Câu đối về các danh nhân thời Lê, Mạc

Bộ sưu tập danh ngôn mở Wikiquote
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Lê Bôi[sửa]

Lê Bôi, tên thật là Phạm Bôi, người làng Địa Linh, nay thuộc làng Đông Linh, xã An Bài, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình. Vì ông được mang quốc tính nên sử ghi là Lê Bôi, ông lập công lớn trong cuộc chiến chống quân Minh. Sau khi đại thắng, Lê Lợi lên ngôi, Lê Bôi lại ra sức giúp vua an dân trị quốc. Đình Đông Linh thờ bảy anh em ông họ Phạm qua nhiều thế hệ, được duy tu tôn tạo thành ngôi đình lớn, còn tồn tại đến ngày nay. Đình nay còn lưu giữ được các bức đại tự “Địa linh nhân kiệt” và hai câu đối có giá trị, nói rõ sự nghiệp vĩ đại của Lê Bôi và các chiến hữu của ông:

Thất vị hạp lương năng, thinh khiếu đãng bình, danh tướng anh thanh đằng Bắc địa.
Nhất môn chung vĩ tích, Lê Triều ban tặng Phúc thần dị tướng túc Nam thiên.

Tạm dịch:

Bảy vị gộp tài năng, đáp lời dẹp giặc, danh tiếng anh hùng lừng đất Bắc.
Một nhà chung công lớn, Lê triều ban tặng Phúc thần, danh tướng dậy trời Nam.

Và:

Nguyệt đán Cao Bình Tam sĩ phẩm, văn minh tiến bộ tứ dân công.
Thiên cổ Lam Sơn lưu vĩ tích, ức niên Đông địa lẫm ninh thanh.

Tạm dịch:

Ngày tháng Cao Bằng hàm Tam phẩm, Văn minh tiến bộ ơn dân nước.
Muôn thuở Lam Sơn lưu vĩ tích, ức năm yên thịnh đất Đông Linh.

LÊ ĐÌNH KHIÊM[sửa]

Ở làng Hà Nữu - nay thuộc địa phận thôn 2 và thôn 7 xã Quảng Khê, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa có di tích nhà thờ Lê Đình Khiêm - danh tướng trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn (1418 - 1427). Lê Đình Khiêm tên tự là Phú Thiện, là một trong những danh tướng của Lê Lợi tham gia nhiều trận chiến và lập được nhiều chiến công. Ông được nhà vua ban sắc phong tặng là Đô Chỉ huy sứ, Hùng Vũ đại vương. Để ghi nhớ công lao đức nghiệp của tướng quân Lê Đình Khiêm trong công cuộc bình Ngô phục quốc ở thế kỷ XV, con cháu họ Lê Thế đã xây dựng nhà thờ để hương khói phụng thờ. Hiện nay trong nhà thờ còn lưu giữ được hai đôi câu đối:

“Chỉ huy đô sứ nam thiên tướng
Hùng vũ uy linh bắc địa thần”

Và:

Đại tướng gia ban tăng cấp tiến
Tước vương đắc tuyển điện tiền phong

Câu đối về Lê Lai[sửa]

Lê Lai người gốc Mường, thôn Dựng Tú, huyện Lương Giang (Thanh Hoá). Năm 1418, Lê Lợi bị quân Minh vây chặt. Lê Lai đã khoác cẩm bào của Lê Lợi ra trại quân Minh khiêu chiến, Lê Lai xung trận giết giặc rồi kiệt sức, bị quân Minh bắt hành hình. Lê Thái Tổ mất ngày 22 tháng 8 nhuận âm lịch, trước khi mất có dặn phải làm giỗ Lê Lai trước một ngày, tức là ngày 21 tháng 8. Đền thờ Lê Lai thuộc làng Tép, xã Kiên Thọ, huyện Ngọc Lặc. Xưa kia vùng này có tên gọi là thôn Dựng Tú, sách Đức Giang, phủ Thanh Hóa. Trong đền hiện có câu đối do vua Lê Thánh Tông ban tặng như sau:

黎朝顯迹忠良將 Lê triều hiển tích trung lương tướng (Bậc tướng trung lương của Lê triều)
南國芳名上等神 Nam quốc phương danh thượng đẳng thần (Vị thần lừng danh của Nam quốc)

Câu đối về Thái Sư Cương Quốc Công Nguyễn Xí (1397 - 1465)[sửa]

Đền thờ Nguyễn Xí tại xã Nghi Hợp, huyện Nghi Lộc, Nghệ An Nguyễn Xí, sinh tại làng Thượng Xá huyện Chân Phúc (nay là xã Nghi Hợp, huyện Nghi Lộc) tỉnh Nghệ An. Lê Lợi lên ngôi hoàng đế, Nguyễn Xí trở thành một trong số đệ nhất khai quốc công thần, được ban quốc tính thuộc họ Lê. Khi nhà Lê bị Lê Nghi Dân chiếm đoạt ngôi vua, Nguyễn Xí đã lập mưu giả mù để diệt trừ bọn phản loạn, đưa Lê Thánh Tông lên ngôi. Trong đền thờ ngài ngày nay, có câu đối của vua Lê Thánh Tông ban tặng:

“Hà nhật tinh thiên thu chính khí
Phụ tử huynh đệ vạn cổ anh phong”

Dịch nghĩa:

Sông núi trời sao ngàn thu hùng khí
Cha con anh em muôn thủa anh hào

Và 1 câu đối khác do hậu thế cung phụng:

"Bát loạn yên dân, nguyễn tướng uy hùng dương Bắc địa
Bình Ngô khai quốc công thần cảnh liệt chấn Nam thiên"

Dịch nghĩa:

"Tướng quân dẹp loạn yên dân vang lừng trên đất Bắc
Trung thần bình Ngô dựng nước, oanh liệt rộn trời Nam"

Phạm Văn Xảo, Phạm Tri Vận, Phạm Thị Trần và Phạm Liên[sửa]

Tại từ đường Phương Trạch, có cốt chủ thờ thân mẫu Lê Nguyên Long, tức Lê Thái Tông (1434-1442) là Phạm Thị Trần. Cuốn gia phả chữ Hán viết năm Minh Mệnh thứ 10 (1829), vì lý do nào đó, 8 đời trước không truy cứu được, cho nên tôn đời thứ bảy lên làm đời thứ nhất. Điều này được thể hiện trong đôi câu đối tại từ đường hiện nay như sau:

Thất đại di lưu đồng tộc phả
Nhất thù ấm tý ngũ chi phương

Phạm Thị Trần có hai người anh trai là Phạm Văn Xảo, Phạm Tri Vận và người em trai là Phạm Liên. Gia đình họ Phạm này quê gốc ở vùng kinh lộ Thăng Long nay là Hà Nội. Vì lánh nạn phải chuyển cư vào Thanh Hóa và hưởng ứng cuộc khởi nghĩa Lam Sơn của Lê Lợi. Phạm Văn Xảo là một trong bốn vị tướng chỉ huy cao cấp nhất và lập công lớn nhất trong trận quyết chiến chiến lược Tốt Động – Chúc Động. Sau khi đánh đuổi được quân Minh, tháng 3 năm Thuận Thiên thứ nhất (1428), Phạm Văn Xảo được ban quốc tính, được thăng hàm Thái bảo. Năm sau tên ông được khắc ở hàng thứ ba trong bảng danh sách các khai quốc công thần, thăng hàm Thái phó, tước Huyện Thượng hầu. Nhưng vinh vừa đến thì họa kèm theo, Phạm Văn Xảo bị bọn gian thần dèm pha, rồi bị giết hại. Phạm Thị Trần là hoàng hậu thứ nhất của Lê Lợi. Bà sinh ra Lê Nguyên Long, sau nối ngôi vua là Thái Tông hoàng đế.

