sứ là Nguyễn Tử Giản đậu Hoàng Giáp; phó sứ thứ 2 là cử nhân Hoàng Tịnh. Hành trình của sứ bộ theo lối xưa từ ải Nam Quan đến Yên Kinh. Sau 125 ngày họ đến huyện thành Hà Dương tỉnh Hồ Bắc, ở đó đoàn Sứ bộ Việt Nam được viên tri phủ Hán Dương là Ngải Tuấn Mỹ đón tiếp và tặng mỗi người một đôi câu đối:

  • Câu đối tặng chánh sứ Lê Tuấn ( ? - 1884):
Hữu khẩu tu ngôn thiên hạ sự (Có miệng nên nói việc thiên hạ)
Kháng hoài bất nhượng cổ chi nhân (Nghị lực không chịu nhường người xưa)
Lê Tuấn là người huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh, thi đậu Hoàng giáp khoa thi Đình Quý Sửu - 1853, đời vua Tự Đức. Ông từng làm Thượng thư bộ Hình, Kinh lược sứ Bắc Kỳ. Ông cùng với Hoàng Tá Viêm soạt tập tâu nhận định toàn diện về các tỉnh biên giới Bắc được vua Tự Đức đánh giá cao. Năm 1873, vua Tự Đức triệu tập làm Chánh sứ Sứ bộ sang Tây cùng Nguyễn Văn Tường (tạm mang hàm tham tri), Nguyễn Tăng Doãn (hồng lô tự khanh, sung làm tham biện). Sứ bộ vào Gia Định hội đàm với toàn quyền đại thần Pháp Dupré để định hòa ước trước, rồi sau đó sẽ sang Pháp. Vào đến Gia Định thì ông bị ốm, bệnh hầu tì tái phát. Vua Tự Đức sai thầy thuốc đến chữa, sai trung sứ mang thuốc vào. Lê Tuấn xin đổi người làm chánh sứ nhưng vua Tự Đức không đồng ý. Hòa ước năm Giáp tuất 1874 (Tự Đức năm thứ 27) do Lê Tuấn, Nguyễn Văn Tường và toàn quyền đại thần làm khâm sai cho quốc trưởng Pháp là Dupré, tổng thống Nam Kỳ thủy lục quân dân đại nguyên soái, cùng bàn định và kí tên. Lê Tuấn qua đời năm 1884 ở Gia Định. Krantz đưa tàu thủy hộ tống linh cữu và sứ bộ về Huế. Vua ra dụ thương tiếc, truy tặng chức hàm và sai hoàng tử trưởng Ưng Chân đến tế linh cữu Lê Tuấn.
  • Câu đối tặng phó sứ Nguyễn Tư Giản (1823 - 1890):

Nguyễn Tư Giản trước có tên: Văn Phú, Địch Giản, sau mới đổi lại là Tư Giản, tự: Tuân Thúc, Hy Bật, hiệu: Vân Lộc và Thạch Nông. Nguyễn Tư Giản sinh tại làng Du Lâm, huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh (nay là thôn Du Lâm, xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội), trong một gia đình khoa bảng nhiều đời, nhưng gia cảnh đã đến hồi sa sút. Ông là cháu nội danh sĩ Nguyễn Án, đồng tác giả sách Tang thương ngẫu lục. Cha ông là Nguyễn Tri Hoàn, làm quan tới chức Lang trung bộ Hình dưới thời Minh Mạng. Từ nhỏ, Nguyễn Tư Giản nổi tiếng thông minh hay chữ. Lên 5 tuổi, thì mẹ mất, lên 11 tuổi thì cha mất, nên ông phải đến ở nhà ông bà ngoại (ông ngoại làm Thiếu tư khấu, tức Tham tri bộ Hình, lúc này ông đã mất) bên mé ngoài Cửa Bắc thành Hà Nội, gần hồ Trúc Bạch. Ban đầu, ông học với người anh cả là Nguyễn Đức Hiến, sau theo học ông Nghè Vũ Tông Phan, tại một ngôi trường ở thôn Tự Tháp, nằm ở phía tây Hồ Gươm thuộc phường Báo Thiên, huyện Thọ Xương (nay là quận Hoàn Kiếm, Hà Nội). Năm 19 tuổi, ông đi thi nhưng bị hỏng, ba năm sau mới đỗ Cử nhân ở trường Hà Nội, năm sau thì đỗ luôn Tiến sĩ đệ nhị giáp (tức Hoàng giáp) khoa Giáp Thìn (1844) dưới triều vua Thiệu Trị. Sau khi về quê bái tạ tổ tiên, ông vào Huế để nhận chức Tu soạn Hàn lâm viện, được cử vào ban biên tập bộ Thiệu Trị văn quy và được vua cho đổi tên Văn Phú thành Định Giản. Năm Bính Thân (1846), ông được cử làm Tri phủ Ninh Thuận, nhưng vào mùa thu năm sau (1847), thì vị vua mới lên ngôi là Tự Đức cho triệu ông về kinh. Trong mười năm ở kinh đô Huế (1847–1857), ông được nhà vua cho đổi tên lần nữa (Định Giản trở thành Tư Giản), và lần lượt trải các chức vụ: Khởi chú [2] ở lầu Kinh Diên, Thị giảng học sĩ ở Hàn lâm viện, Binh khoa cấp sự trung, Quang lộc tự khanh sung Biên nội các sự vụ. Năm Đinh Tỵ (1857), Nguyễn Tư Giản được phép về thăm quê, đồng thời nhận nhiệm vụ nghiên cứu tình hình sông ngòi và đê điều ở đất Bắc. Khi trở lại, ông đề xuất "Phương lược trị thủy Nhị hà" gồm 10 điểm lên vua Tự Đức, rồi được chuyển xuống cho các bộ liên quan để cùng bàn bạc thực hiện. Vì vậy, đang làm Thị lang bộ Lại, ông được cử làm Hiệp chính Biện lý đê chính sự vụ để lo việc trị thủy ở Bắc Kỳ. Mặc dù ông và các cộng sự có nhiều cố gắng, nhưng các năm sau vẫn có chỗ vỡ đê, khiến nhà vua không hài lòng, cho giáng chức ông và Nguyễn Văn Vỹ vào tháng Giêng năm Tân Dậu (1861), rồi cho giải tán Nha đê chính vào mùa xuân năm sau (1862). Năm Đinh Mão (1867), thăng Nguyễn Tư Giản làm Hồng lô tự khanh. Tháng 6 năm Mậu Thìn (1868), ông được vua chọn đi sứ sang nhà Thanh. Sứ đoàn do Lê Tuấn làm Chánh sứ, ông và Hoàng Tịnh làm Phó sứ. Đi sứ về ông được thăng Thị lang bộ Lại kiêm phó Tổng tài Quốc sử quán. Năm Ất Hợi (1875), ông được bổ chức Thượng thư bộ Lại sung Cơ mật viện đại thần. Nhưng đến tháng 7, thì Nguyễn Tư Giản lại bị giáng chức phải ra làm Sơn phòng sứ ở Chương Mỹ (thuộc Hà Tây cũ) coi việc lên khẩn hoang để chuộc tội (do vậy ông có thêm hiệu mới là Thạch Nông). Sau biến cố tại Kinh thành Huế xảy ra vào đêm 22 tháng 5 năm Ất Dậu (1885), vua Hàm Nghi cùng đoàn tùy tùng chạy ra Tân Sở (Quảng Trị), vua Đồng Khánh lên thay, Nguyễn Tư Giản được cử giữ chức thị lang bộ Hộ, nhưng sau đó nên ông giả ốm xin về nghỉ. Năm 1886, chiều theo ý của Pháp, Kinh lược sứ Nguyễn Trọng Hợp cho mời một số danh sĩ ra làm việc. Từ chối mãi không được, Nguyễn Tư Giản phải ra làm Tổng đốc Ninh-Thái (Bắc Ninh-Thái Nguyên). Sau đó, Nguyễn Tư Giản xin được từ quan, về ẩn thân dạy học ở Phát Diệm (thuộc Ninh Bình) cho đến năm Canh Dần (1890) thì mất tại đây, thọ 67 tuổi. Dưới đây là đôi câu đối do Ngải Tuấn Mĩ tặng ông lúc đi sứ Trung Quốc:

Thập tải luân giao cầu cổ kiếm (Mười năm chọn bạn như tìm thanh kiếm cổ)
Nhất sinh đê thủ bái mai hoa (Một đời chỉ biết cúi đầu lạy hoa mai)
Đôi câu đối này được hậu thế gán cho Cao Bá Quát sáng tác, rước đó 14 năm, Cao Bá Quát đã hy sinh trong cuộc khởi nghĩa Mỹ Lương (Giáp Dần 1854)... phải chăng người đời do quá yêu mến Chu Thần Tiên Sinh nên cứ thích tương truyền câu “nhất sinh đê thủ bái mai hoa” là của ông như một giai thoại để đời?
  • Câu đối tặng phó sứ Hoàng Tịnh:
Truyền thần cổ hữu Lý Tư Huấn (Truyền thần xưa có Lý Tư Huấn)
Vấn tự kim vô Dương Tử Vân (Hỏi chữ nay không Dương Tử Vân)
Những câu đối này được chép trong “Yên thiều bút lục” của Nguyễn Tử Giản sách viết tay của thư viện khoa học Trung ương, số A.852 tờ 18a-b; Cứ liệu trên đã được các học giả Tảo Trang và Hoa Bằng đưa ra trên tạp chí văn học số 2-Hà Nội năm 1972, trang 61 và 64.

Những giai thoại đối đáp của Bạch Xỉ Hoàng Đế Đoàn Chí Tuân (1855 - 1897)[sửa]

Bạch Xỉ chính tên là Đoàn Đức Mậu rồi đổi là Đoàn Chí Tuân, còn có tên khác như: Đoàn Văn Long, Thầy Đoàn. Ông sinh tại làng Hoà Ninh, xã Quảng Hoà, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Ông nội của Bạch Xỉ là Đoàn Chí Nguyện - người đã cầm đầu nhân dân Hoà Ninh tham gia phong trào Tây Sơn và thuộc quân Tây Sơn kháng chiến chống quân Thanh. Thân sinh của Bạch Xỉ là Đoàn Chí Thông, tục gọi là cụ Hương Thân. Nhà cụ Hương là nơi tụ họp những người có tinh thần yêu nước ở địa phương và đàm đạo về việc nước mất nhà tan, nhất là việc triều đình nhà Nguyễn đầu hàng giặc Pháp. Lên 5 tuổi, cụ Hương Thân đã cho cậu Tuân đến học với cụ Tú Nguyễn trong làng. Mới một thời gian rất ngắn, cụ Tú đã phải kinh ngạc về trí thông minh của Tuân. Lên 6 tuổi, cậu Tuân theo học với thầy quan biện họ Trần ở làng Thọ Linh - một người nổi tiếng học giỏi nhất vùng. Lại mới được một năm, thầy quan biện không dám dạy nữa, thầy nghĩ rằng: “mình không còn chữ đề dạy cho một học trò thông minh đáo để như Tuân”. Thầy biện nói: đây là bậc “sinh tri” (sinh ra là biết liền). Lên 12 tuổi, Đoàn Chí Tuân đã nổi tiếng về văn và thơ. Tiếng tăm của ông đã dậy khắp tỉnh, thành. Tiếng tăm tới cả triều đình. Bạch Xỉ đã có khẩu khí nhà vua. Bấy giờ có người ra câu đối sau:

vế ra:Hoàn quân dĩ đãi tướng quân (cho ông về là đãi ngộ ông)
Bạch Xỉ đối ngay: Sinh tử tất vi thái tử (sinh con ra là đẻ hoàng tử ra)
Vua Tự Đức nghe tiếng bèn sai Tùng Thiện Vương đến tận nơi làng Hoà Ninh để xem xét “phải chăng là những lời đồn ngoa?”. Khi về kinh, Tùng Thiện Vương tâu lên vua rằng, những lời đồn đại về Đoàn Chí Tuân là đúng. Tự Đức tỏ ý lo ngại và truyền rằng: “phải để ý đến thằng trẻ con này lớn lên sẽ làm giặc!”. Năm 1873, thực dân Pháp đánh Bắc Kỳ, Tự Đức cắt 6 tỉnh Nam Kỳ cho Pháp. Phong trào “bình Tây sát tả” liên tục nổ ra. Tư tưởng chống Pháp hình thành trong con người ông. Lúc này Bạch Xỉ mới 17 tuổi, ông bắt đầu hành động. Ông đi khắp đó đây, tìm kiếm, kết giao với những người cùng chí hướng. Năm 1885, kinh thành Huế thất thủ. Vua Hàm Nghi xuất bôn hạ chiếu Cần Vương. Vừa tròn 30 tuổi, Bạch Xỉ ra đón xa giá mong phò vua giúp nước, nhưng, do quan điểm đối với công giáo, ông không tán thành chữ bình Tây sát tả. Ông đề nghị Tôn Thất Thuyết bỏ chữ “sát tả” mà chỉ “bình Tây”, do đó không được Tôn Thất Thuyết chấp nhận. Bạch Xỉ về quê khởi xướng tổ chức nghĩa binh. Lũ trẻ chăn trâu ngày nào giờ đã lớn. Họ đã từng răm rắp tuân theo mệnh lệnh của “đại tướng” Tuân, giờ đây, họ đã có một cơ hội và theo Tuân như có một ma lực thực sự. Chưa đầy hai tháng, trai tráng phần lớn dân Hoà Ninh theo Tuân gần 500 người, số còn lại là dân quanh vùng như Vinh Lộc, Minh Lệ, Vĩnh Phước, La Hà...Trong số nghĩa binh có 25 người là công giáo và 17 người là lính cũ của triều đình. Lúc đầu, Bạch Xỉ đi theo cuộc khởi nghĩa Hương Khê của Phan Đình Phùng, thời gian sống chung với lãnh tụ Phan Đình Phùng, bên cạnh có Đinh Nho Hạnh, Cao Thắng...trong đại bản doanh ở Hương Khê, Đoàn Đức Mậu đã đề xuất hai ý kiến: "Một là tôn quân diệt địch, hai là không sát tả mà chỉ bình tây". Ý của Đoàn Đức Mậu là vua Hàm Nghi đã bị bắt, nghĩa Cần vương không còn chính danh cho công cuộc chiến đấu nữa. Còn Đồng Khánh là vua do Pháp dựng lên, bấy giờ Pháp sợ nhất là một nước có hai vua, chi bằng tôn phò một vua mới, có ý chí cách mạng để nhân dân tập trung công cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp, bảo vệ truyền thống tôn quân diệt địch của toàn dân. Và Đoàn Đức Mậu qua câu tuyên ngôn:
Tướng quân nghĩa liệt văn hoàn vũ (Nghĩa liệt tướng quân vang bốn cõi)
Nguyện hướng viên môn tác chấp chiên (Xin theo bên ngựa đỡ dây cương)
Ý ông muốn nói, không ai xứng đáng hơn Phan Đình Phùng lên ngôi chấp chánh để lo việc quốc gia đại sự. Không ngờ cả hai đề nghị của Đoàn Đức Mậu đã bị cụ Phan và nhóm phò tá phản đối. Còn hơn sự phản đối, người ta bắt đầu nghi ngờ lòng trung thành của lãnh tụ họ Đoàn và cả công cuộc chiến đấu mà bấy lâu nay ông đã theo đuổi. Do mâu thuẫn về về tư tưởng nên Bạch Xỉ đã tách khỏi Phan Đình Phùng mà tự quyết định lên ngôi, lấy niên hiệu là Long Đức Hoàng Đế cùng với 28 vị thủ hạ quanh ông và do ông cắt đặt các chức vụ triều chính. Ông truyền hịch kêu gọi nhân dân lương cũng như giáo đoàn kết một lòng đứng lên chống giặc Pháp cứu nước. Trong bối cảnh “bình Tây sát tả” thì chủ trương của Bạch Xỉ là chỉ “bình Tây”. Nhờ chủ trương đúng đắn ấy, ông đã tập hợp được lực lượng giáo dân theo nghĩa quân giết giặc, thì phải công bằng mà nói rằng: đó là công lao và tư tưởng cao đẹp của ông trước lịch sử. Thời đó có câu sấm: “Bạch Xỉ sinh thiên hạ bình” (Ông Bạch Xỉ ra đời là thiên hạ thái bình). Người thì cho là sấm Trạng Trình, người thì cho là Bạch Xỉ tự phao ra để gây uy tín, nhưng dân gian thì tin là sấm Trạng Trình vì Bạch Xỉ có nghĩa răng trắng. Khi Đoàn Chí Tuân tự xưng hoàng đế, ông là người không nhuộm răng đen thời đó. Có lẽ vì vậy mà ông tự lấy làm hiệu hoặc dân gian gán cho ông. Trước sức ép của Nghĩa quân, cuộc hành trình của vua Đồng Khánh dự định ra Quảng Trị, Quảng Bình ngày 27/7/1886, thì mãi đến ngày 19/8/1886 Đồng Khánh mới ra đến Đồng Hới. Đến đây, Đồng Khánh trâng tráo ra tờ dụ kêu gọi nghĩa quân ra đầu thú và đặt giải thưởng rất hậu cho ai bắt được Bạch Xỉ. Được 10 ngày, không có ai nghe theo lời dụ của Đồng Khánh, nhà vua kêu ốm rồi bỏ chương trình Bắc tuần, không ra Hà Tĩnh nữa, mà xuống tàu Pháp ở Nhật Lệ, thoái lui. Sau 4 năm hoạt động ở Nam Quảng Bình và 8 năm trên đất Hà Tĩnh, nghĩa quân Bạch Xỉ đã đánh bại nhiều cuộc hành quân càn quét của Pháp và nhà Nguyễn uy trấn tứ phương. Giặc Pháp bắt được ông khi ông đang lên cơn sốt rét tại nhà một bô lão ở làng Trung Định, trước mặt là núi Đại Hàm (Hà Tĩnh) rạng sáng ngày 12 tháng 10 năm Bính Thân (1896) rồi đưa về giam ở nhà lao Vinh. Biết Bạch Xỉ là người tài, chúng tìm mọi cách lôi kéo ông. Hồ Lệ - bấy giờ là Tổng đốc An Tĩnh, lấy tư cách là người trước đây đã từng xướng hoạ thơ phú với ông, y tỏ ra thông cảm với Bạch Xỉ - một người tài giỏi gặp lúc hoạn nạn. Để tỏ lòng mình, y thử lừa Bạch Xỉ mà đọc một vế câu đối:
vế ra: Thương người răng trắng gặp hồi đen
Bạch Xỉ ứng khẩu đáp lại ngay: Đau kẻ lòng son ôm máu đỏ
Câu đối của ông vừa để tỏ lòng son sắt với đất nước vừa để vạch mặt tên sĩ phu làm tay sai cho giặc, vì không chịu cung khai, bọn giặc đã hành hạ ông hết sức tồi tệ cho đến chết.
vế đối khác: Ghét lũ dạ thâm chờ tóc bạc ("dạ thâm" ám chỉ bọn bán nước cầu vinh thường có tâm địa đen (thâm) tối và thâm hiểm, muốn hưởng lợi hưởng nhàn (chờ tóc bạc), "gió thổi chiều nào theo chiều ấy" trong lúc đất nước bị giặc đô hộ. (Thiền Long Nguyễn Phước Thạnh)
  • Một lần khác, tổng đốc Hoàng Cao Khải tự động đến gặp Bạch Xỉ trong nhà lao, vừa muốn dụ dỗ vừa muốn thử tài đối đáp của một thần đồng nổi danh từ đất Quảng Bình. Khải nói: "Biết ông hay chữ xin hãy đối lại câu đối của tôi". Bạch Xỉ trả lời: "Tôi văn chương ít, ít được học hành, chỉ đối được từng chữ mà thôi".