  • Mùa thu năm Đinh Mão, niên hiệu Bảo Đại thứ hai (1927), ông Phạm Văn Năm chi họ Phạm Thư Điền cung tiến đôi câu đối hiện còn treo ở đình Nam như sau:
Tích hiển đông phong, phượng chiếu lịch triều long tự điển
Nê lưu xuân trảo, hồng viên tuỳ xứ ngưỡng phương huy

Tạm dịch:

Dấu cũ sắc vua ban, còn mãi sáng ngời trong lịch sử
Vết xưa chim hồng đậu, vẫn lưu rạng rỡ với danh thơm

Ở từ đường họ Phạm làng Thư Điền, bốn câu thơ chữ Hán còn truyền lại đã là điều đáng chú ý:

Sơn hà Nam quốc xuân cẩm tú
Phạm tộc Thư Điền đức lưu quang.
Tứ tự cao minh ân hoàng thượng
Tư nguyên hà ẩm khai Quế hương.

Câu thứ ba “Tứ tự cao minh ân hoàng thượng” đã chứng tỏ cả hai ngôi từ đường đều treo bức đại tự HỘI THỐNG TÔN NGUYÊN. Bốn chữ này còn được lặp lại trong đôi câu đối trước cửa của từ đường họ Phạm Thư Điền:

“Tả chiêu hữu mục đại Đường tổ cách dĩ lai
Hội thống tôn nguyên triệu Tống đức yêm tri hậu”

Nguyễn Trãi (1380 - 1442)[sửa]

  • Đối đáp với Nữ Học Sĩ Nguyễn Thị Lộ (1400 - 1442):

Nguyễn Trãi hiệu là Ức Trai, quê ở Chi Ngại (Chí Linh, Hải Dương) sau dời về Nhị Khê (Thường Tín, Hà Tây). Năm 1407, giặc Minh cướp nước ta, ông tìm theo Lê Lợi. Đầu năm 1428, quét sạch quân thù, ông hăm hở bắt tay vào xây dựng lại nước nhà thì bỗng dưng bị nghi oan và bắt giam. Sau đó ông được tha, xin về Côn Sơn ở ẩn. Tương truyền, lúc còn làm quan trong triều, sau một buổi chầu trở về, qua Hồ Tây, Nguyễn Trãi gặp một cô gái đi bán chiếu rong. Rung động trước vẻ đẹp tuyệt trần của cô gái, tâm hồn thi sĩ bỗng nhiên lên tiếng:

Nàng ở đâu ta bán chiếu gon, chẳng hay chiếu ấy hết hay còn? xuân thu chừng độ bao nhiêu tuổi, đã có chồng ch­ưa đư­ợc mấy con?
Ngư­ời con gái nhìn thẳng vào vị đại thần, tình tứ đu­ng đư­a cặp mắt lá răm: Thiếp ở Tây Hồ bán chiếu gon, nỗi chi ông hỏi hết hay còn? xuân xanh vừa độ trăng tròn lẻ, chồng còn chư­a có hỏi chi con?
Nguyễn Trãi thấy đối đáp trôi chảy, trong lòng xốn xang. Hỏi tên biết nàng là Thị Lộ, quê làng chiếu Hải Triều, Thái Bình, mới đem về c­ưới làm vợ lẽ. Nguyễn Thị Lộ là ng­ười vợ tâm đắc nhất của Nguyễn Trãi, nàng lại được phong làm Lễ nghi nữ học sĩ trong triều và được Lê Thái Tông (1434- 1442) rất yêu mến. Năm 1442, Lê Thái Tông đi duyệt binh ở Hải Dương và mất đột ngột ở Lệ Chi Viên, Bắc Ninh. Thị Lộ vì mối quan hệ thân cận với nhà vua cũng có mặt trong khi vua chết; do đó triều thần đã vu oan cho Nguyễn Trãi tội sai nàng hầu giết vua, rồi đem tru di cả 3 họ Nguyễn Trãi.
  • Câu đối của Vinh Lộc Đại Phu Nguyễn Mộng Tuân (1380 - ? ) viết tặng khi đến chơi nhà Nguyễn Trãi ở Côn Sơn:
一條水冷知三館 Nhất điều thuỷ lãnh tri Tam quán (Nhà quan Tri Tam quán sự mà lạnh lẽo như một dòng nước)
四壁家貧冨六經 Tứ bích gia bần phú lục kinh (Bốn vách trống trải xác xơ nhưng rất giàu sách vở)
Nguyễn Mộng Tuân tự là Văn Nhược, người làng Phủ Lí, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa (nay là xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa). Ông tên thật là Vũ Mộng Nguyên người làng Viên Khê, năm 21 tuổi sau khi thi đỗ liền đổi tên thành Nguyễn Mộng Tuân. Đời Lê Thái Tông, ông giữ chức Trung thư lệnh rồi Khinh xa đô úy. Đời Lê Nhân Tông ông giữ chức Tả Nạp ngôn, rồi Tri quân dân Bắc đạo, cùng Bình chương Lê Thụ đi đánh Chiêm Thành, trở về được vinh phong là Vinh Lộc đại phu.
  • Những câu đối khắc ở đền thờ Nguyễn Trãi tại xã Nhị Khê huyện Thường Tín thủ đô Hà Nội:
勲業赫南邦文謨武略 Huân nghiệp hách Nam bang, văn mô vũ lược (công lớn dậy trời nam, tài văn mưu võ)
科名留越史國廟鄕祠 Khoa danh lưu Việt sử, quốc miếu lương từ (danh cao ghi sử Việt, miếu nước đền làng)
謀王將略爭天地 Mưu vương tướng lược tranh thiên địa (mưu vị tướng giúp vua, so với trời đất)
憂國臣心照斗奎 Ưu quốc thần tâm chiếu đẩu khuê (lòng bề tôi lo việc nước, sáng như sao Đẩu sao Khuê)
  • Những câu đối do Lập Trai Phạm Quý Thích (1760 - 1825) viết về Nguyễn Trãi:
事業文章開國首 Sự nghiệp văn chương khai quốc thủ (Văn chương sự nghiệp công khai quốc)
旂常帶礪故家聲 Kỳ thường đái lệ cố gia thanh (Cờ biển non sông tiếng cố gia)
功存開國藍山錄 Công tồn khai quốc Lam Sơn lục (Công lao khai quốc, sách sử cũ
慶衍傳家故邑祠 Khánh diễn truyền gia cố ấp từ (Cúng tế truyền đời, thôn ấp xưa)
英雄氣魄依高廟 Anh hùng khí phách y cao miếu (Cao miếu anh hùng còn khí phách)
翊濟勲勞感聖朝 Dực tế huân lao cảm thánh triều (Thánh triều tả hữu vẫn khuông phù)
功齊藍岳千峯峙 Công tề Lam nhạc thiên phong trĩ (Lam lĩnh công lao nghìn ngọn thẳm)
慶共蘇江一帶流 Khánh cộng Tô giang nhất đái lưu (Tô giang phúc trạch một giòng xuôi)
Phạm Quý Thích tự: Dữ Đạo, hiệu: Lập Trai, biệt hiệu: Thảo Đường cư sĩ; ông sinh ở xã Hoa Đường, huyện Đường An, phủ Thượng Hồng, tỉnh Hải Dương (nay thuộc huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương). Năm Kỷ Hợi (1779), ông đỗ Tiến sĩ lúc 19 tuổi, được bổ Đông các hiệu thư, rồi lần lượt trải các chức: Hàn lâm viện hiệu thảo, Kinh Bắc đạo Giám sát ngự sử, Thiêm sai tri Công phiên. Ngày 29 tháng 3 năm Ất Dậu (16 tháng 5 năm 1825) Phạm Quý Thích mất, hưởng thọ 65 tuổi.

Trần Nguyên Hãn (1390 - 1429)[sửa]

Trần Nguyên Hãn là dòng dõi nhà Vua, cháu 7 đời của Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải. Ông sinh tại làng Gốm Sơn Đông là một xã trung du ở phía Nam huyện Lập Thạch - Vĩnh Phúc, có dòng Lô Giang và sông Phó Đáy bao quanh. Suốt 10 năm kháng chiến chống quân Minh, ông luôn là một vi tướng tài với các trận đánh nổi tiếng: Xương Giang, Chi Lăng, Đông Quan. Đất nước thanh bình ông được phong Tả tướng quốc và xin về quê hương lập ấp sinh sống, nhưng lại bị bọn nịnh thần đố kỵ gièm pha là ông có mưu làm phản. Nhà vua nghe lời đã triệu hồi ông vào kinh, Trần Nguyên Hãn đã trẫm mình trên dòng sông Lô ở bến Đông Hồ. Ngày nay ở đền thờ ông vẫn còn đôi câu đối:

Lam Sơn tướng nghiệp tồn linh địa
Lô Thuỷ thần tâm đổi nghĩa thiên

Có nghĩa:

Sự nghiệp làm tướng đất Lam Sơn còn mãi với đất thiêng này
Lòng trung quân của người bầy tôi trên dòng sông Lô là có trời biết

Những câu đối khắc ở bia mộ Trạng Nguyên Nguyễn Trực (1417 - 1473)[sửa]

Nguyễn Trực tên chữ là Công Dĩnh, hiệu Hu Liêu. Năm 26 tuổi đỗ đầu thi Đình (Đệ nhất giáp, đệ nhất danh tiến sĩ) đứng đầu 33 tiến sĩ cùng khoá - cuộc thi do đích thân vua ra đề và chấm. Chuyện kể rằng: Khi đi sứ, bằng tài thơ phú và đối đáp, ông được vua Minh mến mộ và mời dự kỳ thi Đình. Không ngờ, ông lại đỗ đầu, vì thế nên được vua nhà Minh phong “Lưỡng quốc trạng nguyên”. Lăng mộ Trạng nguyên Nguyễn Trực ở trang Tây Tựu, thảo đường núi Thịnh Mỹ, thôn Đại Lại, xã Bạch Thạch, huyện Mỹ Lương (nay thuộc xóm Vinh Quang, thôn Bạch Thạch, xã Hòa Thạch, huyện Quốc Oai, Hà Nội). Hai bên cổng vào là đôi câu đối cũng bằng chữ Hán rất đẹp:

Thể phách tồn thiên địa
Linh hồn tại tử tôn

4 cột đồng trụ tường bao phía trước được đắp nổi bật hai đôi câu đối:

Văn Miếu phương danh đồng nhật nguyệt quang huy vạn cổ
Thịnh Linh lăng mộ tịnh sơn hà tráng cố thiên thu

nghĩa là:

Bia Văn Miếu danh thơm cùng nhật nguyệt
Núi Thịnh Linh Lăng mộ với núi sông bền vững nghìn thu

Hai cột trụ tường hai bên bức tường là câu đối:

Lưỡng quốc Trạng nguyên tiêu lãnh dự
Tam triều tể phụ bỉnh bưu thanh

nghĩa là:

Lưỡng quốc Trạng nguyên lừng đất nước
Danh thơm sự nghiệp rạng ba triều

Lê Thánh Tông[sửa]

Lê Thánh Tông tên thật là Hiệu, sau đổi là Tư Thành, hiệu Thiên Nam động chủ, con thứ tư Lê Thái Tông, mẹ là Ngô Thị Ngọc Dao. Trong gần 40 năm làm vua, ông đã đưa triều Lê phát triển tới đỉnh cao về mọi mặt: chính trị, xã hội, kinh tế, quốc phòng, văn hóa. Sử gia Ngô Sĩ Liên khen Lê Thánh Tông là "vua sáng lập chế độ, mở mang đất đai, bờ cõi khá rộng, văn vật tốt đẹp, thật là vua anh hùng, tài lược".

  • Câu đối tự thuật:
Tam nhân đồng hành tất hữu ngã (Ba người cùng đi tất trong đó có tôi)
Thiên lý nhi lai diệc lợi ngô (Ngàn dặm xa tới chắc hẳn có lợi cho tôi)
  • Vào tối 30 Tết năm nọ, vua Lê Thánh Tông giả làm chân học trò đi dạo xem các câu đối ở kinh thành. Chợt qua cửa nhà một người đàn bà làm nghề thợ nhuộm, thấy không có câu đối, nhà vua lấy làm lạ ghé vào thăm hỏi. Người đàn bà kêu là goá chồng, con trai là học trò nhỏ chưa biết làm câu đối. Nhà vua liền bảo lấy giấy hồng điều và bút mực, rồi vua hạ bút viết hộ một câu đối như sau:
天下青黃皆我手 Thiên hạ thanh hoàng giai ngã thủ (Xanh vàng thiên hạ đều tay mỗ)
朝中朱紫總吾門 Triều trung chu tử tổng ngô môn (Đỏ tía trong triều bởi cửa ta)
Mấy hôm sau, Thượng thư đương triều là Trạng nguyên Lương Thế Vinh đi chầu qua nhà thợ nhuộm thấy câu đối có khẩu khí như vậy thì hoảng hốt vô cùng. Vào triều, họ Lương tâu với vua rằng ngoài phố có nhà ấy nhà nọ có ý muốn làm bá chủ thiên hạ, cần phải cho người đi dò xét. Lê Thánh Tông nghe xong, phì cười, nhận câu đối đó là do chính tay mình viết hộ, khiến Thượng thư họ Lương bị một phen chưng hửng. Nhưng sau đó, quan Thượng thư thầm nghĩ rằng nhà thợ nhuộm mà Tết nhất lại được Thiên tử ngự giá đến, hẳn sau này con cháu phải giàu sang lắm, bèn đem ngay cô con gái út đến gả cho con trai nhà thợ nhuộm. Có thuyết khác lại nói đôi câu đối này do vua Thiệu Trị tặng hàng thợ nhuộm.
  • Vào một dịp tết khác, vua Lê Thánh Tông lại ăn mặc giả làm thường dân đi chơi phố phường kinh đô để xem xét dân tình. Đi tới đâu nhà vua cũng thấy la liệt những câu đối ca ngợi cảnh thái bình thịnh trị, nhà vua rất hài lòng. Riêng nhà nọ, chẳng treo đèn kết hoa, cũng chẳng có đối liễn gì hết. Vua rẽ vào hỏi, chủ nhà trả lời rằng: "Chả nói giấu gì bác, nhà cháu làm cái nghề hèn hạ quá, nên chẳng dám phô phang gì với phố phường cho thêm tủi!" Vua ngạc nhiên nói: "Sao lại có nghề gì là nghề hèn hạ?" Chủ nhà cứ thật thà trả lời: "Dạ, nhà cháu chỉ chuyên đi hót phân người để bán thôi ạ!" Nhà vua nghe xong, cười bảo: "Ồ, nếu vậy nhà bác đây là sang trọng bậc nhất, mà nghề của bác cũng vẻ vang bậc nhất. Câu đối của bác nếu dán lên cũng hay bậc nhất, việc gì mà lại kêu là hèn!" Rồi vua gọi lấy giấy bút, viết giùm cho một đôi câu đối như sau:
身衣一戎衣能擔世間難事 Thân nhất nhung y đởm thế gian chi nan sự (Khoác chiến bào, lo toan những việc khó khăn trên đời)
手持三尺劍盡收天下人心 Tri tam xích kiếm thu thiên hạ chi nhân tâm (Cầm ba thước gươm, thu tấm lòng mọi người trong thiên hạ)
  • Lê Thánh Tông trong ngày cuối năm đã mặc giả thường dân, ra ngoại thành xem dân tình chuẩn bị Tết. Nhà vua ghé thăm một quán bán trầu nước, thấy gia đình neo đơn, chưa hề có không khí đón Tết, đã tự tay viết giúp bà chủ quán đôi câu đối đỏ hoàn toàn bắng tiếng mẹ đẻ treo trước cửa hàng:
Nếp giầu quen thói kình cơi, con cháu nương nhờ vì ấm
Việc nước ra tay chuyên bát, Bắc Nam đâu đấy lại hàng
Câu đối trên miêu tả một quán bán trầu nước mà ta thường gặp, có đủ giầu (cau), cơi (trầu), ấm, nước, bát, hàng… nhưng lại mang khẩu khí của bậc đế vương: “Việc nước ra tay chuyên bát, Bắc Nam đâu đấy lại hàng”
  • Đối đáp với Nguyễn Thị Ngọc Hằng:

Một lần, hoàng tử Lê Tư Thành dạo chơi trên sông đào vùng Tống Sơn (thuộc Thanh Hóa) tình cờ gặp một cô gái đang vo gạo bên bến nước. Vốn hay chữ, hoàng tử buột miệng đọc: Gạo trắng nước trong, mến cảnh lại càng thêm mến cả

Không ngờ gặp cao thủ, cô gái nghe được liền đối lại: Cát lầm gió bụi, lo đời đâu đấy hãy lo cho
Cả hai đều sử dụng nghệ thuật tàng tự, chữ ẩn không nói ra nhưng ai cũng hiểu. Cô gái ấy là Ngọc Hằng, con gái một vị quốc công, mẹ bị tình phụ nên phiêu dạt đến xứ Thanh. Sau này Lê Thánh Tông lên ngôi và nàng Ngọc Hằng trở thành hoàng hậu
  • Đối đáp với Trạng Lường Lương Thế Vinh (1441 - 1496):

Lương Thế Vinh đỗ trạng nguyên khoa Quý Mùi. Cuộc đời 32 năm làm quan, đều ở Viện hàn lâm, trải thăng đến chức Hàn lâm Thị thư chưởng Hàn lâm viện sự. Một lần, vua Lê Thánh Tông đi kinh lý vùng Sơn Nam hạ, ghé thăm quê hương của Lương Thế Vinh, lúc bấy giờ Trạng Lường cũng đang theo hầu nhà vua. Hôm sau vua đến thăm chùa làng, khi ấy, sư cụ đang bận tụng kinh. Bỗng sư cụ đánh rơi chiếc quạt xuống đất. Vẫn tiếp tục tụng, sư cụ lấy tay ra hiệu cho chú tiểu cúi xuống nhặt, nhưng một vị quan tùy tòng của Lê Thánh Tông đã nhanh tay nhặt cho sư cụ. Vua Lê Thánh Tông trông thấy vậy, liền nghĩ ra một vế đối, trong bữa tiệc hôm đó đã thách các quan đối:

塘上誦仱師使使 Đường thượng tụng kinh sư sử sứ (Trên bục tụng kinh sư khiến sứ, tức là nhà sư sai khiến được quan. Nội dung câu đối ra không khó, nhưng oái ăm ở ba chữ đồng âm liên tiếp nhau là sư, sử, sứ)
Trạng nguyên Lương Thế Vinh cứ để cho các quan viên khác suy nghĩ chán chê, ông ung dung ngồi uống rượu chẳng nói năng gì. Vua Lê Thánh Tông quay lại bảo đích danh ông phải đối, với hy vọng đưa ông đến chỗ chịu bí, nhưng ông chỉ cười trừ. Một lúc ông cho lính hầu chạy ngay về nhà mời vợ đến. Bà trạng đến, ông lấy cớ quá say xin phép vua cho vợ dìu mình về. Thấy Vinh là một tay có tài ứng đối mà hôm nay cũng đành phải đánh bài chuồn, nhà vua lấy làm đắc ý lắm, liền giục: "Thế nào? Ðối được hay không thì phải nói đã rồi hẵng về chứ?" Vinh gãi đầu gãi tai rồi chắp tay ngập ngừng: "Dạ... muôn tâu, Thần đối rồi đấy ạ!" Vua và các quan lấy làm lạ bảo Vinh thử đọc xem.
Lương Thế Vinh liền chỉ tay vào người vợ đang dìu mình, mà đọc rằng: 前庭醉酒婦扶夫 Đình tiền túy tửu phụ phù phu (Trước sân say rượu, vợ dìu chồng. Trong vế đối cũng có ba chữ cuối đồng âm là phụ, phù, phu)
  • Thạch Bi Sơn còn gọi là Đá Bia, dân gian tương truyền là Núi Ông, thuộc dãy Đại Lãnh, cao 706m, nay thuộc địa phận xã Hòa Xuân Nam, huyện Đông Hòa tỉnh Phú Yên. Sự kiện lịch sử đầu tiên là cuộc Nam tiến của vua Lê Thánh Tông vào năm 1470, tiến quân đến tận chân núi Đèo Cả (Phú Yên) và sai lính khắc bia để làm ranh giới giữa Đại Việt và Chiêm Thành. Để tưởng nhớ công ơn của vị vua này, nhân dân Phú Yên đã lập đền thờ tại thôn Long Uyên (Tuy An) với hai câu đối:
Giang sơn khai tác hà niên, phụ lão tương truyền Hồng Đức sự
Trở đậu hinh hương thử địa, thanh linh trường đối Thạch Bi cao

Nghĩa:

Giang sơn khai thác năm nào, phụ lão còn truyền công Hồng Đức
Lễ kính hương thơm đất ấy, danh thiêng muôn thuở ngọn Đá Bia

Những câu đối liên quan đến Bảng Nhãn Nguyễn Như Đỗ (1424 - 1526)[sửa]

Nguyễn Như Đổ tên chữ Mạnh An, tên hiệu Khiêm Trai, người làng Đại Lan Châu, huyện Thanh Đàm, trấn Sơn Nam (nay là thôn Đại Lan, xã Duyên Hà, huyện Thanh Trì, Hà Nội) đỗ đầu, thi Đình đậu Bảng nhãn. Thi Đình xong, ông liền được cử làm Soạn chế cáo ở Viện Hàn lâm, thăng Trực học sĩ. Năm 1486, cùng với việc sửa chữa lại Văn Miếu, Nguyễn Như Đổ nhận chức Tế tửu Quốc Tử Giám trong 10 năm mới về hưu trí. Đối với quê hương Đại Lan, ông dành cho dân làng nhiều nghĩa nặng tình sâu. Tại đình làng có khắc đôi câu đối nói về tài năng của ông như sau:

Trợ thần bút điểm chu đầu, tơn chù quả tam khôi cập đệ
Phát thiên quang, trình bạch nhĩ, cung giai vi lục bộ thượng thư

Đình còn có hai đôi câu đối gỗ sơn son thếp vàng, ghi lại công tích của các vị thần âm phù giúp nhà Trần đánh thắng giặc Nguyên ở cửa Hàm Tử, ca ngợi công mở đường khoa cử của Nguyễn Như Đổ