Khải xướng: Mạnh mẽ bảy đời cửa tướng

Theo cách phát âm gốc Nghệ Tĩnh, Mạnh đọc thành mẹng, cũng có nghĩa là mồm; mẽ đọc thành âm mẹ (đối với mẹ là cha), bảy đời đối lại là tám kiếp, cửa tướng đối lại là nhà ông. Bạch Xĩ chỉ nêu lên từng chữ để đối. Nghe xong Hoàng cao Khải ngớ ra không hiểu gì cả, còn Bạch Xĩ thì đã ung dung chắp tay sau lưng đi vào nhà ngục. Khải vặn hỏi số người hộ vệ của mình, câu đối được chắp lại như sau:
vế đối: Mồm cha tám kiếp nhà ông
Dù giận tím mặt và thù lên tận cổ, Khải cũng không nói được câu nào với Bạch Xỉ nữa, nên đã bảo bọn cai ngục đem Bạch Xĩ ra bắn ngay cho hả giận. Lúc nầy Pháp chưa nghe lời Hoàng Cao Khải vì Pháp còn muốn dụ dỗ một nhà nho tài giỏi và có uy tín để có thể ổn định được một vùng địa lý rộng lớn từ Quảng Bình ra tới Hà Tĩnh, Nghệ An, đỡ phải hao binh tổn tướng trong nhiều năm mà chưa chắc đã thành công. Nhưng không có gì mua được chí khí cang cường của một nhà nho yêu nước. Dụ dỗ không được, Pháp quay sang sử dụng đòn tra tấn dã man. Bảy lần tra tấn là bảy lần Bạch Xỉ cương quyết phản cung. Sự khảng khái tuyệt đối của Bạch Xỉ đã đưa ông đến cái chết tàn khốc vào ngày 12-5-1897, khi ông đang bị cơn sốt rét hoành hành. Bạch Xỉ mất, tuổi đời mới hưởng được 43 năm.
  • Tương truyền có lần Bạch Xỉ cùng Nguyễn Hàm Ninh đi chơi gặp mưa, ngồi núp ở gốc đa - Nguyễn Hàm Ninh đọc: Đường đất thịt, đi trơn như mỡ
Bạch Xỉ đọc theo liền: Gió gốc da, ngồi mát tận xương
  • Lần khác, Bạch Xỉ đến trường học cụ thám hoa Nguyễn Đức Đạt, gặp lúc cụ ra đề cho học trò, lấy tích ở Kinh Thi nói về một ông vua chăm việc nước, quên mình, quên ăn. Bạn học sinh nhờ ông giúp vài câu, ông lấy bút viết ngay:
Tể phụ tiến thiện, vương viết: vi vi! Nhất đán ky, viết ngã ky chi (Đầu bếp dọn ăn, vua bảo: chưa chưa! Một người dân đói, chính là ta đói đây)
Thuỳ tướng truyền xan, vương viết: phủ phủ! Ngô tuy mạo, thiên hạ tất phi! (Cần vụ đem cơm, vua bảo: khoan khoan! Mặt ta tuy gầy, nhưng mặt người dân được béo!)
  • Câu đối làm giúp một người bạn thờ vợ chết:
Dữ chi tử, cánh đoạt chi thê, ức mệnh, ức vô duyên, duy hướng thiên tào vấn đoạt đích (Cho con răng trắng, cướp quách vợ má hồng, vì mệnh hoặc vì duyên, mới biết lòng trời khôn nhắn hỏi)
Tử dã ấu, nhi tồn dã lão, thị hạnh, thị bất hạnh, mang văn nhân thế thuyết mơ hồ (Mất ả tóc xanh, còn trơ ông đầu bạc, rằng may hay rằng rủi, rối nghe miệng thế nói mơ hồ)
  • Khi nghĩa quân Bạch Xỉ đang đắc thế, dân gian vẫn lưu truyền câu đối sau để ca ngợi công tích của ông như sau:
Một lũ Thầy Tăng ra trị nước (Thầy Tăng nói lái là Thằng Tây)
Có ông Bạch Xỉ mới nên đời

Những câu đối liên quan đến Tuần Phủ Thái Bình Nguyễn Duy Hàn (1856 - 1913)[sửa]

  • Nguyễn Duy Hàn người làng Hành Thiện (huyện Giao Thủy, phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Định). Làng Động Trung (huyện Kiến Xương, Thái Bình) có nhiều người ủng hộ phong trào Cần Vương. Pháp và tay sai đã đàn áp dã man, cả biện pháp cho cày xới mồ mả tổ tiên của những người tham gia kháng chiến. Năm 1905, Nguyễn Duy Hàn khi về nhận chức tuần phủ Thái Bình, đã tới làng răn đe và ra một vế đối:
Dân Động Trung hiếu động, động hiếu vô trung
Ý nói, dân làng Động Trung thích “làm loạn”, động đến việc hiếu (bị đào mồ cuốc mả), như vậy là mất chuyện trung hiếu với bề trên.
Dân làng đối lại: Quan Hành Thiện vi hành, hành vi bất thiện
Hành Thiện là tên làng (thuộc Nam Hà), quê của Nguyễn Duy Hàn. Vế đối lại đả kích Hàn hành xử gian ác, bằng cách đảo trật tự từ (“Hành Thiện vi hành” -> “hành vi bất thiện”); tương ứng với cách đảo trật tự từ của vế ra: Động Trung hiếu động -> động hiếu vô trung.
  • Ngày 12 tháng 4 năm 1913, Việt Nam Quang phục hội phục kích trên con đường chính của tỉnh lỵ Thái Bình. Khoảng 11 giờ 30 phút, xe kéo tuần phủ Nguyễn Duy Hàn chạy qua, ông Nguyễn Văn Tráng liệng tạc đạn và giết chết viên tuần phủ. Bẩy người bị chính quyền Pháp bắt giữ rồi đưa ra trảm quyết, trong đó có hai anh em Phạm Hoàng Luân, Phạm Hoàng Triết. Các nho sĩ đương thời có câu đối viếng như sau:
Anh em ruột thịt một hùng tâm, con Lạc cháu Hồng nêu nghĩa cả
Khí tiết sáng ngời hai chí sỹ, non Thường dòng Lỗ ngát hồn thơm
  • Còn với với viên Tuần Phủ Thái Bình Nguyễn Duy Hàn, các Nho gia cũng viết đôi câu đối phúng điếu như sau:
Hành Thiện bản lai vô ác báo (Làm thiện xưa nay không ác báo)
Thái Bình thuỳ thức hữu phong ba (Thái Bình sao lại nổi phong ba)
Tác giả câu đối đã chơi chữ rất khéo: Hành Thiện còn là quê và Thái Bình là nơi làm quan.

Câu đối của Chánh Quản Hương Binh Lê Trung Đình (1857 - 1885)[sửa]

Lê Trung Đình hiệu là Long Cang, người làng Phú Nhơn, nay là thôn Trường Thọ Đông, thị trấn Sơn Tịnh, huyện Sơn Tịnh. Ông là chí sĩ yêu nước, kháng Pháp, thủ lĩnh cuộc khởi nghĩa Cần Vương đầu tiên trong cả nước. Thân sinh Lê Trung Đình là cử nhân Lê Trung Lượng ( ? - 1880), một danh sĩ dưới triều Tự Đức, được nhà vua ban lời khen "Thanh như Lượng" và ân trí cho chữ "Trung" làm phụ tính (tên lót). Con nhà dòng dõi khoa bảng, học giỏi nổi tiếng cả một vùng, năm 26 tuổi Lê Trung Đình thi đỗ cử nhân (khoa Giáp Thân -1884) ở trường thi Hương Bình Định. Gặp buổi vận nước lao đao, bên ngoài thực dân Pháp âm mưu xâm chiếm đất đai, bên trong triều đình rối ren, chia bè rẽ phái, ông cùng các chí sĩ Nguyễn Tự Tân, Nguyễn Bá Loan, Nguyễn Tấn Kỳ... vừa dốc sức tổ chức lực lượng hương binh, vừa xây dựng chiến khu ở Tuyền Tung (nay thuộc xã Bình An, huyện Bình Sơn), sẵn sàng đối phó với quân xâm lược. Phái chủ chiến ở triều đình cử ông làm Chánh quản hương binh, sau đó được Nguyễn Duy Cung - lúc bấy giờ đang giữ chức Tham biện sơn phòng Nghĩa Định, bí mật cử ra kinh đô yết kiến người cầm đầu phe chủ chiến là đại thần Tôn Thất Thuyết để nhận lệnh tổ chức lực lượng và xây dựng kế hoạch chuẩn bị chống Pháp. Ngày 5/7/1885, sau vụ âm mưu đánh úp quân Pháp ở Huế không thành, kinh đô thất thủ, vua Hàm Nghi xuất bôn và sau đó hạ chiếu Cần Vương. Ngày 13/7/1885 (1/6 năm Ất Dậu), Lê Trung Đình cùng các thủ lĩnh hương binh kéo quân về tỉnh thành, đòi các quan lại đầu tỉnh cấp vũ khí, lương thực để chống Pháp, nhưng quyền Bố chánh Lê Duy Thụy và quyền Án Sát Nguyễn Văn Dụ từ chối. Ngay trong đêm ấy, 3.000 hương binh theo lệnh Chánh tướng Lê Trung Đình và Phó tướng Nguyễn Tự Tân từ chiến khu Tuyền Tung và các nơi khác tập kết về khu vực bãi sông Trà Khúc, phía tả ngạn, trước đền Văn Thánh (Văn miếu Quảng Ngãi) làm lễ tế cờ rồi vượt sông, tấn công tỉnh thành Quảng Ngãi. Được sự hỗ trợ của lực lượng nội ứng, nghĩa quân nhanh chóng đánh chiếm tỉnh thành, bắt giữ bọn quan lại, tịch thu ấn triện, vũ khí, triển khai tổ chức phòng thủ và phát động phong trào Cần Vương trong cả tỉnh, sẵn sàng ứng phó với quân xâm lược Pháp. Nghĩa quân làm chủ tỉnh thành được 4 ngày thì bị tên phản bội Nguyễn Thân (vốn là một thành viên Nghĩa hội, trở giáo), đưa lực lượng từ sơn phòng về, đánh lừa nghĩa quân mở cửa thành, rồi bất ngờ tấn công dữ dội. Nguyễn Tự Tân hy sinh giữa trận tiền, Lê Trung Đình bị bắt. Cuộc khởi nghĩa thất bại. Nguyễn Thân tìm mọi cách dụ dỗ, lôi kéo Lê Trung Đình đầu hàng, nhưng ông không nói một lời. Ngày 23/7/1885 (1/6 năm Ất Dậu) Lê Trung Đình bị xử chém ở phía Bắc thành Quảng Ngãi.

  • Năm 18 tuổi, cậu Đình đi thi hương. Cả nhà mừng thầm thế nào Trung Đình cũng đổ thủ khoa. Đình cũng rất tự tin, nhưng không dè quan trường chấm thế nào mà chỉ á nguyên (thứ hai sau thủ khoa). Cử Đình tức lắm, nhân thấy anh chàng thủ khoa tài học kém mình, lúc vào ra mắt trong lễ xướng danh, cử Đình sẵn tay cầm cái quạt giấy liền lấy gióng quạt gõ lên đầu chàng thủ khoa - con một mệnh quan ở triều đình Huế - và nói lớn: "Thứ anh thủ khoa cái nước gì?" Cả quan trường buổi lễ xôn xao, rộ lên bàn tán, cười nói mỉa mai. Quan tuần phủ Điện tức tối, vì năm xưa lúc Trung Đình mới 15 tuổi, có lần theo cha đến dinh tuần phủ ngâm vịnh; nghe Đình hay thơ tuần phủ mới ra câu đối để thử tài:
vế ra: Đình xiêu giữa chợ ăn mày ngủ
Cậu bé Đình xin phép cha, ứng đối lại ngay: Điện tế bên đường chó đói ăn
Câu đối rất chỉnh, lại dùng chữ Điện tên của quan chủ tỉnh để đối với Đình tên mình, hơn nữa Đình và Điện đều là những nơi thờ cúng. Ai ngờ một vị quan đầu tỉnh lại bị cậu bé chơi xỏ một vố quá đau. Nên ông nghè Lê Trung Lượng vờ quở mắng Đình để quan tuần phủ đỡ ngượng, nhưng trong bụng ông cười thầm: "thằng.......phải đo ván".

Câu đối của La Sơn Phu Tử Quảng Nam Tú Quỳ (1857 - 1928)[sửa]

  • Tú Quỳ, tên thật là Huỳnh Quỳ, người làng Giảng Hòa - Quảng Nam. Ông rất thông minh nhưng cả 3 lần thi chỉ đỗ Tú tài nên nhân dân quen gọi ông là Tú Quỳ. Nhân một buổi đi thăm người bạn ở phủ Thăng (tức Thăng Bình), Tú Quỳ đi ngang qua ngôi đình làng Đồng Tranh đã xây dựng xong 4 tháng nhưng chưa khánh thành. Hỏi ra, Tú Quỳ biết làng phải chờ vế đối của một vị quan là người của làng mà vị quan này mới làm được một vế, còn vế thứ hai chưa nghĩ ra. Câu đối này làng xin vị quan đó đề khắc lên 2 trụ cột ở căn trung cho toàn thiện ngôi đình. Tú Quỳ nghe chuyện cũng lúc quá trưa, trời nắng gắt, nên tạm ngồi dưới gốc đa trước đình nghỉ mát. Bỗng có gã bán chiếu gánh một gánh chiếu nặng tiến đến gốc đa cùng nghỉ, Tú Quỳ hỏi chuyện và nhận bàn giúp gánh chiếu, Tú Quỳ đặt gánh chiếu giữa sân đình để lấy cớ gặp làng. Kết quả, Tú Quỳ giúp làng giải được vế đối và làng cùng mua gánh chiếu của anh hàng chiếu để lo lễ khánh thành.
vế ra: Văn Đồng Tranh, võ Đồng Tranh, văn võ Đồng Tranh long hổ bảng
vế đối: Quân Gia Hội, thần Gia Hội, quân thần Gia Hội phụng hoàng trì
Các vị bô lão trong làng thán phục và bày tiệc khoản đãi, thì ra anh hàng chiếu tên là Hường Hiệu, vừa từ quan ở Huế, nay vâng thánh chỉ của vua Hàm Nghi hưởng ứng phong trào Cần Vương, khi Tú Quỳ ra hỏi chuyện biết là Hường Hiệu nên mượn vế đối này để mở đầu cho việc phò Vua, chống giặc Phú Lang Sa cứu nước của ông. Hường Hiệu, tên thật là Nguyễn Duy Hiệu, sinh năm 1847, tại Quảng Nam. Đỗ cử nhân năm 1876, phó bảng năm 1879, được cử làm Giảng tập tại Dưỡng Thiện đường dạy hoàng tử Ưng Đăng, sau này là vua Kiến Phúc, được phong Hồng Lô Tự Khanh nên dân quen gọi là Hường Hiệu. Sau khi Hàm Nghi xuống Hịch Cần vương, ông từ quan về quê, cùng một số đồng chí lãnh đạo phong trào Cần vương ở Quảng Nam. Ông bị giặc Pháp giết vào ngày 1 - 10 - 1887..
  • Trước ngày lâm chung, Tú Quỳ làm mấy câu đối sau:
Thảo võ thiệu huy phong Kim Bảng, ba vãn tiết ngọc đường (Một nhà cỏ được dựng nên, ba đời chiếm bảng vàng rực rỡ)
Khoa danh lam thế diễn Hoàng Ân, thanh giá vạn niên hương (Ơn vua ban như hoa nở muộn, lừng danh thi phú tiếng vang xa)
Tú khí ngưỡng bằng tiên Tổ Khảo
Tài lang kỳ diễn hậu Nhi Tôn
Nối gót Lân ông dựa bảng Vàng, hai chữ thọ quan đà báu nước
Trăm tuổi Hạc bà đơm tóc Bạc, một câu trùng khánh lại vinh nhà
  • Câu đối viếng Tú Quỳ của Phạm Liệu:
Gia Học Kế Thừa Ngã Ngoại Tổ Môn Trung Túc Xưng Cao Đệ
Quốc Văn Đề Xướng Đại Súy Đường Hội Diện Hiệp Bái Tiên Huy
Nguyên cụ Tú Sáu là anh cô cậu ruột mà cũng là thầy dạy Phạm Liệu, Tú Quỳ tuy là học trò cụ Tú Sáu nhưng là lớp đàn anh học trước Phạm Liệu xa. Thành thử Phạm Liệu dùng cụm từ này như là cách xác định nơi Tú Quỳ đã thọ giáo -- thọ giáo tại nhà ngoại tổ (bên ngoại) của Phạm Liệu, vế sau Phạm Liệu đã tôn vinh Tú Quỳ là "Đại Súy Đường", một đại tướng trong làng Quốc văn.