Hàm Tử cầm Hồ mặc trợ Trần gia thiên tải hậu
Lãng Sơn bình Thục diễm truyền Hùng Lạc ức niên truyền

Dịch:

Cửa Hàm Tử bắt giặc, ngầm giúp nhà Trần ngàn năm hiển
Lãng Sơn bình giặc Thục, cơ nghiệp Lạc Hùng rạng đời đời

và:

Bình Thục Nguyên nhung sử sách đan thanh lưu vĩ tích
Khai quan khoa nhuỵ thân hào mĩ đại ngưỡng anh uy

Dịch:

Bình Thục, dẹp Nguyên sử sách ngời ngời lưu sự tích
Khai khoa kết trái, thân hào ngưỡng vọng đấng anh uy

Làng Đại Lan nằm ở bờ Nam sông Nhị Hà. Vào cuối đời Lê, do nạn đất lở, làng phải di sang bờ Bắc thuộc huyện Văn Giang, xứ Kinh Bắc. Do nằm ở cửa sông lớn, nên làng còn được gọi là Đại Quan Châu. Vào triều Nguyễn, tên gọi này được đặt cho một tổng của huyện Văn Giang gồm các xã Đại Quan Châu, Chử Xá Châu, Trung Quan Châu, Sơn Hô Châu. Cuối thế kỷ XIX, vùng đất bồi phía Nam hình thành, dân làng lại về lập nghiệp ở bờ Nam, và trở về với tên gọi Đại Lan Châu (thuộc tổng Vạn Phúc, tỉnh Hà Đông). Phong tục và lề thói của dân rất tốt, vì các cụ đã chọn được đất tốt mà ở, nên đã có câu đối như sau:

Sơn trình lao thụy chương thần đức
Thủy nhiễu long tân hiển thánh tân

Nghĩa:

Núi bày điềm đẹp nêu đức thánh
Sông lượn bến rồng rõ thần linh

Vũ Tuấn Chiêu[sửa]

Vũ Tuấn Chiêu còn có tên khác là Vũ Tuấn Thiều, tên tự là Đôn Hối, nguyên quán làng Xuân Lôi, xã Cổ Da, huyện Tây Chân (nay thuộc xã Nam Hùng, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định), trú quán tại làng Nhật Thiên, xã Nhật Chiêu, huyện Quảng Đức, phủ Phụng Thiên (nay thuộc phường Nhật Tân, quận Tây Hồ, Hà Nội). Giai thoại kể rằng, nhân khi đó trời nổi gió, lác đác có hạt mưa rơi nên thầy đồ mới tức cảnh ra vế đối và nói nếu đối được thì mới cho ở lại tiếp tục học, vế đối ra là: “Lác đác mưa sa làng Hạ Vũ”. Suy nghĩ một lát, Vũ Tuấn Chiêu đối lại là: “Ầm ì sấm động đất Xuân Lôi”, khiến thầy đồ rất hài lòng, từ đó ông dốc chí học tập dần dần sức học tiến bộ hẳn lên. Khoa thi Ất Mùi (1475) niên hiệu Hồng Đức năm thứ 6 đời Lê Thánh Tông, ông đoạt danh hiệu Trạng nguyên. Trong số các sĩ tử có quyển thi xuất sắc, bài văn nổi bật nhất kỳ thi Đình thuộc về ba người là Vũ Tuấn Chiêu, hai người còn lại là Cao Quýnh và Ông Nghĩa Đạt. Vua Lê Thánh Tông thấy ba người tài năng như nhau, khó xếp hạng người trên kẻ dưới trong bảng Tam Khôi nên đã ra thêm một câu đó để thử sức. Vua bảo ba người đoán xem là chữ gì rồi đọc:

Thượng bất thượng (Thượng chẳng ở trên)
Hạ bất hạ (Hạ không ở dưới)
Chỉ nghi tại hạ (Chỉ nghi ở dưới)
Bất khả tại thượng (Bất khả ở trên)

Trong khi Cao Quýnh và Ông Nghĩa Đạt đang chau mày suy nghĩ thì Vũ Tuấn Chiêu đoán ra đó là chữ “Nhất”. Vua Lê Thánh Tông thấy ông thông minh, nhanh nhẹn liền chấm đỗ đầu thi Đình, ban cho học vị Trạng nguyên. Hiện nay tại nhà thờ chính của Vũ Tuấn Chiêu ở xã Nam Hùng, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định vẫn còn lưu giữ được câu đối ca ngợi sự thành đạt và công lao của ông đối với dân với nước như sau:

Hồng Đức văn chương khôi nhất giáp
Xuân Lôi trở đậu lịch thiên thu

Nghĩa là:

Đời Hồng Đức văn chương nêu nhất giáp
Đất Xuân Lôi thờ cúng nghìn thu

Ghi chú: về tích làng Hạ Vũ và đất Xuân Lôi có thuyết nói rằng của Hoàng Văn Tán thời Lê Mạc, còn câu của vua Lê Thánh Tông thử thách có sách ghi là của nhà sư viết để hỏi Lê Quý Đôn. Tuy nhiên, ta cứ đưa cả vào để cùng nghiên cứu tổng hợp các giai thoại.

Lương Thế Vinh (1441 - 1496)[sửa]

Lương Thế Vinh còn gọi là Trạng Lường, tên tự là Cảnh Nghị, tên hiệu là Thụy Hiên. Sinh tại làng Cao Hương, huyện Thiên Bản, trấn Sơn Nam (nay là thôn Cao Phương, xã Liên Bảo, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Lương Thế Vinh đỗ Đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ đệ nhất danh (trạng nguyên) khoa Quý Mùi niên hiệu Quang Thuận thứ 4, đời Lê Thánh Tông. Các năm sau đó, ông làm quan với các chức Trực học sĩ, Thị thư và Chưởng viện sự ở viện Hàn lâm. Hiện nay ở nhà thờ Lương Thế Vinh làng Cao Hương huyện Vụ Bản còn giữ được 9 cặp câu đối ca ngợi tài năng học vấn của ông:

真状久孚南北望 Chân trạng cửu phu nam bắc vọng
竒男不負古今傳 Kỳ nam bất phụ cổ kim truyền

Tạm dịch:

Trạng thật mãi tin nam bắc ngóng (dân gian vẫn đồn Lương Thế Vinh làm trạng nguyên cả Việt Nam và Trung Quốc
Trai kỳ chẳng phụ cổ kim truyền (cũng truyện kể dân gian nói Lương Thế Vinh là đồng tử trên trời đầu thai hạ giới
三 魁 綵 旗 天 子 製
九 章 算 學 人 間 傳
Tam khôi thải kỳ thiên tử chế
Cửu chương toán học nhân gian truyền

Tạm dịch:

Tam khôi cờ biển vua ban tặng
Phép toán cửu chương chúng dân truyền

Vua Lê Thánh Tông ban tặng Cờ hoa Tam Khôi cho ba vị đỗ đầu: "Trạng nguyên Lương Thế Vinh, Bảng nhãn Nguyễn Đức Trinh, Thám hoa Quách Đình Bảo, Thiên hạ cộng tri danh" - (Thiên hạ đều biết tên). Ông đã biên soạn cuốn Đại thành toán pháp để tiện dùng, đó là cuốn sách giáo khoa toán đầu tiên ở nước ta. Trong cuốn sách, ông đã tổng kết những kiến thức toán thời đó và cả những phát minh của ông. Trong sách dạy các kiến thức về số học, phương pháp đo lường bóng (phương pháp đồng dạng), hệ số đo lường, cách cân, đo, đong, đếm, định vị, đơn vị, tiền vải..., dạy toán đạc điền...

姓 名 一 甲 古 真 狀 Tính danh nhất giáp cổ trân trạng
俎 豆 千 秋 今 福 神 Trở đậu thiên thu kim phúc thần
Họ tên đầu giáp là đấng trạng nguyên chân chính thời xưa
Thờ cúng ngàn thu xứng bậc phúc thần thời nay
祀 典 琨 璜 忠 與 好 Tự điển côn hoàng trung dữ hiếu
英 靈 凜 烈 北 而 南 Anh linh lẫm liệt bắc nhi nam
Tự điển vẻ vang trung với hiếu
Anh linh lẫm liệt Bắc rồi Nam
神 秀 一 門 猶 記 甲 科 光 順 始
本 支 百 世 相 傳 文 派 泝 江 來
Thần tú nhất môn, do ký giáp khoa Quang Thuận thủy
Bản chi bách thế, tương truyền văn phái Chiết Giang lai

Tạm dịch:

Một họ tuấn tú thông minh, còn ghi khoa giáp khởi đầu từ thời Quang Thuận
Muôn đời gốc cành tươi tốt, tương truyền văn phái ngược dòng dẫn chảy tới đây

Vế thứ nhất câu đối có nói Thần Tú nhất môn, ở đây nhắc đến vị Tổ Thiền Bắc tông đời thứ 6 là Thần Tú, là người đứng đầu Phật giáo thời đó, mỗi khi đăng đàn giảng đạo đều thu hút các bậc đế vương công tôn hoàng hậu đến nghe, danh vọng tôn giáo đến tột bậc. Quang Thuận là niên hiệu của vua Lê Thánh Tông, những năm Quang Thuận đời Lê Thánh Tông, có 2 người họ Lương đỗ Tiến sĩ là Lương Thế Vinh và Lương Hối. Vế thứ 2 vấn đề "Chiết Giang lai" cũng là truyền ngôn. Theo lời truyền trong một số dòng họ thì khi người Mông Cổ diệt nhà Tống, một số quan, dân nhà Tống chạy sang Việt Nam, trong số đó có hai anh em nhà họ Lương ở tỉnh Chiết Giang nam du và sang Đại Việt sinh sống, lập nghiệp ở Cao Hương, Vụ Bản và Hội Triều, Hoằng Hóa. Từ hai nơi này xuất phát ra nhiều chi phái họ Lương trên mọi miền đất nước. Chiết Giang với thành phố Hàng Châu vốn là kinh đô Lâm Ấp thời Nam Tống. Người Nam Tống ở Chiết Giang chạy sang Việt Nam khá nhiều khi bị quân Mông Cổ đánh chiếm. Điển hình ta có chuyện Tứ vị Hồng nương là Hoàng hậu của Nam Tống trôi dạt sang Việt Nam rồi tử tiết mà được tôn làm thần biển (Đại Càn hay đền Cờn ở Nghệ An). Những người ở kinh đô phải đi tránh giặc thì nói chung đều là những người có chức vụ trong triều đình. Hai anh em họ Lương từ Chiết Giang tới như vậy hẳn cũng là quan hoặc có đỗ đạt của triều Nam Tống. Vì thế mới nói "văn phái" từ Chiết Giang đến.

天 生 真 狀 當 平 世 Thiên sinh chân trạng đương bình thế
地 起 崇 臺 即 故 居 Địa khởi sùng đài tức cố cư
Trời sinh ra trạng giỏi đúng thời buổi thái bình
Đất khởi dựng đài cao trên chính ngôi nhà cũ
標 英 高 占 三 尖 筆 Tiêu anh cao chiếm tam tiêm bút
及 第 香 留 一 甲 名 Cập đệ hương lưu nhất giáp danh
Anh tài tiêu biểu chiếm vị trí cao được bút “tam tiêm”
Đỗ hàng cập đệ lưu truyền tiếng thơm ghi danh nhất giáp
豐 肥 道 德 福 之 尊 泰 山 北 斗
聚 萃 精 神 王 有 廟 天 理 人 心
Vun trồng đạo đức, phúc được đề cao, như ngôi Thái Sơn, Bắc Đẩu.
Dồn tụ tinh thần, ngôi vương có miếu, hợp với lý trời và lòng người.
洪德 盛 朝 碑 勒 俊
高 香 後 學 斗 瞻 尊
Thịnh triều Hồng Đức tuổi tên khắc bia sừng sững
Hậu học Cao Hương, sao Đẩu chiêm ngưỡng cao vời
  • Câu đối khác trong nhà thờ họ Lương:
定 成 鄉 旅 聽 信 全 憑 嘉 惠 重 新 是 賴 刺 而 富 教
安 捭 主 使 成 功 永 潟 祥 光 氫 後 能 存 親 野 倩 勤
Định thành hương lữ thính tín toàn bằng gia huệ trọng tân thị lại thứ nhi phú giáo
An bãi chủ sử thành công vĩnh tích tường quang khinh hậu năng tồn thân dã thiến cần
  • Câu đối của Lương Đắc Bằng đề ở nhà thờ họ Lương:

LƯƠNG ĐẮC BẰNG (1472 - 1522) quê ở làng Hội Triều, huyện Hoằng Hoá, đỗ Bảng nhãn khoa Kỷ Mùi (1499) đời Lê Hiến Tông, làm quan đến Tả thị lang bộ Lại dưới triều Lê Tương Dực. Sau thăng lên Thượng thư bộ Lại kiêm Đông các đại học sĩ, tước Đôn Trung Bá. Ông xin nghỉ việc lui về ở ẩn. Khi Lương Đắc Bằng đến thăm nhà thờ Lương Thế Vinh (bác họ) ở Vụ Bản (Nam Định) tự hào về dòng họ nhà mình đã đề câu đối để lại như sau:

狀元祖, 榜眼孫, 梁族名騰兩國
都督前, 尚書後, 國朝位埒三公
Trạng nguyên tổ, bảng nhãn tôn, Lương tộc danh đằng lưỡng quốc
Đô đốc tiền, thượng thư hậu, quốc triều vị liệt tam công

Câu đối trên được hiểu rằng:

ông (Lương thế Vinh) là trạng nguyên, cháu (Lương Đắc Bằng) là bảng nhãn, họ Lương vang danh hai nước (Việt Nam và Trung Quốc)
Người trước (Lương thế Khôi) làm đô đốc, người sau (Lương Hữu Khánh) làm thượng thư, trong triều đình đều ở ngôi vị tam công

Nguyễn Sư Hồi (1444 - 1506)[sửa]

Nguyễn Sư Hồi sinh ở làng Thượng Xá, huyện Chân Phúc (nay là xã Nghi Hợp, huyện Nghi Lộc). Nguyễn Sư Hồi vì có công cùng với cha (là Cương Quốc công Nguyễn Xí) và các quan trung thành đã có nhiều kế sách để diệt trừ bọn gian thần hại dân, hại nước và ông đã được phong chức “Nhập nội Thái úy, tham dự triều chính, Phó mã Đô úy” đồng thời cấp cho ông 130 mẫu ruộng thế nghiệp. Làng Vạn Lộc, mặt hướng về phía Bắc. Theo quan niệm của người xưa, đó là hướng đại cát. Đền thờ Thái úy Nguyễn Sư Hồi - Thành hoàng làng Vạn Lộc cũng hướng về phía này. Đôi câu đối trước cổng đền cũng ghi nhận điều đó:

“Tiền Gấm thủy, hậu Lô sơn, vạn cổ lý nhân văn, vật địa
Đông Long triều, tây Tượng phục, thiên thu miếu vũ, đức linh anh”