Những giai thoại đối đáp của Y Gia Nguyễn Văn Xiển (1860 - ? )[sửa]

Xiển Bột hay Xiển Ngộ là một nhân vật dân gian được cho là có thật, tên là Nguyễn Văn Xiển, sống ở cuối thời phong kiến của Việt Nam, tại làng Hoằng Bột, nay là xã Hoằng Lộc, huyện Hoằng Hóa, Thanh Hóa. Ông là hậu duệ của Trạng Quỳnh (chắt của Trạng Quỳnh), tương truyền khi mới sinh ra, Xiển mặt vuông chữ điền, tai to như tai phật, mồm rộng, mắt sáng. Người ta gọi Xiển là Xiển Bột vì quê Xiển ở làng Hoằng Bột, ông sống bằng nghề làm thuốc. Xiển Bột nổi tiếng trong dân gian vì những câu chuyện cười dí dỏm, châm chiếm đã kích vào những thói xấu của xã hội, những quan lại, cường hào chuyên hiếp đáp dân lành. Những câu chuyện hài hước được kể lại cho thấy ông không những trừng trị bằng trí tuệ đối với các đối tượng quan lại, cường hào mà thậm chí còn hí lộng đến cả người lãnh đạo cao nhất là nhà vua.

  • Đối đáp với viên tri phủ Hoằng Hóa:

Gần tết Nguyên Đán, viên tri phủ Hoằng Hóa cùng vợ đi chợ tết. Từ phủ ra chợ Bút Sơn rất gần, nhưng vốn tính hách dịch, quan phủ bắt lính cáng ra tận cổng chợ và mang theo hai cái lọng xanh che. Hồi này, Xiển Bột hãy còn nhỏ, xong thấy cái oai rởm của quan thì ghét lắm. Xiển mang một con chó con đi chợ, cứ ôm ở trước bụng, lúc thì chen đi trước quan, lúc thì lùi lại đi sau quan. Thấy Xiển Bột mang chó, ai cũng tưởng Xiển Bột mới mua, liền hỏi: "Chó bao nhiêu?" Xiển trả lời: "Quan đấy!" Quan phủ biết thằng bé ôm chó chửi xỏ mình, cho lính bắt lại hỏi: "Ai xui mày ăn nói như thế?" Xiển đáp: "Bẩm quan, nhà con muốn nuôi một con chó con để dọn cứt cho em, nên bố mẹ con bảo con đi mua, giá của nó là 1 quan tiền." Quan hỏi: "Mày là con cái nhà ai?" Xiển trả lời "Bẩm con là chắt cụ Trạng Quỳnh ạ!" Quan nói đã là chắt cụ Trạng tất phải hay chữ, vậy ta ra vế đối, đối hay tao tha tội, dở tao đánh đòn".

Quan đọc: Roi thất phân đánh đít mẹ học trò!
Xiển Bột liền đối: Lọng bát bông che đầu cha quan lớn!
Không ngờ Xiển lại dám chửi mình một lần nữa, để chữa thẹn, quan lấy giọng bề trên mắng Xiển Bột qua loa một vài câu, rồi quát bảo lính hầu sửa soạn ra về.
  • Xin tiền Tổng Đốc Thanh Hóa Tôn Thất Thuyết:

Xiển Bột đi thi bị trượt, ông buồn rầu, cùng các bạn hỏng thi ngồi than phiền, chực mượn rượu tiêu sầu, nhưng sờ túi, các thầy đồ đều hết tiền cả. Một bạn đố Xiển dám vào xin tiền Tôn Thất Thuyết, lúc ấy đang làm tổng đốc Thanh Hoá. Xiển nhận làm ngay, nhưng bắt anh em phải cuộc. Sáng sớm hôm sau, Tôn Thất Thuyết ra công đường thấy một người quỳ ở sân, Thuyết quát lính hỏi tên kia muốn kêu gì. Xiển đứng dậy trình ngay: "Con muốn chết, đến đây để nhờ lưỡi gươm của cụ lớn hoá kiếp cho". Tôn Thất Thuyết quát: "Tên này thật là điên ngộ cuồng ngu. Vì sao mày lại muốn chết?" Xiển đáp: "Bẩm cụ lớn, con là học trò thi hỏng, nhà lại nghèo, sống thêm hổ bút hổ nghiên, nên muốn chết cho rảnh". Thuyết thấy Xiển có vẻ thư sinh nho nhã, nói năng lại hoạt bát, liền bảo: "Nếu là học trò giỏi mà thi hỏng thì cũng đáng thương. Còn như học trò lười, dốt, thì chết đi cũng phải. Bây giờ ta sẽ ra đề cho ngươi vịnh thử bài thơ xem ngươi là học trò hạng nào". Rồi Thuyết lấy ngay đầu đề là "điên cuồng ngu ngộ".

Xiển ứng khẩu đọc luôn như sau: Cao Tổ điên hào kiệt, Vũ Ðế ngộ thần tiên, Tăng Ðiểm cuồng thiên địa, Nhan Tử ngu thánh hiền (Cao Tổ điên đảo người hào kiệt, Vũ Ðế giác ngộ chuyện thần tiên, Tăng Ðiểm ngông cuồng với giời đất, Nhan Tử ngu ngơ mà thánh hiền)
(Bốn nhân vật kể trên đều là những bực vua chúa thánh hiền tài giỏi trong sử sách: Hán Cao Tổ có tài thuyết phục làm cho những người tài giỏi phải theo mình. Hán Vũ Ðế thích tìm hiểu chuyện thần tiên để rút kinh nghiệm xử thế. Tăng Ðiểm (Tăng Tử) là học trò giỏi bực nhất của Khổng Tử. Lúc nói chí hướng của mình, ông không thích làm quan làm giàu mà thích sống thanh cao. Nhan Tử tên thật là Nhan Hồi, học trò giỏi nhất của Khổng Tử. Bề ngoài, ông có vẻ như người ngu đần, nhưng thực ra là bậc thánh hiền). Nghe bài thơ, Tôn Thất Thuyết biết Xiển là người tài giỏi, học rộng, trí nhanh; trong chớp mắt biến bốn chữ chê thành bốn chữ khen, để tỏ chí khí của mình. Thuyết bèn thưởng cho Xiển 30 quan tiền, và an ủi, khuyên lơn Xiển nên cố gắng học nữa. Thế là Xiển Ngộ đã được cuộc. Các bạn phải khao một bữa chén linh đình.
vế đối:Lê Tổ điên anh hùng, Lý Tổ ngộ pháp Phật, Đồng Tử cuồng càn khôn, Trạng Trình ngu nguyệt nhật (Trường Văn Nguyễn Phước Thắng) (Lê Thái Tổ tên húy là Lê Lợi, Ông có tài thu phục anh hùng, khởi xướng khởi nghĩa Lam Sơn chiến thắng quân Minh trở thành vị Hoàng đế đầu tiên của triều Hậu Lê, triều đại lâu dài nhất trong lịch sử Việt Nam (tính cả Lê sơ và Lê Trung hưng). Ông sinh năm 1385 và mất năm 1433, ở ngôi gần 6 năm, thọ 49 tuổi. Lý Thái Tổ húy là Lý Công Uẩn, là vị Hoàng Đế sáng lập nhà Lý trong lịch sử Việt Nam, trị vì từ năm 1009 đến khi qua đời năm 1028. Thuở nhỏ Ông nương nhờ cửa Phật. Dưới triều nhà Tiền Lê, Ông làm quan đến chức Điện tiền chỉ huy sứ, là một chức quan võ chỉ huy quân đội bảo vệ kinh đô Hoa Lư bấy giờ. Ông được lực lượng của đại thần nhà Tiền Lê là Đào Cam Mộc và sư Vạn Hạnh tôn làm vua sau khi vua Lê Long Đĩnh qua đời. Dưới triều Ông, triều đình trung ương được củng cố, các thế lực phiến quân bị đánh dẹp, kinh đô được dời từ Hoa Lư về thành Đại La vào tháng 7 năm Thuận Thiên thứ hai (1010), và thành này được đổi tên thành Thăng Long (Hà Nội ngày nay). Chử Đồng Tử là một vị thánh nổi tiếng, một trong "Tứ bất tử" trong tín ngưỡng Việt Nam.Truyền thuyết về Tiên Dung-Chử Đồng Tử gắn liền với Đầm Nhất Dạ là một trong những huyền sử được ghi chép trong Lĩnh Nam chích quái kể về thời kì cổ xưa của nước Việt Nam. Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491–1585), tên huý là Nguyễn Văn Đạt, tên tự là Hanh Phủ, hiệu là Bạch Vân cư sĩ, được các môn sinh tôn là Tuyết Giang phu tử, là một trong những nhân vật có ảnh hưởng nhất của lịch sử cũng như văn hóa Việt Nam trong thế kỷ 16. Ông được biết đến nhiều vì tư cách đạo đức, tài thơ văn của một nhà giáo có tiếng thời kỳ Nam-Bắc triều (Lê-Mạc phân tranh) cũng như tài tiên tri các tiến triển của lịch sử Việt Nam. Sau khi đậu Trạng nguyên khoa thi Ất Mùi (1535) và làm quan dưới triều Mạc, Ông được phong tước Trình Tuyền Hầu rồi thăng tới Trình Quốc Công mà dân gian quen gọi Ông là Trạng Trình. Người đời coi Ông là nhà tiên tri số một trong lịch sử Việt Nam đồng thời lưu truyền nhiều câu sấm ký được cho là bắt nguồn từ Ông và gọi chung là Sấm Trạng Trình. Trạng Trình cũng được coi là người đầu tiên trong lịch sử nhắc đến hai chữ Việt Nam một cách có ý thức nhất thông qua các văn tự của Ông còn lưu lại đến ngày nay. Ông có bài thơ viết về cảnh nhàn nổi tiếng, được xem là hay bậc nhất trong thi ca Việt Nam: "Một mai một cuốc một cần câu, thơ thẩn dầu ai vui thú nào, ta dại ta tìm nơi vắng vẻ, người khôn người đến chốn lao xao, thu ăn măng trúc đông ăn giá, xuân tắm hồ sen hạ tắm ao, rượu đến gốc cây ta sẽ uống, nhìn xem phú quý tựa chiêm bao").
  • Đối đáp với quan huyện Lê Kim Thằng:

Một hôm, nhân có lệnh của bọn chức dịnh bắt tất cả trẻ già trai gái làng Hoằng Bột phải ăn mặc chỉnh tề để đi đón quan huyện Lê Kim Thằng về làng hiểu dụ, Xiển Bột nghĩ ra ngay một kế. Xiển lẻn vào buồng ông nội lấy trộm chiếc áo thụng đỏ mặc vào, rồi đi thẳng ra đình, giả vờ chạy đi chạy lại lăng xăng ngay trước mặt quan huyện. Quan lấy làm lạ, cho lính gọi lại hỏi. Xiển Bột xưng tên họ và nói là học trò. Huyện Thằng liền mượn ngay việc ăn mặc ngộ nghĩnh của Xiển ứng khẩu đọc một câu, bắt phải đối:

vế ra: Áo đỏ quét cứt trâu
Xiển Bột đối ngay: Lọng xanh che đít ngựa
Huyện Thằng không ngờ bị một vố, tái mặt, dọa: "Thằng này láo! Ðã thế, phải đối thêm câu này nữa, không đối được, tao sẽ cho ăn đòn".
Thấy tóc Xiển đỏ hoe vì đãi nắng lâu ngày, Huyện Thằng liền ra câu đối: Học trò là học trò con, tóc đỏ như son là con học trò
Xiển không cần nghĩ ngợi lâu, đối tức khắc: Tri huyện là tri huyện Thằng, ăn nói lằng nhằng là thằng tri huyện!
Huyện Thằng tức ứa máu, nhưng vì Xiển đối rất chỉnh, không bẻ vào đâu được, đành mắng mỏ qua loa vài câu rồi đi thẳng.
  • Đối đáp với viên quan huyện hay nịnh bợ:

Có một viên quan huyện hay nịnh hót quan trên để chóng được thăng quan tiến chức. Một trong những viên quan hắn thường bợ đợ là án sát Nguyễn Văn Tiêu, tục gọi là án Tiêu. Ðể nịnh quan thầy, hắn ra lệnh cho dân hàng huyện không ai được nói đến tiếng "tiêu". Hễ ai thấy người nào trái lệnh thì được phép vả vào mồm ba cái thật đau, rồi đem trình quan trị tội. Lệnh ban ra khiến Xiển Bột rất ghét quan huyện, ông mang một ít quần áo rách mướp xin vào bái quan. Quan hỏi có việc gì, Xiển thưa là nhà nghèo quá, gia tài chỉ còn một ít quần áo rách, nhờ quan cầm hộ cho lấy ít tiền về làm vốn sinh nhai. Quan nổi trận thét mắng đùng đùng, vì xưa nay có ai dám đem quần áo rách đến bán cho quan bao giờ? Ðợi quan nguôi giận, Xiển mới nói: "Dạ thưa ngài, xin ngài thương kẻ học trò nghèo túng này, không gì cũng mang danh là người quân tử..."

Quan buột miệng nói: Quân tử cố cùng, quân tử cùng quân tử cố! (Người quân tử bền lòng lúc cùng khổ, quân tử lúc cùng, quân tử bền lòng – Luận ngữ)
Xiển Bột trần tình: Khổng Minh cầm túng, Khổng Minh túng Khổng Minh cầm (Khổng Minh bắt, Khổng Minh tha, khổng Minh bắt – Tam quốc diễn nghĩa: Khổng Minh bắt Mạnh Hoạch bảy lần lại tha)
Nghe câu nói khó hiểu, quan chau mày suy nghĩ một lúc mới biết lời mắng của mình với lời trần tình của Xiển đã làm thành đôi câu đối hay tuyệt. Câu của quan nói khó ở chữ cố, vì đây lấy nghĩa nôm là cầm cố và chữ cùng nghĩa nôm là cùng quẫn. Tài tình ở chữ cầm, lấy nghĩa nôm cầm cố như trên, chữ túng nghĩa nôm là túng tiền, vừa đối chữ vừa đối nôm. Quan phục tài Xiển Bột, thưởng cho một quan tiền, nhưng lại chọn cho cái thứ tiền chôn giấu dưới đất lâu ngày bị han rỉ hết cả. Xiển Bột đỡ lấy quan tiền, cầm một đồng dằn mạnh xuống đất, tiếng kêu nghe cành cạch, rồi nói: "Bẩm quan, tiền này không ớt được ạ!" Quan vô tình mắng: "Mày điên à! Tiền này mà không tiêu được ư?" Chỉ chờ có thế, Xiển Bột liền vả cho quan ba cái tát vào mồm như trời giáng. Quan hô lính bắt trói thì Xiển Bột nói: "Chắc ngài vẫn chưa quên cái lệnh kiêng tên húy quan án ngài mới ban ra. Tôi làm vậy cũng chỉ là thi hành cái lệnh ấy của ngài mà thôi!" Quan sợ bọn lính biết chuyện thì mình thêm xấu hổ, liền đuổi Xiển ra.
  • Câu đối tiễn quan phủ Thọ:

Quan phủ Thọ được thăng chức, sắp lên đường nhậm chức mới, nên mời Xiển Bột và một số quan bạn đến uống rượu chia tay. Trong bữa tiệc, quan phủ Thọ dương dương tự đắc khoe với mọi người, bước đường hoan lộ của mình luôn luôn được quan trên cất nhắc. Nhân lúc vui, Xiển xin phép được tặng quan một câu đối để ghi công đức ngài trong thời gian trị nhậm phủ nhà. Ý Xiển được mọi người tán thưởng. Xiển liền hắng giọng đọc ngay:

Vi phủ liêu, vi học chánh, vi đường quan chủ khảo, cách tự trung sơn
Đọc đến đây Xiển dừng lại, mọi người chờ Xiển đọc tiếp, nhưng Xiển nói vế thứ hai dành hôm quan lên đường đọc mới có ý nghĩa. Mấy ngày sau, gia đình quan phủ Thọ chuyển hết gia tài xuống thuyền. Khi thuyền sắp nhổ sào dời bến, Xiển mới tất tả chạy đến. Thấy Xiển, quan phủ Thọ vỗ vai, nói: "Ông còn nợ tôi vế đối đấy nhá!" Xiển đáp: "Dạ, bẩm quan, tôi xin trả".
Xiển hắng giọng đọc oang oang: Phi ôn hoàng, phi dịch lệ, phi thần khí ma vương, cô châu tống hải.
Xiển đọc xong, mặt quan tím như cục tiết gà . Quan vội vàng quát lính nhổ sào tếch thẳng.

Những câu đối của Đình Nguyên Hoàng Giáp Đào Nguyên Phổ (1861 - 1908)[sửa]

Đào Nguyên Phổ, tên thật là Đào Thế Cung, còn gọi là Đào Văn Mại, quê làng Thượng Phán-tổng Đồng Trực-huyện Quỳnh Côi (nay là thôn Thượng Phán, xã Quỳnh Hoàng, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình). Ông đỗ Cử nhân năm 1884, nhưng chưa dự thi Hội ngay, mà lại ra làm quan nhà Nguyễn. Ban đầu, Đào Nguyên Phổ được bổ chức Huấn đạo huyện Tam Nông tỉnh Hưng Hóa, rồi làm Tri huyện tại huyện Võ Giàng tỉnh Bắc Ninh. Sau vì để mất trộm tiền thuế của huyện, ông bị bãi chức, phải trở về đi dạy học trên địa bàn tỉnh Nam Định cũ (nay là cả hai tỉnh Nam Định và Thái Bình). Trong thời gian này, ông giao du với các chí sĩ yêu nước thời đó. Năm 1895, ông vào Huế, học tại trường Quốc tử giám. Đến Năm 1898, sau 3 năm học tại kinh đô, ông dự thi Hội và đỗ Đình nguyên Hoàng giáp. Ngay sau đó, ông được bổ chức Hàn lâm thừa chỉ. Năm 1902, ông từ quan, ra Hà Nội làm nghề nhà báo, viết cho Đăng cổ tùng báo và L'Annam, cùng tích cực truyền bá tư tưởng duy tân. Năm 1907, ông tham gia sáng lập trường Đông Kinh Nghĩa Thục, cùng với Lương Văn Can, Nguyễn Quyền...Sau khi Đông Kinh Nghĩa Thục bị đóng cửa, tiếp đến vụ đầu độc lính Pháp ở Hà Thành bị thất bại, Đào Nguyên Phổ bị người Pháp truy lùng ráo riết. Ông phải tự sát vào năm 1908 để khỏi bị Pháp bắt, cũng để giữ danh tiết đồng thời tránh hệ lụy cho gia đình và bạn bè.

  • Câu đối viết tặng Quảng Nam Tứ Hổ:

Đầu thế kỷ XX ở xứ Quảng Nam xuất hiện 4 danh sĩ gọi là "Quảng Nam Tứ Hổ", bao gồm: Trần Quý Cáp (1870 - 1908), Phạm Liệu (1872 - 1937), Phan Chu Trinh (1872 - 1926) và Huỳnh Thúc Kháng (1876 - 1947). Trong tứ hổ đất Quảng Nam thì Trần Quý Cáp là người chịu đau thương nhất, ông bị thực dân Pháp kết án tử hình sau phong trào chống thuế (1907). Chuyện học hành thi cử của ông Trần Quý Cáp cũng rất đặc biệt. Ông thi cử nhân không đỗ, nhưng thi Tiến sĩ lại đỗ ngay. Lại có chuyện khá thú vị là ông cứ kèm hai người bạn là Huỳnh Thúc Kháng và Đặng Văn Thụy (1858 - 1936) trong cả hai kỳ thi. Ở kỳ thi Hội, Huỳnh Thúc Kháng đỗ đầu, Trần Quý Cáp đỗ thứ hai, gạt Đặng Văn Thụy xuống thứ ba. Thi Đình thì Đặng Văn Thuỵ vượt lên thứ nhất, Trần Quý Cáp thứ nhì, Huỳnh Thúc Kháng xuống thứ ba. Do chuyện buồn cười này mà Đào Nguyên Phổ đã làm câu đối mừng ông Trần rất tài hoa và hóm hỉnh:

Tố Tiến sĩ vi dị, tổ cử nhân vi nan, ức ức dương dương, vô phi tạo vật (Đỗ Tiến sĩ thì dễ, đỗ cử nhân thì gay, ném xuống, tung lên, không qua trời định)
Áp Huỳnh Thúc ư Đình, áp Đặng Văn ư Hội, vinh vinh, quý quý, hà tất khôi nguyên (Lấn Huỳnh Thúc ở Đình, lấn Đặng Văn ở Hội, vinh này, quý ấy, chẳng cử đỗ đầu)
  • Câu đối dán ngoài cổng trường Đông Kinh Nghĩa Thục:
Lấy quốc ngữ làm chuông cảnh tỉnh, khua vang ngõ hẹp hang cùng
Đem báo chương thay đuốc văn minh, soi rạng miền Nam cõi Bắc

Những câu đối liên quan đến Tuần Phủ Ninh Bình Từ Đạm (1862 - 1936)[sửa]

Từ Đạm hiệu là Cúc Nhân, sinh tại xã Khê Hồi, huyện Thượng Phúc, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông (nay là xã Hà Hồi, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội). Ông là con Cử nhân Từ Tế, và là anh Phó bảng Từ Thiệp. Năm Giáp Ngọ (1894) đời vua Thành Thái, Từ Đạm thi đỗ Cử nhân, năm sau (1895) thi đỗ Tiến sĩ. Sau khi thi đỗ được bổ chức quan, lần thăng đến Tuần phủ tỉnh Ninh Bình, hàm Hiệp tá Đại học sĩ. Năm Bính Tý (1936) đời vua Bảo Đại, ông mất, thọ 74 tuổi. Sau khi Thế chiến 1914-1918 chấm dứt, Pháp thắng Đức. Triều đình Huế làm lễ mừng thọ ngũ tuần cho mẹ vua Khải Định, cùng lúc công sứ (chủ tỉnh) Ninh Bình ra lệnh mỗi xã góp ba chục (30) đồng để mua cờ Pháp (tam sắc). Đồng bạc lúc ấy lớn lắm. Tiệc hay cờ gì, dân cũng phải chịu. Bấy giờ Tuần Phủ Ninh Bình Từ Đạm có đưa một vế xuất:

vế ra: Tiệc thọ năm mươi mừng mẹ nước (Từ Đạm)
Lập tức ngày hôm sau trên báo chí đăng tải nhiều câu đối lại, trong đó có 2 câu hay nhất như sau:
vế đối 1: Túi tham nghìn vạn chết cha dân (Tản Đà)
vế đối 2: Bạc thuồn chục một chết cha dân (khuyết danh)
  • Nhân một cuộc đi chơi núi Dục Thúy nhân dịp tết Trùng Cửu, Từ Đạm có ra vế đối như sau:
vế ra: Cuối thu ngày chín lên chơi núi
Thấy vế thách đối có ý nghĩa tầm thường quá, ngay hôm sau trên báo chí đăng tin có nhiều người đối lại, nhưng nhằm đùa cợt châm biếm văn tài của y hơn là dự thi. Trong đó có 3 câu nổi bật hơn cả như sau:
vế đối 1: Đầu vú cô ba có sữa non (khuyết danh)
vế đối 2: Giờ tí canh ba xuống nhảy đầm (Tản Đà)
vế đối 3: Đầu trống canh năm, gọi thủng đồi (khuyết danh - Thủng Đồi nói lại lại là Đổi Thùng, đó là đổi thùng phân của các công nhân vệ sinh lúc sáng ở thành phố. Bấy giờ do ảnh hưởng của văn hóa phương Tây, ở các thành phố và thị xã cứ vào khoảng gần sáng là sở hoặc ty vệ sinh cho người đến từng nhà gọi cửa đổi thùng phân. Lấy cái ý đó mà đối lại cái sở thích của quan Tuần phủ họ Từ thì kể cũng mỉa mai)
  • Ðôi câu đối mượn tiếng truyện Kiều để chửi Từ Ðạm (khuyết danh):
Kiếp trước mơ màng con đĩ Ðạm (đây nói về Đạm Tiên)
Ðời sau gặp gỡ bố cu Từ (đây nói về Từ Hải)

Những câu đối của Phó Bảng Nguyễn Sinh Sắc (1862 - 1929)[sửa]

Tượng Nguyễn Sinh Sắc trong khu lăng mộ ở thành phố Cao Lãnh

Ông Nguyễn Sinh Sắc, người làng Sen (nay thuộc xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An), là con ông Nguyễn Sinh Nhậm và bà Hà Thị Hy. Theo các nghiên cứu được công bố gần đây thì bà Hà Thị Hy trước khi lấy ông Nguyễn Sinh Nhậm đã có quan hệ tình cảm với Cử Nhân Hồ Sĩ Tạo (1841-1907). Hồ Sĩ Tạo tự là Tiểu Khê, người làng Lai Nhã, xã Thái Nhã, tổng Võ Liệt, huyện Thanh Chương, nay là xã Thanh Khê, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Tuy nhiên cha mẹ bà Hy không đồng ý cuộc hôn nhân đó mà quyết định đem con gái gả làm lẽ cho ông Nguyễn Sinh Nhậm, lúc đó bà đã thụ thai con của ông Tạo, bởi vậy ông Nguyễn Sinh Sắc không phải con đẻ Nguyễn Sinh Nhậm, đó là nguyên nhân chính khiến lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sau này đã đổi tên thành Hồ Chí Minh để lấy lại nguồn gốc. Cha mẹ Nguyễn Sinh Sắc mất sớm, ông phải sống với người anh cùng cha khác mẹ, sau đó về làm con nuôi cụ Tú Hoàng Đường ở làng Hoàng Trù (tức làng Chùa, nay thuộc xã Kim Liên), ông được cụ Tú thương yêu cho ăn học và gả con gái cho (bà Hoàng Thị Loan). Thuở nhỏ nổi tiếng thông minh, năm 1894 ông đỗ Cử nhân. Năm sau không đậu kỳ thi Hội, dù gia cảnh nghèo, nhưng ông quyết tâm theo đuổi khoa cử; năm 1901, ông đỗ Phó bảng. Với quan niệm học để làm người chớ không phải học để làm quan; vã lại, trong hoàn cảnh đất nước bị thực dân Pháp thống trị, làm quan là làm tay sai cho giặc, là đắc tội với đồng bào, nên sau khi đỗ đạt, ông đã hai lần từ chối lời kêu ra làm quan của triều đình. Ông sống thanh đạm bằng nghề dạy học, nghiên cứu tân thư, kết bạn tâm giao với các sĩ phu yêu nước như Phan Bội Châu, Vương Thúc Quý, Phan Chu Trinh… và đặc biệt chú tâm dạy dỗ con cái. Năm 1906, khi không còn lý do thoái thác, ông đành phải ra nhận chức Hành tẩu bộ Lễ; song ông thường nói: “Quan trường thị nô lệ trung, chi nô lệ, hựu nô lệ” và răn dạy các con: “Dĩ vật quan gia di ngô phong dạng” (chớ lấy phong cách nhà quan làm phong cách nhà mình). Ông dạy con rất nghiêm khắc, song cũng rất tôn trọng nguyện vọng của con cái. Ông là một nhà Nho tiến bộ, cho rằng trung quân không phải là ái quốc, mà ái quốc là ái dân, tán thành chủ trương canh tân của Phan Chu Trinh, cho hai con trai vào học trường Pháp - Việt từ năm 1905. Năm 1909, ông được đưa vào Bình Khê (Bình Định) nhận chức Tri huyện. Nhân vụ một tên cường hào bị ông bắt giam rồi chết sau khi thả ra hai tháng, ông bị triều đình phạt 100 trượng, sau gián bốn cấp và thải hồi. Ông vào Phan Thiết tháng 3/1911, rồi đến Sài Gòn, cùng Nguyễn Tất Thành xuống Mỹ Tho gặp Phan Chu Trinh, trong lúc Phan Chu Trinh đang chuẩn bị sang Pháp. Ông đi khắp các tỉnh Nam Bộ và đôi lần sang tận Campuchia. Đến đâu ông cũng tìm cách quan hệ với các nhà sư, nhà Nho yêu nước, chính trị phạm của các phong trào Cần Vương, Đông Du, Duy Tân bị an trí, hoặc đang lẫn tránh mật thám Pháp… Ông giúp nhiều chùa ở Nam Bộ dịch, chú giải kinh, góp nhiều ý kiến cho phong trào Chấn hưng Phật giáo do hoà thượng Khánh Hoà khởi xướng. Hiện một số chùa còn bút tích và một vài câu đối nổi tiếng của ông. Năm 1917, ông về Cao Lãnh, kết thân với nhiều nhà Nho yêu nước trong đó có ông Lê Văn Đáng (Chánh nhất Đáng), Trần Bá Lê (Cả nhì Ngưu), gặp Võ Hoành (Cử Hoành). Ông Trần Bá Lê cất cho ông một gian nhà nhỏ để ông xem mạch cho toa và dạy nghề thuốc, ông ở Cao Lãnh đến hết năm 1919. Ông quan hệ với nhiều tổ chức Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội ở đồng bằng sông Cửu Long và thường xuyên bị mật thám bám sát theo dõi. Nhưng do ông rất cẩn thận, nên mật thám không có đủ chứng cứ để bắt ông. Đầu năm 1928, ông về ở Cao Lãnh. Tổ chức Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội ở Cao Lãnh, đứng đầu là Phạm Hữu Lầu, cho người sắp xếp ông về ở nhà ông Năm Giáo. Hàng ngày ông đến tiệm thuốc bắc Hằng An Đường ở chợ Cao Lãnh xem mạch ra toa, buổi chiều ở nhà làm thuốc. Người giàu, ông lấy tiền; người nghèo ông xem giúp và hốt thuốc không lấy tiền. Cuối tháng 11/1929, ông lâm trọng bệnh và qua đời, được đồng bào Hoà An, Cao Lãnh chôn cất tử tế bên cạnh chùa Hoà Long (phường 4, thành phố Cao Lãnh). Trong thời gian tập kết chuyển quân năm 1954, mộ ông được Bộ đội và đồng bào địa phương tôn tạo và bảo vệ trong suốt thời kỳ chống Mỹ. Sau năm 1975, mộ ông được kiến tạo to đẹp, được Bộ Văn hóa Thông tin (nay là Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch) công nhận là di tích văn hóa lịch sử cấp quốc gia. Hàng năm có đến hàng trăm ngàn lượt đồng bào trong nước và khách nước ngoài đến viếng.

  • Câu đối tế sống Tôn Sư Phạm Văn Thuấn:

Năm 1901, sau hơn 20 năm khổ học, tu luyện văn chương, kỳ thi hội này Nguyễn Sinh Sắc đậu phó bảng. Sau khi đỗ đạt vinh quy bái tổ, ông có đến thăm thầy dạy học là Phạm Văn Thuấn ở làng Vạn Lộc, huyện Nghi Lộc và tặng thầy đôi câu đối, ông đem lễ vật đến báo đáp công ơn dạy dỗ của thầy với lòng thành kính, nội dung câu đối như sau:

Đương vi tất vi lệnh danh dĩ di phụ mẫu (việc nên làm phải làm, nêu tên tốt để vui lòng cha mẹ)
Tích thiện phùng thiện, phúc hựu khán nhi tôn (tích thiện thì gặp điều thiện, có phúc đức thấy ở chỗ con cháu)
Cụ Đồ Thuấn hết sức cảm động, vội đỡ ông Sắc dậy, tỏ vẻ vui mừng trước tấm lòng hiếu nghĩa của cha con vị tân Phó Bảng.
  • Câu đối viết tặng chùa Hội Khánh ở Thủ Dầu Một - Bình Dương:
Đại đạo quãng khai thố giác khiêu đàm để nguyệt (Mở rộng đạo lớn như sừng thỏ như mò trăng đáy nước)
Thiền môn giáo dưỡng quy mao thằng thụ đầu phong (Nuôi dưỡng mái chùa như lông rùa như cột gió đầu cây)

Những câu đối của Nữ Sĩ Sương Nguyệt Ánh Nguyễn Thị Xuân Khuê (1864 - 1921)[sửa]

  • Sương Nguyệt Ánh là con gái thứ 5 của ông Đồ Chiểu, tên thật là Nguyễn Thị Xuân Khuê hiệu là Nguyệt Ánh, sau khi goá chồng mới thêm chữ Sương, thành biệt hiệu Sương Nguyệt Ánh (tục gọi cô Năm Hạnh). Một hôm, ông Đồ Chiểu vừa ra khỏi nhà, có 2 chàng thanh niên tên là Giảng và Xương đến mượn tiếng chơi cờ và bình luận thơ văn để tán tỉnh cô. Cô Năm Hạnh liền ra một vế đối: Đằng tiểu quốc, sợ Tề hồ, sợ Sở hồ (lấy ý trong bài thơ dịch trong sách Mạnh Tử nghĩa là: Đằng quốc xưa này phận nhỏ nhen, trên chi Tề-Sở ép hai bên, quay đầu sang Sở e Tề giận, ngoảnh mặt về Tề sợ Sở ghen)
Hai chàng nhăn mặt, bối rối tìm câu đáp lại. Giảng còn ngẫm nghĩ, Xương lên tiếng: Nga đại trượng, phạt quách hí, phạt Sở hí (lấy ý trong bài thơ dịch trong Hán Thư nghĩa là: có ai đương nổi gậy dài ta, ngang dọc tung hoành đủ lối mà, đánh Quách ghê hồn quân xếp giáp, phá tan quân Sở tiếng đồn xa)
  • Cô Năm thẹn, bỏ vào nhà trong; hai chàng nhìn nhau bối rối, lỡ ở lỡ về. Lát sau, một em bé ra trao cho hai chàng một mảnh giấy, vỏn vẹn có hai câu:
Chiêu Quân nhan sắc nghe ra uổng
Tây Tử phong lưu nghĩ lại buồn
::Câu này ngụ ý rằng: nàng Chiêu Quân lẫn nàng Tây Thi là cô Xuân Khuê đã chê cả hai chàng! Hai chàng ôm hận đành ra về. Chàng Giảng trách bạn: "Lại khoe "gậy" dài..." Chàng Xương nói: "Thì "đại" đối với "tiểu" chỉnh quá đi chứ!". Giảng nói: "Ừ chỉnh! Người ta vác "gậy" đuổi về đó!"
  • Ít lâu sau, Sương Nguyệt Ánh lấy phó tổng Nguyễn Công Tính, sinh được một bé gái là Nguyễn Thị Vinh thì chồng chết. Nhiều người "ngấp nghé", trong số đó có thầy Bảy Nguyệt nộp đơn với bài thơ tứ tuyệt:
Ai về nhắn với Nguyệt Anh Cô, chẳng biết lòng cô tính thế mô! không phải vãi chùa sao đóng cửa? đây lòng gấm nghé bắc cầu ô.
Sương Nguyệt Ánh họa: Chẳng phải tiên cô cũng đạo cô, cuộc đời dâu bể biết là mô! lọng sườn dầu rách còn kêu lọng, ô bịt vàng ròng tiếng vẫn ô.
Sợ Thầy Bảy vẫn theo đuổi, cô hoạ thêm một bài dứt khoát: Phải thời cô quả chịu thời cô, chẳng biết tuồng đời tính thế mô? dòm thây bụi trần toan đóng cửa, ngọc lành chi để thẹn danh ô.
  • Nhưng nào đã hết đâu những kẻ trêu hoa ghẹo nguyệt, một ông tên Phủ Học cũng gởi bài thơ bông lơn:
Phải gần với Nguyệt lúc lưng vơi, đặng hỏi Hằng Nga những sự đời, ở hạ mây mưa còn kém sắc, vì thu non nước tố cùng nơi, hay trông Dữu Lượng xây lầu trước, hoặc đợi Thanh Liêm cất chén vời? vóc ngọc há sờn cơn gió bụi, tài tình rõ mặt khó đua bơi
Sương Nguyệt Ánh đáp lại bằng bài thơ cự tuyệt: Đường xa vời vợi dặm chơi vơi, nghĩ nỗi mây xanh ngán tự đời, biển ái nguồn ân còn lắm lúc, mây ngàn hạc nội biết đâu nơi! một dây oan trái rồi vay trả, mấy cuộc tang thương há đổi vời! chước quỷ mưu thần âu những kẻ, gặp cơn nguy hiểm khó đua bơi!
Cũng như thầy Bảy Nguyệt, cô bồi thêm cho một bài nữa: Hết lúc trăng đầy đến lúc vơi, danh hưu trong cuộc phải coi đời, vén mây bắn thỏ xa ngàn dặm, dây ước cung thiên tỏ khắp nơi, nội tri đứa vang hiềm kẻ rạng, vui lòng đứa triết thú đua vời, khi dòng Hối thực ưng ra mặt, đứng giữa trời xanh tiết chẳng bơi!
  • Có lần, một người tên Phạm Đình Chi ở Mỹ Tho và có ý muốn được thử tài, mời Sương Nguyệt Ánh ra câu đối để kết duyên văn tự. Chẳng từ chối được, bà đành ra câu đối: Đình làng tôi chẳng phạm. Thưa ông, ông Phạm Đình Chi?
Đại ý là: "tôi đã không phạm và đình làng thì ông phạm vào làm gì, bà nhắc khéo ông kia rằng tôi không động chạm đến ông tại sao ông cứ gây rắc rối cho tôi". “Phạm” là xúc phạm, đụng chạm đến cái cần tôn trọng, “đình” là đình làng, chúng cùng âm với “Phạm Đình” (họ Phạm Đình); “phạm đình chi” (phạm vào đình gì) cùng âm với Phạm Đình Chi (tên riêng). Cách cùng âm này vốn đã rất khó, với người trong cuộc càng khó hơn (muốn đối lại, trước hết, phải tìm được một cái tên gồm ba âm tiết, có từ loại theo thứ tự động từ, danh từ và đại từ (tương ứng với tên Phạm Đình Chi), kết thành một tổ hợp có nghĩa,và nếu được, là tên của người ra vế đối càng tốt). Nhưng điều hóc búa ở chỗ nó gộp đủ cả tên họ của bản thân ông Phạm Đình Chi, do vậy nên nhà yêu thơ họ Phạm nghĩ nát óc mà cũng không tìm ra câu đối lại, đành rút lui.
Hậu bối Trường Văn Nguyễn Phước Thắng xin phép được đối: Nguyệt hồ tôi đẫm sương. Thưa cô, cô Sương Nguyệt Ánh! (Ánh trăng lòng hồ đẫm sương, nghĩa bóng là hình ảnh Bà đã chiếm trọn tấm lòng Ông ta, trong khi bà đã góa chồng (Cô sương có nghĩa là người đàn bà góa) mà Ánh Nguyệt vẫn sáng trong lòng sương phụ (nghĩa cụm từ: cô sương nguyệt ánh), nên Ông mong ước kết duyên...văn tự (!), chứ nào dám mạo phạm đến Bà!)
  • Tương truyền, lúc Sương Nguyệt Ánh ở Rạch Miễu, có một ông thầy thuốc trong làng đi xa, người vợ nhớ chồng đến cậy bà làm một bài thơ gửi thăm chồng. Bà liền viết một bài thơ như sau:
vế ra: Viễn Chí lưu hành tháng Mạch Đông, trách lòng Quân Tử quá Thung Dung, tơ duyên Tục Đoạn đành xao lãng, tình nghĩa A Dao khó mặn nồng, Quán Chúng ngậm ngùi thương Phụ Tử, Nhân Trần cám cảnh Bạch Đầu Ông, dù miền Sinh Địa tìm Khương Hoạt, cũng đoái Phòng Phong phận Quýt Hồng
vế đối: Cát Cánh về đâu thân Quế Chi, thương người Trinh Nữ buổi Đương Quy, cữa nhà Thục Địa riêng gồng gánh, duyên nợ Châu Trần nỡ bỏ đi, Kinh Giới thẩn thơ tình Đỗ Trọng, Hoài San ngơ ngẩn nghĩa Linh Chi, sầu dâng Thần Khúc chưa Cam Toại, mộng mãi Thiên Môn hóa Thạch Bì (Trường Văn Nguyễn Phước Thắng)