Tuy ông mất đi nhưng tư tưởng và công lao của ông còn sống mãi với quê hương, đất nước và nó được thể hiện qua đôi câu đối dưới đây:

Dẹp giặc, yên dân, nghĩa khí ngàn năm ghi nhớ
Khai cơ, lập nghiệp, công ơn muôn thuở lưu truyền

Nguyễn Bảo[sửa]

Trong số các quan chức làm việc thân cận với nhà vua Lê Thánh Tông và Lê Hiến Tông chỉ có Nguyễn Bảo là người đương nhiệm lâu nhất. Năm 1472, Nguyễn Bảo thi đỗ “Đệ tam giáp Đông tiến sĩ xuất thân”. Năm 1495, Nguyễn Bảo được thăng chức Hữu thuyết thư ở Tả xuân phường. Có lúc, bộ Lại định cử ông đi giữ chức Tham chính trấn Hải Dương. Con cháu họ Nguyễn nói rằng, khoảng 1925 cụ Nguyễn Am làm quan huyện, thấy ngôi nhà năm gian thờ Nguyễn Bảo bị đỗ nát, bèn dỡ ra xây dựng lại như hiện trạng. Hai đôi câu đối khá hay:

Lạc địa từ đương kim tái xưởng (Đất Lạc từ đường nay mở rộng)
Thượng thư thế duệ tích do truyền (Dòng dõi Thượng thư vẫn dõi truyền)
Văn danh hoạn nghiệp Lê triều sử (Văn chương, sự nghiệp ngời Lê sử)
Thiện chỉ nhân cơ Nguyễn Thị từ (Móng nền nhân thiện Nguyễn từ đường)

Đỗ Nhuận[sửa]

Đỗ Nhuận người thôn Bạch Đa, xã Kim Hoa, phủ Bắc Hà thuộc phủ Kinh Bắc. Nay là xã Kim Hoa, huyện Mê Linh, Hà Nội. Năm Bính Tuất (1466) đời vua Lê Thánh Tông, Đỗ Nhuận đỗ đệ Tam giáp đồng tiến sĩ, khi đó ông 20 tuổi. Đỗ Nhuận được vua Lê Thánh Tông yêu quý, thường đàm đạo chuyện thơ phú, chuyện sách vở, chuyện đời, chuyện người mỗi khi rảnh rỗi (lúc đó Đỗ Nhuận đã giữ chức Đông các Đại sĩ Nhập nội phụ chính). Tháng 11 năm Ất Mão (1495), vua Lê Thánh Tông lập Hội Tao Đàn gồm có 28 người ứng với 28 vì sao trên trời gọi là Tao Đàn nhị thập bát tú. Lê Thánh Tông làm Nguyên Suý, Đỗ Nhuận cùng tiến sĩ Thân Nhân Trung được cử làm Phó Nguyên Suý, Trạng nguyên Lương Thế Vinh làm Sái Phu Tao Đàn.

  • Bữa đó, Đỗ Nhuận trọ học ngoài tỉnh, một lần dạo phố thấy một cô gái đẹp liền lẽo đẽo theo sau đến tận cổng. Cô gái vào nhà rồi, Hòe lân la hỏi xung quanh mới biết đó là nhà của một vị quan về hưu. Hòe hôm sau đến gõ cửa nhà nọ, nói là học trò dọc đường khát quá, nên mạo vào xin nước. Chủ nhà vốn xuất thân nho học, nên rất yêu mến học trò, liền dẫn Nhuận vào mời cùng uống trà. Thấy Nhuận đối đáp nhõ nhã, ông rất thích. Nhân hai người ngồi đối diện với bức tranh sơn thủy treo trên vách, ông bèn đọc một câu đối, ý cũng muốn thử tài:
Quải thư bích thượng, tận thu tứ hải sơn hà (Treo tranh trên vách, thu hết non sông bốn bể)
Nhuận nghĩ mãi không đối được, bí quá vờ đánh đổ trà lên chân, rồi xin phép ra rửa chân, tính bài từ đó... chuồn ra cổng. Ra đến ao, khuya chân xuống nước, bóng nước lay động làm hình ảnh rung rinh, lóng lánh, Hòe chợt nảy ý hay, bèn quay lại đối:
Tẩy túc trì trung, dao động cửu thiên tinh đẩu (Rửa chân trong ao, lay động trăng sao chín trời)
Có thuyết khác nói rằng vế đối trên là của Nguyễn Hoè cũng người thời Hậu Lê.
  • Lần khác, có khách đến nhà Đỗ Nhuận chơi, gặp lúc cha Đỗ Nhuận đi vắng. Thấy cậu bé nhanh trí đối đáp nhanh nhảu, sáng ý hơn người, khách thấy lạ. Để đánh quỵ thằng bé về chữ nghĩa, nhân khi người nhà Đỗ Nhuận mang bắp ngô luộc lên mời ông khách, ông liền ra câu đối:
vế ra: Ngô là ta, ta ăn bắp ngô với trẻ
Đỗ Nhuận không cần nghĩ ngợi đối luôn: Phụ là bố, bố nhường đậu phụ cho con
Có thuyết khác nói vế đối này là của cử nhân Trương Khắc Nhượng ở làng Thanh Nê (nay là xã Tán Thuật tỉnh Thái Bình) đối đáp với cha

Giai thoại và câu đối liên quan đến Trạng Vít Vũ Kiệt[sửa]

Vũ Kiệt quê ở làng Cửu Yên, xã Yên Việt, huyện Siêu Loại, phủ Thuận An, trấn Kinh Bắc (nay là thôn Cửu Yên thuộc xã Ngũ Thái, huyện Thuận Thành, Bắc Ninh), đỗ Trạng nguyên khoa Nhâm Thìn (1472) đời Lê Thánh Tông. Do ngôi làng quê ông có tên Nôm là làng Vít nên dân gian quen gọi Vũ Kiệt là Trạng Vít (Trạng làng Vít). Sau khi làm quan một thời gian, Vũ Kiệt vì buồn chán đã treo ấn từ quan về quê xuất gia tu hành tại chùa Kênh (nay thuộc xã Cao Đức, huyện Gia Bình, Bắc Ninh). Ý định xuất gia đầu Phật, xa lánh việc thị phi ở chốn quan trường cùng những ganh đua danh lợi của người đời tưởng chừng đã đạt được, thế nhưng, thực tế trong tâm trí của Vũ Kiệt vẫn không dứt hẳn được những trăn trở, mong muốn cống hiến cho dân, cho nước của mình.

Ở làng Mèn (nay là làng Mãn Xá, xã Hà Mãn, huyện Thuận Thành, Bắc Ninh) có một cô gái xinh đẹp, giỏi giang biết được tâm sự ấy đã tìm cách tiếp cận nhà sư Vũ Kiệt. Một hôm nhân lúc vắng vẻ cô gái đọc vế đối thăm dò:

“Con công đi qua chùa Kênh, nó nghe tiếng cồng nó kềnh cổ lại”.

Biết ý cô gái khuyên mình đừng nên xa lánh cuộc đời, nhưng Vũ Kiệt từ chối, tỏ vẻ không còn tha thiết với cuộc đời trần tục:

“Con cóc leo cây vọng cách, nó rơi xuống cọc, nó cạch đến già”.

Mặc dù bị khước từ, nhưng cô gái vẫn không chịu bỏ cuộc, vào một hôm rằm cô mang lễ lên chùa cúng Phật sau đó nhìn nhà sư rồi đọc mấy vần thơ:

Tội gì ở chốn dưa rau,
Về nhà trên trướng dưới lầu thảnh thơi.
Đêm nằm có thiếp sánh đôi,
Chồng loan, vợ phượng hơn đời Hán gia.
Tu hành chi đến cõi già,
Đường sang Tây Trúc biết là có không?