Những câu đối của Y Gia Nguyễn An Cư (1864 - 1949)[sửa]

Nguyễn An Cư (chú của nhà cách mạng Nguyễn An Ninh) là thầy thuốc đông y ở Hóc Môn. Nguyên quán của ông ở tỉnh Bình Định, sau vào cư ngụ ở Mỹ Hòa, huyện Hóc Môn, tỉnh Gia Định (nay thuộc thành phố Hồ Chí Minh). Cha là Nguyễn An Nghi là người có tâm và yêu nước nhưng bị thất bại. Tổ tiên gốc ở Hưng Yên, họ Đoàn, do chống lại chúa Trịnh nên phải trốn chúa Trịnh vào định cư ở Bình Định và đổi thành họ Nguyễn. Ông Nghi lưu tán vào Nam, lấy vợ là bà Dương Thị Tiền, quê ở Phước Quảng và sinh cơ lập nghiệp tại đây.

  • Câu đối ở của hiệu thuốc:
Đau tiếc thân, lành tiếc của, thói ở bạc đã quen
Mất lòng trước, được lòng sau, ai có tiền thì hốt (hốt thuốc)
  • Câu đối viết khi đi thi hỏng:
Nghển cổ cò trông bảng không tên: Giời đất hỡi, văn chương xuống bể!
Lủi đầu cuốc về nhà gọi vợ: Mẹ đĩ ơi, tiền gạo lên giời!
Câu đối tả cảnh xem bảng kết quả thi, thấy không đỗ, cắm cổ về nhà của thí sinh ngày trước. “Cuốc” (đi một cách cắm cúi) cùng âm với “cuốc” (chim cuốc). “Lủi đầu cuốc” có thể hiểu “cắm đầu cắm cổ cuốc bộ về nhà”, đồng thời, cũng có thể hiểu tương đương với thành ngữ “lủi như cuốc” (tả hành động đi nhanh về nhà, không nhìn một ai)

Những câu đối của Như Ý Bạch Sĩ Trần Cao Vân (1866 - 1916)[sửa]

  • Trần Cao Vân người làng Tư Phú, phủ Ðiện Bàn, tỉnh Quảng Nam, Lúc nhỏ có tên Trần Công Thọ, đi thi lấy tên Trần Cao Đệ, qui y lấy pháp danh Như ý, biệt hiệu Hồng Việt, Chánh Minh, Bạch Sĩ, khi hoạt động chống Pháp mới đổi tên thành Trần Cao Vân. Ông học rộng, văn hay nhưng thi không đỗ, người khảng khái và chín chắn. Ông nghiên cứu Kinh dịch, từng soạn ra sách Trung thiên dịch. Ông sinh trưởng vào lúc trong nước gặp nhiều biến cố nên sớm bước vào hoạt động chính trị. Ông bị tù nhiều lần nhưng vẫn tích cực hoạt động chống Pháp; có liên hệ với Phan Bội Châu, Nguyễn Thượng Hiền; sau âm mưu bạo động với vua Duy Tân. Năm 1886, ông vào tu tại chùa Cổ Lâm, rồi mở trường dạy học nhằm chiêu tập chiến hữu. Năm 1892, ông mở rộng địa bàn hoạt động vào Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên. Năm 1898, cuộc khởi nghĩa của Võ Trứ ở Phú Yên (do ông làm cố vấn) thất bại, ông bị bắt giam một thời gian. Sau ra tù được hai năm lại bị Pháp bắt nhốt ngục nhà lao Bình Định vì tội soạn "Trung Thiên Dịch", "Yêu thơ yêu ngôn" xúi nhân dân nổi loạn, sau đưa về giam ở Quảng Nam, đến 1907 mới được thả tự do. Năm 1908, phong trào Duy Tân lên cao, Pháp qui tội cho ông nên lại bắt đày ra Côn Đảo, đến 1914 mới được phóng thích. Năm 1915, ông và các đồng chí thành lập "Việt Nam Quang Phục Hội". Theo chương trình của Hội, cử Thái Phiên liên lạc với vua Duy Tân tổ chức khởi nghĩa đánh Pháp. Vua Duy Tân tán thành kế hoạch khởi nghĩa vào tháng 5/1916. Tương truyền, Trần Cao Vân ngay từ lúc còn ít tuổi đã tỏ ra rất có tài trong việc đối đáp. Năm mười ba tuổi, ông theo học một trường ở ngay làng. Thầy đồ dạy học rất cần mẫn, ngoài những giờ học hàng ngày, tối nào thầy cũng dạy thêm cho các trò tập đặt đối làm bài. Một hôm nhằm giữa bữa sáng trăng các trò đều đến đông đủ. Lúc vào học, ngay ở giữa trường có một cái đèn treo. Nhân đấy thầy đồ ra câu đối như sau:
vế ra: Ðèn treo giọi sáng bốn phương nhà
Trong đám học trò, Cao Vân bấy giờ là nhỏ tuổi nhất, đã lanh trí đứng lên đối lại rằng: Trăng tỏ chiếu soi muôn cụm núi
Thầy đồ khen câu đối ấy là xuất sắc; tuy lời lẽ giản dị không có gì, nhưng là câu ứng khẩu tự nhiên mà lại bao hàm một ý chí to lớn ở bên trong
  • Lại một lần nữa, Cao Vân đến nghe giảng sách ở nhà một ông cử nọ. Buổi giảng vừa xong, có người láng giềng đem biếu bà cử một mớ hành hương để làm giống. Sau khi người láng giềng về rồi bà cử bảo: "Hành này còn non mà đã tàn sớm thế này e giống không mạnh". Giọng miền Nam Trung bộ phát âm "tàn" ra "tàng", âm "không" ra "khổng". Ông cử nghe câu nói của vợ, thấy có ngụ ý vô tình mà độc đáo, bèn lấy đấy để ra đối cho học trò.
Ông đọc: Hành tàng giống Khổng Mạnh (Nghĩa là: Kẻ sĩ phải làm y như Khổng Mạnh, Mạnh Tử, đã dạy, lúc gặp thời thì nên hành động, lúc không gặp thời thì cần thoát tàng, phải ẩn náu mình đi)
Trong lúc học trò còn đang suy nghĩ, thì Trần Cao Vân đã ứng khẩu đối ngay: Cải hoá con càn khôn (Nghĩa là: Làm người đứng trong vũ trụ, xứng đáng là con của vũ trụ, con của càn khôn, thì phải được cải hoá, phải được giáo dục, rèn luyện, để ngày càng tiến bộ hơn. Câu này lại còn có nghĩa thứ hai, là giống rau cải càng để già chừng nào thì sau khi gieo vãi, con cải mọc lên càng khoẻ. (Giọng miền Nam Trung bộ, âm "càn" đọc cũng giống như "càng")
Tất cả mọi người đều chịu phục vế đối này. Không những đáp ứng đầy đủ những yêu cầu về nghệ thuật đối với vế ra, mà nó còn bao hàm một tinh thần tích cực hơn hẳn tinh thần thụ động của vế ra.
  • Khi thấy cảnh đất nước điêu tàn, tang thương do thực dân Pháp gây ra, Trần Cao Vân đã than rằng:
Ước gì gọi được ngài Hưng Đạo
Cùng lập công to thuở Bạch Đằng
  • Lúc Trần Cao Vân mới ở Côn đảo về được vài năm, nghe tiếng Vua Duy Tân tuy nhỏ tuổi nhưng thông minh và có khí tiết, ông liền tìm cách liên lạc để tuyên truyền, lôi kéo. Lúc đầu, Trần Cao Vân liên lạc với một viên đội thị vệ là Nguyễn Quang Siêu, nhờ đó mà ông biết được Vua Duy Tân thường ra chơi hồ Tĩnh Tâm. Trần Cao Vân bèn giả dạng một người câu ếch, lân la đến gần, và đọc những vần thơ cảm khái, lâm ly để khích động lòng yêu nước của Nhà Vua. Rồi cứ thế, cuộc gặp gỡ và giao thiệp bí mật giữa hai bên càng ngày càng khăng khít mãi. Ban đầu, vua tôi đàm luận với nhau về thơ văn, rồi dần dần bàn đến thời thế, đến khả năng một cuộc khởi nghĩa chống Pháp cứu nước. Trần Cao Vân muốn nhờ Vua dò xem ý tứ của Nguyễn Hữu Bài là viên quan thượng thư có thế lực lúc bấy giờ. Muốn công việc khỏi bị bại lộ, Trần Cao Vân đọc cho vua một vế đối thác lời Vua để thử Bài.
Vế đối rằng: Ngồi trên nước khôn toan việc nước, trót buông câu sở dĩ phải lần
Vua y lời, mời Nguyễn Hữu Bài vào cung thăm hỏi, cuối cùng vua đọc vế đối mà vua nói là chưa nghĩ ra được vế thứ hai và đề nghị Bài nghĩ giúp. Thấy vua có giọng cảm khái như vậy, Bài đối lại rằng:
Ngẫm sự đời mà ngán cho đời, liều nhắm mắt tới đâu hay đó
Trần Cao Vân nghe Vua truyền lại vế đối của Nguyễn Hữu Bài, biết là không thể trông mong gì về phía đó nữa.

Những câu đối của Sào Nam Phan Bội Châu (1867 - 1940)[sửa]

chân dung Phan Bội Châu

Phan Bội Châu, tên thật là Phan Văn San, tự là Hải Thu, bút hiệu là Sào Nam, Thị Hán, Độc Tỉnh Tử, Việt Điểu, Hãn Mãn Tử..v..v..Phan Bội Châu sinh tại làng Đan Nhiễm, xã Nam Hòa, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Cha ông là Phan Văn Phổ, mẹ là Nguyễn Thị Nhàn. Ông nổi tiếng thông minh từ bé, năm 6 tuổi học 3 ngày thuộc hết Tam Tự Kinh, 7 tuổi ông đã đọc hiểu sách Luận Ngữ, 13 tuổi ông thi đỗ đầu huyện. Thuở thiếu thời ông đã sớm có lòng yêu nước. Năm 17 tuổi, ông viết bài "Hịch Bình Tây Thu Bắc" đem dán ở cây đa đầu làng để hưởng ứng việc Bắc Kỳ khởi nghĩa kháng Pháp. Năm 19 tuổi (1885), ông cùng bạn là Trần Văn Lương lập đội “Sĩ tử Cần Vương” (hơn 60 người) chống Pháp, nhưng bị đối phương kéo tới khủng bố nên phải giải tán. Gia cảnh khó khăn, ông đi dạy học kiếm sống và học thi. Khoa thi năm Đinh Dậu (1897) ông đã lọt vào trường nhì nhưng bạn ông là Trần Văn Lương đã cho vào tráp mấy cuốn sách nhưng ông không hề biết nên ông bị khép tội hoài hiệp văn tự (mang văn tự trong áo) nên bị kết án chung thân bất đắc ứng thí (suốt đời không được dự thi). Sau cái án này, Phan Bội Châu vào Huế dạy học, do mến tài ông nên các quan đã xin vua Thành Thái xóa án. Nhờ vậy, ngay khoa thi hương tiếp theo, năm Canh Tý (1900), ông đã đậu đầu (Giải nguyên) ở trường thi Nghệ An. Năm 1904, ông cùng Nguyễn Hàm và khoảng 20 đồng chí khác thành lập Duy Tân hội ở Quảng Nam để đánh đuổi Pháp, chọn Kỳ Ngoại hầu Cường Để - một người thuộc dòng dõi nhà Nguyễn - làm hội chủ. Từ năm 1906, phong trào Đông Du đi vào hoạt động ngày càng rầm rộ trên cả ba miền đất nước, hàng loạt các tác phẩm của Phan Bội Châu được dịch từ chữ Hán ra chữ Quốc ngữ, gửi về nước. Từ năm 1907-1908 là thời kỳ phong trào Đông Du phát triển mạnh nhất với trên 200 lưu học sinh. Tháng 9/1908, khi các học sinh Trường Chấn Võ đang làm lễ tốt nghiệp thì Bộ Nội vụ Nhật hạ lệnh giải tán tổ chức học sinh Việt Nam, tịch thu các văn kiện, đuổi học sinh ra ngoài nước Nhật. Tháng 2/1909, Phan Bội Châu, Cường Để cũng bị trục xuất khỏi nước Nhật. Trước tình hình đó, Phan Bội Châu và các đồng chí của Cụ phải về lánh nạn ở Trung Quốc, qua Xiêm hoạt động một thời gian với mục đích chờ đợi những cơ hội mới. Ngày 30 tháng 6 năm 1925, ông bị thực dân Pháp bắt cóc tại Thượng Hải giải về nước xử án tù chung thân, mặc dù trước đó (1912) ông đã bị đối phương kết án vắng mặt. Trước phong trào đấu tranh của nhân dân cả nước đòi thả Phan Bội Châu, và nhờ sự can thiệp của Toàn quyền Varenne, ông được về an trí tại Bến Ngự (Huế). Trong 15 năm cuối đời, ông (lúc bấy giờ được gọi là Ông già Bến Ngự) vẫn giữ trọn phẩm cách cao khiết, không ngừng tuyên truyền tinh thần yêu nước bằng văn thơ, nên rất được nhân dân yếu mến.

Những câu đối tự thuật, viết tặng người khác và giai thoại trực tiếp[sửa]

  • Có lần, Ông Đồ Phổ (thân sinh Phan Bội Châu) cõng con đi chơi, lúc ấy Phan mới bốn năm tuổi, lội suối sang làng bên dạy học. Cùng lúc ấy có hai chị em dáng con nhà khá giả ra suối gánh nước. Biết cụ đồ Phổ hay chữ, chị em nhà nọ trêu: "Anh đồ, đối được thì qua, không đối được thì đừng qua".
Mời anh đồ đối : Cha áo thâm, con áo thâm, phụ tử hữu tình thâm chi nghĩa (Áo thâm là áo nhà nho thường mặc, “phụ tử hữu tình thâm chi nghĩa” là tình nghĩa cha con sâu nặng. Câu đối vừa nôm vừa Hán, rất khó đối)
Ngồi trên lưng cha, Phan Bội Châu đáp ngay: Chị trằm bạc, em trằm bạc, tỷ muội vô phận bạc chi duyên (Trằm bạc là đôi bông tai làm bằng bạc con nhà khá giả thường đeo. “Tỷ muội vô phận bạc chi duyên” nghĩa là chị em phận tình duyên không bạc. Người ra câu đối vừa hay, vừa hợp hoàn cảnh, người đối vừa chỉnh vừa sắc sảo).
Mới bốn năm tuổi, chưa đi học mà đối được như thế đúng là thần đồng. “Thâm1-2” (màu tối, gần với đen), “bạc1-2”(màu sáng; kim loại có màu trắng), là hai từ TV, cùng âm với “thâm3” (sâu, nồng thắm; trái với “thiển”), “bạc3” (mỏng, nhạt nhẽo; trái với “hậu”), là hai từ Hán Việt.
  • Các triều đều có sắc phong thần cho Tiến sĩ Phan Nhân Thọ, đến đời Phan Bội Châu là đời thứ 7 kể từ vị cao cao tổ khảo này. Phan Bội Châu có làm đôi câu đối ghi ở nhà thờ họ đại Tôn như sau:
Ư tộc điệp tắc vi ngã chi huynh, thất dật dặng linh, thiên vĩnh tích (Ở họ đó người đông như là rừng, đó là người anh tôi vậy! Tôi là đời thứ 7 họ đó, tích còn nhớ mãi)
Hành chú lý dị kỳ tử nhi hiểm, bách niên kế thụ, địa thường tân (Đi khắp nơi khắp chốn đều là anh em cả, trăm năm kế tiếp, càng ngày càng đổi mới)
  • Phan Bội Châu có để lại đôi câu đối ghi ở mộ tổ họ Phan - Hưng Tây như sau:
Địa phát đồng thời tam Tiến sĩ (Đất phát đồng thời ba Tiến sĩ)
Gia truyền nhất bản vạn nhi tôn (Nhà truyền một cội vạn cháu con)
Thần vị họ Phan thờ 3 vị Tiến sĩ là: Phan Nhân Thọ, Phan Sư Kinh và Phan Nhân Lục
  • Câu đối viết tặng chùa Từ Đàm - Huế:
Nghiệp duyên bình hiệp, niên niên bạch phát thôi, đối diện tức không, ninh bả thiều hoa phó lưu thủy (Nghiệp duyên như bèo hợp, năm năm tóc bạc đầu, trước mặt là không, sao nở đem tuổi xuân quăng theo dòng nước biếc)
Thế sự kỳ phân, xứ xứ hoàng lưu mộng, hồi đầu thị ngạn, nguyện phiên bối diệp xuất ưu đàm (Thế sự rối bàn cờ, nơi nơi kê vàng mộng, quay đầu là bến, nguyện dịch kinh bối diệp toả ngát hương ưu đàm)
  • Phan Bội Châu có lần vào nhà một ông thân sĩ giàu có, con cái đều đỗ đạt. Khi mới vào nhà, cụ Phan thưa: "Tôi ở miền Trung, đến đây tìm nơi dạy học, không may lỡ đường, xin gia đình giúp đỡ". Ông bố liền bảo người con vừa đỗ tú tài: "Mày ra cho anh ta một câu đối, nếu đối được thì dọn cơm đãi, bằng không thì đuổi đi".
Người con ứng khẩu đọc ngay: Quả ngôn viết khóa, nhất nhân khấu mệnh vi thùy (Tự xưng anh khoá, một mình đến gặp, ai thế?)
Vế ra khá hiểm: “quả 果” + “ngôn 言” = “khóa 課”. Và ba chữ: “nhất 一” + “nhân 人” + “khấu 叩” = “mệnh 命”.
Nghe xong, Phan Bội Châu lập tức đối lại: Nhập mỗ ngôn công, thiên lý hành xung thị ngã (Người xin nói chuyện từ ngàn dặm đến là tôi)
Vế đối cực kỳ tài tình! “nhập 入” + “mỗ 厶” = “công 公”. Và ba chữ: “thiên 千” + “lý 里” + “hành 行” = “xung 衝”. Vừa nghe qua, ông bố vội vã bước tới, đỡ lấy tay cụ Phan, cung kính hỏi: "Thưa ngài! Quý tính phương danh là gì, xin cho chúng tôi biết". Phan trả lời: "Tôi là Thủ khoa San". Ông bố thốt lên: "ối, giời ơi! Thật là danh bất hư truyền! Lâu nay, chúng tôi vẫn nghe tiếng ngài, bây giờ mới thấy đây..." Có thuyết khác lại cho rằng câu đối này là của Kỳ Đồng đối đáp với Tam Nguyên Yên Đổ
  • Phan Bội Châu với tư chất thông minh, từ nhỏ đã nổi tiếng "Thần đồng". Năm mười tuổi theo cha đi mừng thọ một cụ 80 tuổi, cậu San đã thay cha làm đôi câu đối mừng như sau:
Sơ Hồng Lĩnh, thuỷ Lam Giang tự cổ doãn xưng song giáp địa (Núi Hồng Lĩnh, dòng sông Lam từ xưa cùng nổi tiếng)
Văn khôi khoa, võ hiển hoạn, nhi kim phủ đổ bát tuần tiên (Văn đứng đầu, võ lừng lẫy, nay ông lại thọ những 80 tiên)
  • Phan Bội Châu tặng "Hàn Quốc tiên sinh":
Phong lôi thời đại tàm phi ngã (Thời đại phong ba hổ thẹn vì không làm được điều mà tôi mong muốn)
Cẩm tú sơn hà vọng hữu nhân (Non sông gấm vóc trông mong có người như anh)
  • Năm 1893, ông Lê Bảo thường gọi là Hoe Báu, người huyện Nam Đàn, là bộ hạ của tướng Cao Thắng trong nghĩa quân Phan Đình Phùng, đã phục kích giết được tên Một Phiến để trả thù cho chủ tướng đã bị hắn bắn chết. Lê Bảo bị bắt rồi bị giặc chém đầu. Phan Bội Châu đã làm câu đối điếu:
Nhất trận phục hồi thiên địa huyết (Một trận đánh làm sôi máu cả trời đất)
Đơn đao cát đoạn cổ kim sầu (Một nhát dao chém phắt - người anh hùng - xưa nay ai cũng phải đau buồn)
  • Năm 1900, nhân một người làng có bố vợ mất, vì nhà đó không có con trai chống gậy, con rể phải gánh trọng trách nhiệm đó, Phan Bội Châu làm giúp cho người này đôi câu như sau:
Nữ tắc viết vô, thiên lý khởi ưng vô thống hận (Con gái bị coi như không, nhưng lẽ trời há lại không đau xót)
Tử tuy vân bán, nhân tình tuy khả bán ai tư (Con rể tuy là phần nửa, mà người ai lại nửa sầu thương)
  • Sau khi đậu Giải nguyên, Phan Bội Châu tự bộc bạch ý mình qua đôi câu đối "Tự hạ" như sau:
Bất như ý thường bát cửu sự, sầu sinh liêm ngoại Tây phong (Không như ý thường tám chín việc, ngoài rèm căm tức ngọn Tây phong)
Hỗn thiết suy ư tam bách nhân, quí tử môn tiền Nam quách (Thổi sáo lẫn trong 300 người, trước cửa thẹn thùng chàng Nam Quách)
Phan Bội Châu vốn không thích khoa cử, nhưng cần phải có "cái hư danh để che mắt đời", ông dùng chữ "Tây phong" trong câu đối là ám chỉ sự căm tức đối với thực dân Pháp (phương Tây). Ông lại lấy tích "Nam Quách"để ám chỉ những kẻ bán nước "theo đóm ăn tàn"! Đó là theo tích Tề Tuyên Vương thích nghe thổi sáo, thường bắt 300 người cùng thổi một lúc. Chàng Nam Quách không biết thổi sáo, nhưng liền lẫn vào 300 người để kiếm lợi lộc. Sau Tuyên Vương mất,Tễ Mẫn Vương kế vị, cũng thích nghe thổi sáo, nhưng chỉ thích nghe riêng từng người thổi. Nam Quách thấy thế hoảng sợ, vội lẩn trốn ngay. Đây cũng như một lời nhắc nhở các Nho sĩ chớ học theo Nam Quách, chỉ là kể bất tài, Ham địa vị, theo đóm ăn tàn. Do vậy ông vẫn thường ngâm nga đôi câu đối sau:
Túc dạ bất vong duy trúc bạch (Khuya sớm những mong ghi sử sách)
Lập thân tối hạ thị văn chương (Lập thân hèn nhất ấy văn chương)
  • Phan Bội Châu viết đôi câu đối mừng "Tiến sĩ Nguyễn Mai" như sau:
Tao tế diệc thiên sở vi, hạnh bất sinh Đường Ngu tam đại dĩ tiền, kim bảng thạch bi, tiện chi ngô nhân hi thế sự (Nếu danh phận bởi trời cho, may không sinh Đường Ngu tam đại xưa kia, bia đá bảng vàng bất quá người ta bày chuyện nhảm)
Học giới chí kim tối thịnh, thỉnh thí vân Âu Á ngũ châu nhi ngoại, hồng thiên đại bút, quả như ngã bối quyết khoa (Việc học đến nay thịnh quá, xin hỏi thử Âu Á năm châu ngoài cõi , văn hay luận giỏi, đâu như khoa cử lối mình đây)
  • Một lần, Đặng Văn Thụy (đậu Hoàng giáp Tiến sĩ - Đình nguyên, làm quan Tế tửu Quốc tử giám Huế) đến thăm và đưa thư mình cho Phan Bội Châu đọc. Cụ Phan có ý chê Đặng Văn Thụy học thì có giỏi, thơ văn thì chải chuốt, nhưng không có ích lợi gì, qua đôi câu đối:
Mộc đạc hoặc giả thiên tính vi, đáo lão bất tri công học Khổng kinh tú tuyệt bút (Mõ gỗ hoặc giả trời đang làm gì, đến già cũng chưa biết, ông học sách họ Khổng mà biết đến tận cùng)
Cổ sắt kỳ như nhân bất kiến, tuy công hà bổ ngã khán tề khách tận xuy vu (Gảy đàn sắt người ta không thích nữa, tuy có công phu, nhưng không ích lợi gì, tôi xem sách nước Tề, đều là người thổi sáo vu vơ)
  • Trong cảnh nước mất, nhà tan, danh vọng làm gì có nữa khi con người đã mất quyền tự chủ. Đấy cũng là nỗi niềm canh cánh treo trước mắt và đè nặng một gánh trên vai Giải nguyên Phan Bội Châu qua đôi câu đối tự thuật:
Nhật nguyệt hai vừng treo trước mắt
Giang sơn một gánh nặng trên vai
  • Nỗi niềm ấy càng được phản ánh rõ nét hơn qua câu đối "Tự vãn" của ông:
Thiên hồ nhiên, đế hồ nhiên, tử dĩ đồ hư, cánh tích hưng trung mai Khổng, Mạnh (Trời thế ư? Vua thế ư? Chết cũng bằng không, chỉ tiếc trong lòng chôn đầy pho Khổng Mạnh)
Quốc như thử, dân như thử, sinh phục hà luyến, hảo tòng thế ngoại tác Hi, Hoàng (Nước dường ấy, dân dường ấy, sống sao khỏi thẹn, được ra ngoài cõi nằm khểnh học Hi, Hoàng) tức Phục Hi và Hoàng Đế
  • Phan Bội Châu đã từng làm câu đối "Tự vãn", để nói tình cảnh anh em Đông du lúc đầu mới sang Nhật còn bơ vơ đất khách, gặp nhiều khó khăn, nhưng rất mực thương yêu nhau:
Cô hồng thất mã cửu huynh đệ (Hồng cô ngựa chiếc chín anh em)
Vạn thuỷ thiên sơn đa tính danh (Muôn núi nghìn non nhiều tên tuổi)
  • Phan Bội Châu có đôi câu đối phúng điếu Vương Thúc Quý (thầy dạy Bác Hồ) như sau:
Sổ thập xích thô sơ thông, ảm đạm thiên thai, thượng ức biệt thời đinh chúc ngữ -(Đã mười năm, tin tức chẳng rõ, ảm đạm chân trời, còn nhớ nói lời đinh ninh hồi chia biệt)
Tiền lục nhật phí âm cương đáo, thê lương vũ ảnh, ná ham qui hậu đạm trường sinh (Sáu hôm rồi, tin buồn thình lình đến, mưa gió thảm thê, khốn nỗi cảnh tình làm đứt ruột người về)
  • Những âu đối khóc vợ:

1 - Câu đối khóc bà vợ cả:

Tình cờ đông khách năm châu, hơn 20 năm chồng có như không, cố đứng vững mới ghê, nuốt đắng ngậm cay tròn đạo mẹ
Khen khéo giữ nền bốn đức, gần 70 tuổi sống đau hơn thác, thôi về mau cho khoẻ , đền công trả nợ nặng vai con

2 - Câu đối khóc bà vợ lẽ:

Có chồng mà ở goá, mấy chục năm tròn, ơn trời gặp hội đoàn viên, vội bỏ đi đâu ? Trao gánh nặng nề về phần chị cả
Vì nước phải liều mình, biết bao bạn cũ, cõi phật đưa lời trân trọng, thiêng thời phải gắng, chung lòng hăng hái với thầy tôi
  • Đề đốc Cao Đạt quê ở Bàu Thượng, huyện Hương Sơn, chỉ huy Quân thứ Tình Diệm dưới trướng của Phan Đình Phùng, đã làm đôi câu đối "Khóc bà Phan Bội Châu" như sau:
Nghe nói bà, bà gian truân hiền phụ. Chồng vắng nhà lo tính vẹn trăm đường - Nhà còn tê ! nước còn tê ! Dâu bể cuộc tàn, vùi đất ngàn năm khôn nát ngọc
Nhắc hỏi ông, ông thất bại anh hùng. Vợ với nước thương yêu cùng một mối. Nước như rứa! vợ như rứa ! Non sông khí uất, đập trời một tiếng muốn quăng gươm
  • Phan Bội Châu cũng rất biết ơn những anh em đã theo cụ Đông Du, một lòng sống chết, đói khổ có nhau. Ông có đôi câu đối tặng Mai Lão Bạng như sau:
Kính phân sự nghiệp thiên đào chú (Trời trao nghiệp lớn nên rèn đúc)
Bất thế phong vân đế chủ trương (Chúa hẹn thời hay mới sắp bày)
  • Năm 1925 thực dân Pháp bắt cụ Phan giải về nước, giam ở Hoả Lò, bị ốm nặng sợ không qua khỏi, cụ Phan đã làm đôi câu đối :
Thất bại chi thị gia, ba đào bôn tẩu, biến thiên nhai hải giác nhị thập niên dự, nhất sự cánh vô thành, quyên huyết sơn hà vân cộng bích (Thất bại đến thế ư ! bôn tẩu với ba đào, khắp góc bể ven trời, hơn hai mươi năm, một việc cũng không thành, ra rả cuốc kêu, máu nhuộm non sông còn vết tím)
Tinh thần y nhiên hỉ; bút mặc tung hoành, dư á kiệt, Âu anh, sổ thiên lý ngoại, tái sinh chung hữu hạnh, dân quyền thế giới nhật tranh hồng (Tinh thần nguyên như vậy, dọc ngang nhờ bút lưỡi, với kẻ Âu người á xa vài nghìn dặm, sống thừa là hiếm có, tưng bừng dân chí, quyền tranh thế giới nổi tia hồng)
  • Và ông có làm một đôi câu đối tự viếng mình như sau:
Sinh bất năng trừ thiên hạ hoạn, tử bất năng tuyết ý trung cừu, thử hận du du, Lam thuỷ, Hồng sơn thiên cổ tại (Sống không trừ được lo thiên hạ, chết không rửa được thù ý trung. Mối giận dằng dai, sông Cả, núi Hồng muôn thuở đó)
Tiền hồ thử hí cục tương chung, hậu hồ thử vũ đài chính trúc, bức nhân đốt đốt, âu phong, á vũ bát phương lai (Hí cuộc trước đã sắp đến tàn, vũ đài sau chính đương sắp dựng, thúc người sôi sục, gió Âu, mưa á tám phương dồn)

Những giai thoại hát đối bằng thơ lục bát[sửa]

  • Làng Đan Nhiệm, xã Nam Hòa, Nam Đàn quê hương của Giải San nổi tiếng hiếu học. Những đêm trăng trai gái trong làng thường hát đối đáp. Trai một bên, gái một bên. Nơi hát là sân đình hay cánh đồng đầu làng. Khoảng cách để hát đối đáp khá xa, không dễ đoán dáng hình người hát. Mỗi bên đểu có người “bẻ câu”- thường là những người có học, hay chữ, ứng đối nhanh. Người “bẻ câu” bị đối phương gọi đúng tên tuổi là phải chịu thua hoặc nghe xong câu hát mà không đối được cũng thua. Thông thường phía bên nữ hát trước, họ cố “bẻ” những câu hóc búa, không phải cứ có chữ là trả lời ngay được, lần đó bên gái hát như sau:
vế ra: Nghe chàng đi học đi thi, cha ông Y Doãn tên chi hỡi chàng?
Sử sách Trung Quốc đâu có nói điều gì về cha ông Y Doãn! Phải trả lời sao đây? Người “bẻ câu” nghĩ chưa ra thì một chàng trai lên tiếng:
vế đối: Anh đây chẳng học chẳng thi, cũng biết cha anh Đĩ Doãn là cụ Cố Si Mậu Tài
Mọi người quay ra xem ai thì là Phan Bội Châu, ông “cố tình” nghe nhầm Y Doãn thành Đĩ Doãn. Ở Nghệ An ngày xưa sinh con đầu lòng là trai thì gọi là “bố cu”, sinh con gái gọi là “bố đĩ”, làng Mậu Tài có cụ Si cha anh “đĩ” Doãn thật. Thế là bên gái cũng phải bật cười, họ lại bẻ câu khác:
vế ra: Nghe chàng đi học đi thi, cá nằm dưới cỏ chữ chi hỡi chàng?
Cỏ là chữ “thảo”, cá là chữ “ngư”, ghép vào luận mãi không ra, thời gian gấp gáp, thôi đành trả lời cho có cái đã:
Phan đối bừa: Anh đây chẳng học chẳng thi, cá nằm dưới cỏ có khi cá tràu
Lại “nghe nhầm” nữa, chữ chi lại nghe ra cá chi. Biết hát nữa thì thua đến nơi, nên Phan Bội Châu chủ động hát lại trước: Dưới cỏ chỉ có chạch lươn, em mà đơm đó hắn trườn hắn vô. Bên nữ cười rúc rich, kéo nhau về nhà, vì biết hát nữa là bị chọc quê mà thôi.
  • Huyện Nam Đàn có "Tứ hổ" là: San, Đôn, Lương, Quý (tức là: Phan Văn San, Lê Bá Đôn, Trần Văn Lương, Vương Thúc Quý) đều đậu cử nhân. Riêng San (Phan Bội Châu) đậu Giải nguyên. Một lần họ rủ nhau đi hát phường vải ở xã Nam Kim, bị bên gái vặn hỏi:
Bốn chàng quê quán ở đâu? Xin tường danh tính để sau khuyên mời
Phan Văn San đã nhanh nhẹn thay mặt các bạn trả lời rằng: Nam Đàn tứ hổ là đây, San Đôn Lương Quý một bầy bốn anh
  • Có lần, Phan Bội Châu sang làng Xuân Hồ hát ví phường vải bị bên gái hỏi như sau:
Vua Nghiêu có chín người trai, Đan Chu là một hỏi còn ai tám người
Phan vò đầu vò tai mãi mà không biết trả lời ra sao; vì khi học Bắc sử chỉ thấy sách chép rằng vua Nghiêu có chín con trai, người đầu là Đan Chu, chứ tám người kia có thấy ghi tên đâu. Bí quá, Phan đành phải tìm cách đánh trống lảng vậy; bèn láu lỉnh vặn lại rằng:
Các em là phận nữ nhi, một Đan Chu cũng đủ, hỏi mần chi những tám người?
Thế là Phan đã chuyển bại thành thắng, chẳng những gỡ được thế bí mà còn quay lại tấn công nữa, làm cho cô nào cô nấy thẹn chín người. Và rồi lại đến lượt chính các cô đâm ra lúng túng không tìm được câu trả lờị..
  • Sau bao năm bôn ba hoạt động cách mạng, trở về thăm quê, đến cây đa đầu làng trời vừa đứng bóng, mấy cô ngày xưa cùng Phan Bội Châu đi hát đối đáp cũng vừa dưới ruộng lên. Vừa gặp nhau, có cô đã cất tiếng hát:
vế ra: Hay chi một cuộc cờ tàn, mà chàng Xe Ngựa một đoàn quá giang
Hàm ý nói việc Phan Bội Châu đưa thanh niên ra nước ngoài học tập để sau này chống lại Pháp trong khi Pháp đã bình định xong đất nước.
Phan Bội Châu đáp: Rất hay là cuộc cờ tàn, Mã lên chiếu bí Pháo toan chiếu trùng.
Một cô khác đưa Bội Châu nắm ngô rang, trêu chọc: Thiếp đưa chàng một đọi ngô rang, chàng gieo nơi mô cho mọc thiếp đốt nhang mời về.
Ngô rang thì gieo nơi nào mọc được? Không trả lời không xong, thôi thì đối đáp theo lối gian gian vậy:
Phan Bội Châu trả lời: Nơi mô mà nắng mãi không khô, mà mưa lâu không ướt đút vô mọc liền
Mấy cô thẹn đỏ mặt, cười: “Anh San vẫn hóm như ngày xưa”. Cũng có thuyết nói rằng Phan Bội Châu đi qua đám hát bội, thấy mấy chàng trai đang bí bèn ghé tới gà cho trả lời chớ dây không phải câu đối trực tiếp của Phan.

Những câu đối liên quan do người khác viết tặng hoặc phúng điếu[sửa]

  • Phan Bội Châu được dự thi Hương Khoa Canh Tý - Thành Thái 12 (1900) và đã xuất sắc đậu trường Nghệ An. Tên ông lại được chánh chủ khảo là Khiếu Năng Tĩnh cho yết riêng một bảng, vì có thành tích làm bài xuất sắc. Tổng đốc An Tĩnh là Đào Tấn tặng Phan Bội Châu đôi câu đối:
Song tải tam nguyên thiên hạ hữu (Hai năm, ba lần đỗ đầu thiên hạ vẫn có)
Độc danh nhất bảng thế gian vô (Nhưng một mình ghi danh riêng một bảng thì thế gian chưa từng thấy)
  • Cùng đậu Cử nhân khoa Canh Tý với Giải nguyên Phan Bội Châu có Nguyễn Thức Điểm, con trai thứ 3 của thầy dạy cụ Phan là Sơn phòng sứ Nguyễn Thức Tự. Vì đầu xứ San là học trò yêu, xuất sắc nhất nên thầy Son đã tin chắc San sẽ thi đậu cử nhân và cứ chờ tin mãi cho đến khi đậu. Thầy liền làm đôi câu đối mừng Phan Bội Châu và con trai đậu Cử nhân như sau:
Hoàng bảng khởi vô kì duyên hương giải tam niên tri ngã vọng (Bảng vàng không có duyên may, chắc hương giải tay người, đã ba năm cứ chờ tin mãi)
Thanh vân như hữu túc ước gia nhi nhất cử dự khoa đồng (Đường mây như có hẹn sẵn, trong nhà ta có một trẻ vừa đỗ khoa này)
Nguyễn Thức Tự (1841-1923) biệt hiệu Đông Khê; là quan nhà Nguyễn, là Tán tương quân vụ trong Khởi nghĩa Hương Khê, và là nhà giáo Việt Nam. Ông sinh ra tại làng Đông Chữ; nay thuộc xã Nghi Trường, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Tổ tiên dòng họ ông có nguồn gốc từ Thanh Hóa đến lập nghiệp tại Nghệ An vào thế kỷ 17. Đây là dòng họ có nhiều vị khoa bảng và nhân đức. Nguyễn Thức Tự sinh ra trong một gia đình gia giáo. Cha của ông là Nguyễn Huy Phước, một thầy thuốc giỏi, nhưng mất sớm (khi ông Tự mới 2 tuổi). Mẹ của ông là bà Hồ Thị Duyệt, là cháu gái Hoàng giáp Quận công Hồ Phi Tích. Ngay từ thuở nhỏ, ông Tự đã nổi tiếng là người học giỏi, biết trọng đạo lý, có lòng yêu nước và thương người. Năm Mậu Thìn (1868), ông đỗ Cử nhân, được bổ làm quan dưới triều Tự Đức, và lần lượt trải các chức vụ: Hậu bổ ở Hà Tĩnh, Tri huyện Thạch Hà, Tri huyện Hương Khê, Tri phủ Đức Thọ. Năm 1880, ông được cử làm Sơn phòng Chánh sứ Hà Tĩnh (nên người ta thường ông là cụ Sơn). Năm 1884, mẹ mất, ông xin về chịu tang rồi ở luôn tại nhà, không đi làm quan nữa. Triều đình cho mời nhiều lần, nhưng ông luôn từ chối, xin được ở nhà dạy học. Hưởng ứng dụ Cần Vương của vua Hàm Nghi, khoảng năm 1886, ông tham gia Khởi nghĩa Hương Khê, được cử giữ chức Tán tương quân vụ ở chiến khu Vụ Quang. Năm 1895, thủ lĩnh Phan Đình Phùng bị thương nặng rồi mất trong chiến khu [3], ông cùng một số chiến hữu rút vào rừng sâu. Bị quân Pháp khủng bố quá, lực lượng dần tan rã, nên một thời gian sau, ông lui về quê mở trường dạy học (trường Đông Khê). Vào những ngày tháng cuối đời, thầy Nguyễn Thức Tự vẫn luôn dõi theo tin tức của những người học trò, những người con đang làm nhiệm vụ cứu nước; đồng thời vẫn tiếp tục giáo dục tinh thần yêu nước cho nhân dân. Thầy thường tổ chức các buổi bình văn thơ tại nhà thờ với chuyên đề "xả thân thủ nghĩa"...thu hút đông đảo người nghe
  • Mai Lão Bạng ( ? – 1942): Còn có tên là Già Châu, quê làng Vang, xã Hưng Vĩnh (nay là phường Đông Vĩnh), thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Xuất thân trong một gia đình Công giáo, ông từng theo học ở Chủng viện Xã Đoài. Sớm có lòng nhiệt thành yêu nước, ông tích cực hưởng ứng phong trào Duy Tân, Đông du, dẫn đầu đoàn học sinh công giáo Nghệ An xuất dương sang Nhật. Sau đó, ông sang Trung Quốc tiếp tục hoạt động cứu nước bên cạnh Phan Bội Châu. Năm 1912 Việt Nam Quang Phục Hội được thành lập, ông được bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành phụ trách kinh tế. Đầu năm 1914 bị Tổng đốc Lưỡng Quảng Long Tế Quang bắt giam. Năm 1917 vừa ra tù, ông lại bị thực dân Pháp bắt đày ra Côn Đảo. Năm 1933 được trả tự do, ông trở về quê mở hiệu thuốc bắc “Lão Bạng y quán” và nhiều lần vào Huế thăm cụ Phan đang bị Pháp giam lỏng tại Bến Ngự. Mai Lão Bạng mất tại Nghệ An. Vào ngày 29/10/1940 sau khi nghe tin Phan Bội Châu mất, Mai Lão Bạng có đôi câu đối điếu như sau:
Bạch thủ công phân như, trấp niên thu hồ hải đính thâm giao, ngã quý vị năng đồng nhất liễu (Đầu bạc đã chia phôi, hai chục thu xưa, hồ hải ghi dấu thâm giao, tôi thẹn không cùng được chết)
Đan tâm ưng vị liễu, nhị thập kỷ giang sơn tương hoán sắc, công hồ bất giả sổ niên lưu (Lòng son còn chưa lạt, hai mươi thế kỷ, non sông sắp thay màu sắc, ông sao không cố vài năm)
  • Huỳnh Thúc Kháng có câu đối viếng Phan Bội Châu như sau:
Minh hồng bắc tỷ, oanh nhiên Đông học dũng phong trào, sử thế giới tri ngã Việt hữu nhân, sở vị quốc năng dĩ nhất thân trọng (Hồng bay sang bắc, gây làn Đông học năm xưa, để thế giới biết ta có người, cho hay nước được vẻ vang vì bác)
Sào điểu nam chi, quy dữ Tây Hồ tác tiên Phật, phóng đại thanh vị ngô bào đỗng khốc, viết y thiên hồ ngận nhị lão đi (Chim đậu cành nam, về tới Tây Hồ bạn cũ, vì đồng bào cất to tiếng khóc, rằng sao trời không để sót hai già)
Huỳnh Thúc Kháng (1876–1947) tự Giới Sanh, hiệu là Minh Viên (Vườn chè) hay đôi khi được viết là Minh Viên, là một chí sĩ yêu nước nổi tiếng Việt Nam. Ông từng giữ chức Viện trưởng Viện Dân biểu Trung Kỳ thời thuộc Pháp, Bộ trưởng Nội vụ, quyền Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nổi tiếng với tài năng, đức độ và lòng yêu nước, người dân Việt Nam thường nhắc đến ông với một tên gọi gần gũi: cụ Huỳnh. Ông là người làng Thạnh Bình, tổng Tiên Giang Thượng, huyện Tân Phước, phủ Tam Kỳ (nay thuộc xã Tiên Cảnh, huyện Tiên Phước), tỉnh Quảng Nam. Cha ông là Huỳnh Văn Phương, tự Tấn Hữu, xuất thân nhà nông hào nhưng cũng học qua Nho học, nhiều phen thi cử nhưng không đỗ. Mẹ ông là Nguyễn Thị Tình, người làng Hội An nhưng cư ngụ làng Phú Thị (nay thuộc xã Tiên Châu, huyện Tiên Phước), em ruột Phó bảng Nguyễn Đình Tựu. Nguyên tên ông là Huỳnh Văn Thước, là con trai thứ 3 và là con trai út trong nhà, nhưng vì 2 anh trai mất sớm, nên ông là người con trai duy nhất. Bởi sự kỳ vọng của song thân, từ nhỏ ông đã được rèn dạy để tiến thân bằng khoa cử. Ông bắt đầu học chữ Nho từ năm 8 tuổi dưới sự dạy dỗ của người cậu ruột là Tế tửu quốc tử giám Nguyễn Đình Tựu, đổi tên là Huỳnh Hanh, tự là Giới Sanh. Năm 13 tuổi đã văn hay chữ tốt. Năm 1900, ông đậu Giải nguyên kỳ thi hương năm Canh Tý 1900, được xưng tụng là một trong Thập Ngũ Phụng Tề Phi của đất Quảng Nam xưa. Năm Giáp Thìn 1904, ông đỗ Hội nguyên Hoàng giáp (tức Tiến sĩ thủ khoa). Năm 1926, ông đắc cử dân biểu rồi được cử làm Viện trưởng Viện Dân biểu Trung Kỳ. Trong ba năm hoạt động ở Viện, ông cương quyết tranh đấu trong nghị trường, rồi nhân việc chống lại Khâm sứ Pháp, ông từ chức. Năm 1927, ông sáng lập tờ báo Tiếng Dân - một tờ báo được xuất bản tại Huế vào năm 1927 và bị chính quyền thời bấy giờ đình bản năm 1943. Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh mời ông ra tham gia Chính phủ Liên hiệp lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với chức vụ Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Năm 1946, khi Hồ Chí Minh sang Pháp đàm phán, Huỳnh Thúc Kháng được cử làm Quyền Chủ tịch nước Việt Nam. Thời gian này ông còn là Chủ tịch Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam. Cuối năm 1946, ông là Đặc phái viên của Chính phủ vào cơ quan Uỷ ban Kháng chiến Hành chính Nam Trung Bộ tại Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi. Ngày 21 tháng 4 năm 1947, ông lâm bệnh nặng và mất huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi. Làm theo tâm nguyện của ông, nhân dân đã an táng ông trên đỉnh núi Thiên Ấn. Nơi đây là đệ nhất thắng cảnh của Quảng Ngãi.
  • Mai Khuê Nguyễn Thúc Dinh, Phó bảng khoa Đinh Mùi (1907), quê làng Xuân Liễu, đồng hương với Phan Bội Châu có câu đối điếu:
Nhiệt huyết nhất xoang sái hà địa (Một bầu nhiệt huyết lay động trời đất)
Cao danh thiên cổ trọng ư sơn (Muôn thuở nêu tên nặng tình nước non)
Nguyễn Thúc Dinh (1877 - 1953) sinh tại Nam Đàn, Nghệ An. Cha là Nguyễn Thúc Kiều (1850 - 1885) mất sớm, ông lớn lên nhờ sự nuôi dạy của mẹ và bà con bên ngoại. Ông được mẹ gửi đi học các ông tú trong 2 làng Hồ – Liễu. Khi sức học đã khá, mẹ ông cho đi học tập văn tại trường cụ Đông Khê Nguyễn Thức Tự, người làng Đông Chữ, xã Nghi Trường, huyện Nghi Lộc. Năm Canh Tý (1900) cả 2 ông Phan Bội Châu và Nguyễn Thúc Dinh đều đỗ Cử nhân tại kỳ thi Hương ở Nghệ An. Đến kỳ thi Hội năm Đinh Mùi (1907), ông Dinh đỗ đầu Phó Bảng. Năm 1908, ông qua Pháp học trường Hành chính thuộc địa. Từ năm 1909 cho đến năm 1931 ông phục vụ trong bộ máy chính quyền Nam Triều, kinh qua các chức vụ: Tri huyện, Tri phủ, Án sát, Thị lang, Phủ doãn, Bố chánh, Tuần vũ. Ông về hưu năm 1931 với hàm Thượng thư Bộ Lễ. Ông được thưởng Bắc đẩu bội tinh và Long bội tinh. Ông cũng đã từng được Triều đình cử làm Phó Chủ khảo trường thi Hương ở Thừa Thiên (1915), làm Tăng tế Đàn Nam Giao, làm quan duyệt quyển thi Đình (1919). Năm 1930-1931, phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh lên cao, thực dân Pháp hoang mang lo sợ. Chúng bắt Triều đình Huế phải đưa quan lại người địa phương về cai trị dân địa phương. Một hôm, viên Công sứ Pháp nói với ông Dinh là sẽ đưa ông về làm Tổng đốc Nghệ An. Ông không đồng ý. Thế là bọn Pháp ra lệnh cho Nam Triều cho ông về hưu sớm trước tuổi quy định. Cách mạng Tháng Tám thành công. Nận đói hoành hành. Ông tham gia đi phát chẩn, tham gia các tuần lễ quyên góp ủng hộ cách mạng, hội nhập phong trào Mùa đông binh sĩ, dự đấu giá áo lụa và chân dung Bác Hồ, cho mượn nhà mở lớp bình dân học vụ,… Ông là nhân sỹ trong Mặt trận Liên Việt. Trong cải cách ruộng đất (1952), ông bị coi là vi phạm luật về giảm tô giảm tức, bị kết án 10 năm tù, sau giảm xuống còn 5 năm vì có nhiều con là bộ đội, cán bộ nhưng toàn bộ tài sản đều bị tịch thu. Ông ở trại giam hơn 1 năm, vì tuổi già sức yếu ông lâm bệnh và mất ngày 31/03/1954(27 tháng 2 năm Giáp Ngọ), hưởng thọ 77 tuổi.
  • Câu đối viếng Phan Bội Châu chưa rõ tác giả:
乾坤翻覆以來間豈無轟轟烈烈好場誰似君家三攖虜刃再殉孤城幾回看寶劍掌中魂到九原猶殺賊 Càn khôn phiên phúc dĩ lai, gian khởi vô oanh oanh liệt liệt hảo trường, thùy tự quân gia, tam anh lỗ nhận, tái tuẫn cô thành, kỷ hồi khan bảo kiếm chưởng trung, hồn đáo cửu nguyên do sát tặc (Trời nghiêng đất ngả đến nay, há không trường liệt liệt oanh oanh, ai như nhà ông, ba người đánh giặc chết, hai bận giữ thành cô, bao lần xem báu kiếm trong tay, hồn đến suối vàng còn giết giặc)
身世浮沈至此日常抱鬱鬱孛孛奇氣欲揮吾手拔崑崙山平芹徐海一聲語姪兒海外身先同志厲誅仇 Thân thế phù trầm chí thử, nhật thường bão uất uất bột bột kỳ khí, dục huy ngô thủ, bạt Côn Lôn sơn, bình Cần Giờ hải, nhất thanh ngữ diệt nhi hải ngoại, thân tiên đồng chí lệ tru cừu (Bẩy nổi ba chìm là thế, ôm cái chí uất uất bột bột, muốn giơ tay tớ, san phẳng núi Côn Lôn, lấp bằng bể Cần Giờ, một tiếng gọi cháu trai ngoài cõi, hàng đầu đồng chí gắng phanh thù)

Những câu đối của Hoàng Giáp Nguyễn Thượng Hiền (1868 - 1925)[sửa]

Hoàng giáp Nguyễn Thượng Hiền, tự Đỉnh Thần, hiệu Mai Sơn, quê làng Liên Bạt, huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội, ông là con rể của Phụ Chính Đại Thần Tôn Thất Thuyết. Ông là con quan Hoàng Giáp Nguyễn Thượng Phiên. Ông rất thông minh, thuở thiếu thời đã nổi tiếng thần đồng. Năm 1884, mới 16 tuổi, ông đi thi Hương lần đầu tiên và đổ cử nhân ở trường thi Thanh Hóa. Năm 1885, ông đỗ đầu kỳ thi Hội nhưng chưa kịp xướng danh thì kinh thành Huế thất thủ, ông lui về ở ẩn tại núi Nưa, Thanh Hóa. Ðến năm 1892, ông lại thi Ðình và đỗ Hoàng Giáp, lúc đó 24 tuổi, ông được bổ làm Toản Tu ở Quốc Sử quán, rồi thăng Ðốc học ở Ninh Bình, Nam Ðịnh.Xuất thân từ một gia đình phong kiến, quý tộc nhưng đau lòng trước cảnh nước mất nhà tan, thông cảm với nỗi điêu đứng của nhân dân, Nguyễn Thượng Hiền đã sớm có ý thức làm cách mạng. Trong thời gian ở Huế, ông tìm đọc “Ðại Thế Thiên Hạ Luận ” của nhà sư Nguyễn Lộ Trạch, đọc nhiều tân thư của Trung Quốc, kết giao với nhiều sĩ phu yêu nước như Tăng Bạt Hổ, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng … Chính nhờ Nguyễn Thượng Hiền mà một số sĩ phu yêu nước Việt Nam đầu thế kỉ XX đã biết đến những tư tưởng duy tân tiến bộ của Nguyễn Lộ Trạch và nhất là những tư tưởng mới mẻ trong tân thư Trung Quốc. Từ năm 1898, qua giao tiếp với Tăng Bạt Hổ, Nguyễn Thượng Hiền đã quyết chí “Ðông du” nhưng vì phụ thân bệnh nặng nên ông đành ở lại và tự nhận nhiệm vụ vận động cách mạng trong nước.Năm 1907, sau khi thọ tang cha, ông tìm cách sang Trung Quốc cùng hoạt động với Phan Bội Châu trong Duy Tân Hội rồi Việt Nam Quang Phục Hội, thực hiện ý chí cứu nước từ thuở thiếu thời. Ông mất tại Hàng Châu, Trung Quốc (28-12-1925). Theo di chúc, thi hài ông được hỏa táng, nắm tro tàn được rải xuống sông Tiền Ðường để linh hồn ông theo dòng nước ra biển Ðông về lại với quê hương.

  • Những câu đối tự thuật:
Tảo dục vi mai, vãn vi cúc (Sớm thì muốn làm hoa mai, muộn làm hoa cúc)
Động đương như thủy, tĩnh như sơn (Khi động nên (linh hoạt) như nước, khi tĩnh nên (yên định) như núi)
一車陌上潘安果 Nhất xa mạch thượng Phan An quả (Một cỗ xe trên đường nhận đầy quả như Phan An). Phan An: tức Phan Nhạc, tự An Nhân, người đời Tấn vốn người hào hoa, thuở trẻ thường ôm đàn đến Lạc Dương, các cô gái thường vây quanh tung những quả cây vào người chàng.
三載墙東宋玉花 Tam tải tường đông Tống Ngọc hoa (Ba năm ở tường đông nhận đầy hoa như Tống Ngọc). Tống Ngọc: Người nước Sở thời Chiến Quốc, là học trò của Khuất Nguyên. Thương thày bị ruồng bỏ đã viết tác phẩm Cửu biện để tỏ rõ chí mình, quý trọng nghĩa khí của ông nhiều người mang hoa đến tặng.
  • Câu đối tặng nhà sư chùa Hương Tích:
千山到眼青如洗 Thiên sơn đáo nhãn thanh như tẩy (Mắt nhìn nghìn núi xanh như rửa)
一水澄心白欲無 Nhất thuỷ trừng tâm bạch dục vô (Lòng trong nước suối sạch bùn nhơ)
  • Câu đối tặng Tá Lý Phan Huy Dũng
當花判事香生筆 Đương hoa phán sự hương sinh bút (Xét việc như hoa thơm ngọn bút)
引月留賓玉滿壺 Dẫn nguyệt lưu tân ngọc mãn hồ (Mời trăng giữ khách ngọc đầy bầu)
  • Câu đối tặng Nội Các Trương Trọng Hữu:
四海皆傳紅杏句 Tứ hải giai truyền hồng hạnh cú (Bốn biển lan truyền lời tốt đẹp)
一生多傍紫微居 Nhất sinh đa bạng tử vi cư (Một đời những dựa chốn cung vi)
  • Câu đối tặng Hải Dương Trần Sinh:
邀客南窗角易五月 Yêu khách nam song trường ngũ nguyệt (Tháng năm mời khách rượu nam song)
結蘆東海夢三山 Kết lư đông hải mộng tam sơn (Nhà cỏ biển đông mộng đỗ )
  • Câu đối đề ở nhà sách chốn Kinh Kỳ:
忽憶青山歸夢遠 Hốt ức thanh sơn quy mộng viễn (Bỗng nhớ lui về với núi xanh, giấc mơ ấy xa vời)
獨於塵世小声多 Độc ư trần thế tiểu thanh đa (Riêng cõi trần này nhiều tiếng cười quá)
  • Câu đối đề ở ngôi nhà nhỏ:
夢起樓薹花作雨 Mộng khởi lâu đài hoa tác vũ (Tỉnh dậy lâu đài hoa làm cơn mưa)
醉餘林壑月如霜 Tuý dư lâm hác nguyệt như sương (Say khướt núi rừng trăng mờ như sương)
  • Câu đối đề ở Đông Sảnh Bộ Hình:
春風不怒千花笑 Xuân phong bất nộ thiên hoa tiếu (Gió xuân chẳng giận nghìn hoa hé)
秋水無心四海平 Thu thủy vô tâm tứ hải bình (Thu thủy vô tâm bốn biển bình)
  • Câu đối viếng ông Hiệp Biện Đại Học Sĩ Trần Đình Túc (1818-1899):

Trần Đình Túc quê làng Hà Trung xã Gio Châu huyện Gio Linh tỉnh Quảng Trị, quan đại thần thời vua Tự Đức nhà Nguyễn, từng giữ các chức Tổng đốc Hà Ninh (Hà Nội, Ninh Bình), Hiệp biện Đại học sĩ. Trần Đình Túc là một trong những đại thần chủ chốt trong việc nghị hòa với người Pháp, khi Pháp xâm lược Việt Nam, ông giữ vai trò Chánh sứ trong việc thương thuyết ký kết Hoà ước Quý Mùi (Hiệp ước Harmand) (1883) với Pháp, thừa nhận Nam Kỳ là thuộc địa của Pháp, đồng thời chấp nhận nền bảo hộ của Pháp ở Bắc kỳ và Trung kỳ, chính thức chấm dứt nền độc lập của Đại Nam.

松菊猶留高士詠 Tùng cúc do lưu cao sĩ vịnh (Tùng cúc còn lưu thơ vịnh bậc cao sĩ)
江山不改老臣思 Giang sơn bất cải lão thần tư (Lòng vị lão thần không đổi thay với non sông)
  • Những câu đối viết ở Tịnh Thất:
千樹碧雲情入畫 Thiên thụ bích vân tình nhập họa (Mây biếc nghìn cây, hòa bức họa)
一簾紅雨曉催詩 Nhất liêm hồng vũ hiểu thôi thi (Mưa hồng rèm cửa, sáng làm thơ)
聽鳥夢回修竹外 Thính điểu mộng hồi tu trúc ngoại (Nghe chim hót, mộng về ngoài khóm trúc)
焚香心在古書中 Phần hương tâm tại cổ thư trung (Đốt hương tâm tưởng ở trong sách cổ)
  • Những câu đối đề ở căn phòng trên núi:
皓月梅花香古屋 Hạo nguyệt mai hoa hương cổ ốc (Hoa mai dưới trăng sáng nhớ mùi hương nhà cũ)
夕陽秋影淡孤山 Lịch dương thu ảnh đạm cô sơn (Bóng thu trong ánh chiều màu ngọc cô sơn nhàn nhạt)
千壑樹声樵子雨 Thiên hác thụ thanh tiều tử vũ (Tiếng cây vang nghìn hang động, đó là cơn mưa của người hái củi)
一山花氣酒人風 Nhất sơn hoa khí tửu nhân phong (Khí sắc hoa trên núi, gió đưa mùi rượu của người (dân bản)
瀆罷南花心似水 Độc bãi Nam Hoa tâm tự thuỷ (Đọc hết bộ Nam Hoa kinh lòng trong tựa nước)
夢來東海氣為雲 Mộng lai Đông Hải khí vi vân (Mộng về Đông Hải hơi nước thành mây)
  • Những câu đối đề ở nhà trên núi:
十里江花双燕影 Thập lý giang hoa song yến ảnh (Mười dặm sông hoa đôi bóng én)
四更山月萬松声 Tứ canh sơn nguyệt vạn tùng thanh (Canh tư trăng núi vạn thông reo)
此心不住同明月 Thử tâm bất trụ đồng minh nguyệt (Lòng này chẳng ở cùng trăng sáng)
滿眼相宜有菊花 Mãn nhãn tương nghi hữu cúc hoa (Tràn mắt ta say có cúc hoa)
湖山卜隱梅花國 Hồ sơn bốc ẩn mai hoa quốc (Chọn chỗ ở ẩn nơi núi non sông hồ vùng có hoa mai)
風雨懷人菊酒天 Phong vũ hoài nhân cúc tửu hoa (Nhớ người sương gió trở về ủ rượu đúng mùa cúc nở)
  • Những câu đối đề ở tăng xá:
至今始覺禪理妙 Chí kim thủy giác thiền lý diệu (Đến nay mới hiểu lý luận thiền học là kỳ diệu)
於此能令詩夢清 Ư thử năng linh thi mộng thanh (Nơi đây có thể làm cho thơ và mộng đều trong sáng)
青山初地傳三昧 Thanh sơn sơ địa truyền tam muội (Nơi truyền bá tam muội thuở đầu là chốn núi xanh). Tam muội: thuật ngữ nhà Phật: lấy sự yên tĩnh, xa lánh tà loạn làm cứu cánh, tìm thoát khỏi mọi ràng buộc của xã hội
白社尊風净六塵 Bạch xã tôn phong tịnh lục trần (Phong cách tôn nghiêm của Bạch xã(4) làm trong sạch lục trần). Bạch xã: tức Bạch Liên xã, chỉ nhóm tu hành của pháp sư Huệ Viễn đời Tấn, tu hành tại chùa Đông Lâm trên núi Lư Sơn. Chùa có trồng sen trắng. Lục trần hay lục căn: thuật ngữ nhà Phật chỉ: nhãn (mắt); nhĩ (tai); tỵ (mũi); thiệt (lưỡi); thân (mình); ý (ý kiến, ý muốn). Đây là gốc rễ bản năng của con người
  • Những câu đối đề ở nhà sách:
荷風滿搨瀆佳史 Hà phong mãn tháp độc giai sử (Đọc sử hay như có mùi hương đầy giường chiếu)
竹月當窗來可人 Trúc nguyệt đương song lai khả nhân (Người tốt đến, đó là trăng đưa bóng trúc tới bên song)
玉芝出世千年瑞 Ngọc chi xuất thế thiên niên thụy (Nấm ngọc chi ra đời là dấu hiệu nghìn năm tốt lành)
仙鶴橫秋萬里心 Tiên hạc hoành thu vạn lý tâm (Hạc tiên bay ngang mùa thu giục giã lòng muôn dặm)
  • Những câu đối đề ở biệt thự riêng tại Hạc Châu:

Hạc Châu là tên làng thuộc phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Khi Nguyễn Thượng Hiền làm Đốc học Nam Định có làm một ngôi nhà nhỏ ở đây.

去山不遠多珠草 Khứ sơn bất viễn đa châu thảo (Tới núi không xa nhiều cỏ quý)
與月同來有可人 Dữ nguyệt đồng lai hữu khả nhân (Theo trăng cùng đến có người thân)
帶花晓吸晴江水 Đới hoa hiểu hấp tình giang thuỷ (Múc nước sông trong tưới hoa từ sáng sớm)
隔竹春咱小院鶯 Cách trúc xuân thinh tiểu viện oanh (Cách khóm trúc nghe tiếng xuân qua chim oanh nơi viện nhỏ)
  • Câu đối đề ở hòn Non Bộ:
要填滄海無窮恨 Yếu điền thương hải vô cùng hận (Uất hận đến vô cùng cần lấp biển)
且補乾坤有限春 Thả bổ kiền khôn hữu hạn xuân (Thanh xuân thời có hạn, đất trời bù)
  • Câu đối mừng thọ ông Tạ Quang Lộc tuổi 80:
青山白髮熙朝隱 Thanh sơn bạch phát hy triều ẩn (Núi xanh đầu bạc ẩn đời thịnh)
瑞桂芳蘭陸地仙 Thụy quế phương lan lục địa tiên (Quế ngọt lan thơm tiên cõi trần)
  • Câu đối đề tại hành dinh khi làm quan ở trong kinh:
吟成直欲凌風去 Ngâm thành trực dục lăng phong khứ (Thơ đã thành muốn xông thẳng vào gió bay đi)
遊罷何當載月歸 Du bãi hà đương tải nguyệt quy (Cuộc chơi qua rồi sao còn muốn chở trăng về)
曉露啼鶯双阙樹 Hiểu lộ đề oanh song khuyết thụ (Rặng cây hai bên cửa khuyết chim oanh hót trong sương sớm)
春風歸馬二橋花 Xuân phong quy mã nhị kiều hoa (Hoa hai bên cầu, ngựa trở về là lúc gió xuân nổi)
  • Câu đối đề ở nhà quan của bạn:
高齋讀史心如鏡 Cao trai độc sử tâm như kính (Hiên vắng đọc sách lòng như gương sáng)
清宦栽花日似年 Thanh hoạn tài hoa nhật tự niên (Quan thanh trồng hoa đẹp ngày tựa năm)
  • Câu đối đề ở phòng sách thành Thăng Long:
落陽標致花當户 Lạc Dương tiêu trí hoa đương hộ (Cảnh trí tiêu biểu thành Lạc Dương là nhà nào cũng có hoa) Lạc Dương là thành phố nay thuộc tỉnh Hà Nam (Trung Quốc) từng là nơi đóng đô của nhiều triều đại phong kiến Trung Hoa.
江左風流燕上堂 Giang Tả phong lưu yến thượng đường (Có bậc phong lưu ở Giang Tả(10) thì chim yến làm tổ ở trong nhà) Giang Tả: chỉ vùng đất tả ngạn sông Trường Giang nay thuộc tỉnh Giang Tô (Trung Quốc), từng có nhiều người tài.
  • Câu đối chúc mừng Phan Huy Dũng được thăng chức:
家在青山眈靜久 Gia tại thanh sơn đam tĩnh cửu (Đam mê sự yên tĩnh đã lâu nên nhà ở chốn non xanh)
人如玉樹得春多 Nhân như ngọc thụ đắc xuân đa (Được mùa xuân tưới tắm nhiều nên con người đẹp như cây ngọc)
  • Câu đối viết tặng Hoàng Giáp Hoàng Bính (1857 - ? ):

Hoàng Bính là một nhà nho của xã Bích Khê, tổng Bích La, huyện Thuận Xương, phủ Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị (nay thuộc huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị). Ông đỗ Cử nhân xuất thân năm Kỷ Mão 1879, được bổ làm Giáo thụ lĩnh chức Huấn đạo ở phủ Triệu Phong. Sau khi thi Tiến sĩ, ông làm Tri huyện, rồi Tu thư. Ông đỗ Hoàng giáp vào khoa Kỷ Sửu (1889), khoa thi đầu tiên của đời vua Thành Thái cũng là năm đầu tiên ông vua này trị vì.

喜聞舊雨逢春早 Hỷ văn cựu vũ phùng xuân tảo (Mừng nghe mưa cũ gặp xuân sớm)
誰向青山得月多 Thùy hướng thanh sơn đắc nguyệt đa (Ai dõi non xanh ánh nguyệt tràn)
  • Câu đối viết tặng ông già Lê Duy Thụy ở Đông Các:
客來愛咱能言鳥 Khách lai ái thính năng ngôn điểu (Khách đến thường yêu chim biết nói)
人静常看稱意花 Nhân tĩnh thường khan xứng ý hoa (Người ưa tĩnh mịch thích xem hoa)
  • Câu đối viết tặng bạn:
不如掩卷山迎客 Bất như yểm quyển sơn nghinh khách (Không gấp sách lại, để cho núi đón khách)
且復啣杯月笑人 Thả phục hàm bôi nguyệt tiếu nhân (Thì lại ngậm chén để cho trăng cười người)
  • Câu đối đề ở Đạo Viện:
月地雲天同太古 Nguyệt địa vân thiên đồng thái cổ (Trời đất mây trăng đều thái cổ)
茶香經卷入清朝 Trà hương kinh quyển nhập thanh triêu (Trà hương kinh sách nhập mai) trong
  • Câu đối viết tặng bạn ở nhà riêng bên bờ Hương Giang:
双阙晴雲千户柳 Song khuyết tình vân thiên hộ liễu (Có) rặng liễu của nghìn hộ trong mây tạnh nơi cửa vua
一江春水二橋煙 Nhất giang xuân thủy nhị kiều yên (Và) làn khói của hai cây cầu một dòng sông xuân chảy
  • Câu đối ngẫu hứng ngày xuân viết đề ở nhà quan Bộ Hộ:
南極山川如好畫 Nam cực sơn xuyên như hảo hoạ (Núi sông ở chót phía nam như bức tranh đẹp)
東風薹榭有清詩 Đông phong đài tạ hữu thanh thi (Đài tạ lộng gió đông lại có thơ hay)
  • Những câu đối viết trong buổi tân hôn:
彩鳳银箫天外侶 Thái phượng ngân tiêu thiên ngoại lữ (Phượng màu, sáo bạc bạn ngoài trời)
桃花紅酒意中人 Đào hoa hồng tửu ý trung nhân (Hoa đào, rượu hồng mới là ý trung nhân)
仙洞松雲朝唤酒 Tiên động tùng vân triêu hoán tửu (Buổi sớm đã gọi rượu khi mây còn mơ màng trong động tiên)
玉樓花雨夜談經 Ngọc lâu hoa vũ dạ đàm kinh (Ban đêm rì rầm đọc kinh khi hạt mưa còn đẫm trên hoa trong lầu ngọc)

Những câu đối của Ông Tú Vị Xuyên Trần Tế Xương (1870 - 1907)[sửa]

Trần Tế Xương tự là Mặc Trai, hiệu Mộng Tích, Tử Thịnh; lúc nhỏ bố mẹ đặt tên là Trần Duy Uyên, người làng Vị Xuyên, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Ðịnh; nay thuộc phố Hàng Nâu, Nam Ðịnh). Ông đậu Tú tài năm Giáp Ngọ (1894) nên người đời thường gọi ông là Tú Xương. Ông thuộc dòng dõi nho gia, vốn là họ Phạm, tổ tiên ông lập công lớn dưới thời Nhà Trần nên được phong quốc tính (đổi theo họ nhà vua). Ông lận đận về đường khoa cử: đi thi từ năm 15 tuổi nhưng hỏng hoài, mãi tới năm 24 tuổi (1894) mới đỗ Tú tài; sau đó lại trượt Cử nhân 5 khoa liền. Mãi sau đó dù kiên trì đeo đuổi, ông vẫn không đỗ được Cử nhân. Khoa Quý Mão (1903), ông đổi tên thành Trần Cao Xương với hy vọng bớt vận đen, nhưng rồi hỏng vẫn hoàn hỏng. Ông cưới vợ rất sớm, bà Phạm Thị Mẫn, một cô gái quê, có với nhau 8 người con - 6 trai và 2 gái. Nhà nghèo, con đông, nghề dạy học của ông lại bấp bênh trong thời kỳ Nho học suy tàn nên mọi chi tiêu trong gia đình đều do một tay bà Tú quán xuyến. Đang lúc còn đeo đuổi nghiệp khoa cử thì ông đột ngột qua đời, cuộc đời 37 ngắn ngủi của ông toàn nằm trong giai đoạn bi thương của đất nước, ông dũng