Người ta thường có câu “Anh hùng khó qua ải mỹ nhân”, trước tình cảm của cô gái làng Mèn, trái tim của Vũ Kiệt đã rung động, sau đó ông từ giã đường tu tiếp tục dấn thân, góp sức vào việc dân, việc nước và làm lễ hỏi cưới cô gái kia, sống đời hạnh phúc bên người vợ yêu của mình:

Nghe lời nàng nói vừa lòng,
Trời xuân thắt chặt chữ đồng cả hai.
Đẹp đôi gái sắc, trai tài,
Gương soi in bóng, phấn trời điểm trang.
Xuân hè khéo nở một hàng,
Gái trai đầy đủ rộn ràng đình vi.

Sau khi hoàn tục, Vũ Kiệt làm quan trải nhiều chức vụ dần dần được thăng tới chức Hàn lâm viện thị thư, Tả thị lang kiêm Đông các hiệu thư.

Giai thoại đối đáp của Bảng Nhãn Trịnh Thiết Trường[sửa]

Ở làng Nhân Lí, huyện Thiệu Yên, tỉnh Thanh Hoá bây giờ, thời Lê Sơ có một cậu bé tên là Trịnh Thiết Trường, nổi tiếng là thần đồng. Có lần Trường nặn một con voi, và muốn voi cử động được như thật, cậu bèn nghĩ cách bắt một con đỉa làm vòi, 2 con bướm làm tai, 4 con cua làm bàn chân voi... Thế là con voi đất mà lại biết co vòi, vẫy tai, tự chuyển động. Vừa lúc viên quan huyện sở tại hành hạt qua, lính khiêng võng cho quan dừng lại để bắt trai đình làng Nhân Lí ra cáng tiếp. Quan huyện xuống võng, chắp tay sau lưng đi lại cho đỡ mỏi. Lúc đó có tiếng bọn trẻ nô đùa ầm ĩ phía trước. Quan tò mò đến xem thì thấy cả bọn đang chơi trò voi đất. Con voi giả, nhưng thật độc đáo, cong vòi, vẫy tai, đi được..., chưa thấy nơi nào có. Quan huyện buột miệng hỏi: "Đứa nào làm khéo hè?" Bọn trẻ chỉ vào một cậu bé chứng 11 - 12 tuổi , có cặp mắt linh lợi, thưa: "Bạn này đấy ạ!" Viên quan huyện nhìn Trường, ngỏ ý khen cậu bằng một vế đối:

“Lũ trẻ chỉ mày khéo!”

Rồi bảo Trường nếu biết chữ thử đối xem. Trường liền đọc ngay:

“Quan huyện có ông...”

Đọc đến đó, Trường dừng lại nhìn. Quan nhắc cậu còn thiếu một chữ. Trường bèn đáp: "Quan có thưởng thì tôi mới xin đọc hết!" Viên quan biết Trường là một đứa trẻ có tư chất, không phải là thường, bèn móc túi thưởng trước cho cậu mấy tiền. Bấy giờ Trường mới đọc cả vế đối:

“Quan huyện có ông hiền”

Quan huyện gật gù, lấy làm vừa ý và hỏi thêm: "Nếu ta không cho tiền thì mày sẽ đọc ra sao? Trường tinh nghịch cười đáp: "Tôi sẽ đọc là: “Quan huyện có ông... tham” ạ" Điển tích này có vẻ giống với câu truyện của Trạng Hiền thời nhà Trần và Thái Ngạc đời nhà Thanh

Trạng Lợn Dương Nghiêu Trư[sửa]

Họ Dương ở làng Dừa thuộc tỉnh Hà Nam (Bắc Việt) là một gia tộc có nhiều người làm quan to. Ðến đời ông Dương Đình Lương thì xa xút, phải làm nghề bán thịt. Một hôm, Lương ông đi lễ ở cái miếu đầu làng về thì gặp một ông cụ già vai đeo khăn gói, tay chống gậy, hỏi thăm nhà trọ. Lương ông mời khách về nhà, tiếp đãi chân thành. Chủ lưu khách lại vài hôm, không ngờ ông khách ở lại luôn ba tháng, ngày nào cũng chống gậy đi chơi hết gò này sang đống nọ, hết ruộng nọ lại đến ao kia. Hóa ra ông đi xem địa lý, ông chính là Tả Ao. Thấy Lương ông phúc hậu, Tả Ao muốn đáp ơn, quyết định ở lại để tìm cho Lương ông một ngôi đất quý. Lương ông đặt ngôi mộ của thân phụ ông ở đó, được một năm thì Lương bà có thai, đứa con ấy là Trạng Lợn Dương Nghiêu Trư sau này.

  • Trạng Lợn và ông khách:

Tương truyền lúc nhỏ theo cha làm nghề thịt lợn, lại đẻ vào tháng 10 tức tháng Hợi nên đặt tên là Dương Nghiêu Trư và thường gọi là cậu Lợn (chữ Hán “Trư” nghĩa là lợn). Ông bản tính nhanh nhẹn, thông minh, lúc nhỏ có lần cùng bố đi bắt lợn, gặp kiệu ông Nghè vinh quy, Trư hỏi: "Ông gì thế bố". Người cha đáp: "Ông Trạng!" Trư nói: "Lớn lên con cũng làm ông Trạng!" Từ đó đi chơi với trẻ trong làng, ông đều khoe: "Ta là quan Trạng!"

Một lần có người khách thấy vậy liền lỡm: Trạng dở hay trạng nguyên
Trạng Lợn trả lời: Khách quen hóa khách lạ
  • Trạng Lợn và Phấn Khanh:
cô gái tên là Phấn Khanh ra vế trước: 八刀分米粉 Bát đao phân mễ phấn (nghĩa là "tám đao chia hột gạo", nhưng vấn đề ở chỗ trên chữ "bát" dưới chữ "đao" bên trái chữ "phân" là chữ Phấn chính lại là chữ đầu tên của cô gái)
Trạng Lợn đối lại: 千里重金鍾 Thiên lý trọng kim chung (nghĩa là "nghìn dặm nặng chuông vàng", cũng ý rằng trên chữ "thiên" dưới chữ "lý" bên trái chữ "kim" là chữ Chung là tên tự của Trạng Lợn là Chung Nhi)
Giai thoại này như sau: Trạng Lợn đi hỏi vợ gặp phải cô gái tên Phấn Khanh hay chữ liền đem tên của mình ra vế đối, vì chưa nghĩ ra được nên ông khất khi nào lên kinh ứng thí về sẽ đối. Khi lên đến kinh, vua Lê Thánh Tông thấy anh này tên là Chung Nhi mới chiết tự chữ Chung để ra câu đối, Trạng Lợn nhớ đến câu đối của cô gái liền đem ra trả lời được vua ban thưởng. Về đến làng, anh ta lại đem câu của vua Lê Thánh Tông đối lại câu của nàng Phấn Khanh, thế là vẹn cả đôi đường vừa được quan chức bổng lộc lại vừa được vợ mà không phải đối đáp gì cả.
  • Trạng Lợn và Tú Cát:

Trong làng cậu bé Chung Nhi có một người hay chữ nhưng tính tình kiêu ngạo, đi đâu cũng khoe khoang, tên gọi là ông Cứt. Sau này ông đỗ Tú Tài, vì thấy tên xấu nên đổi gọi là Cát, thiên hạ vẫn gọi là Tú Cát. Tất nhiên, từ nhỏ Chung Nhi đã ghét những người có bản tính như vậy. Một hôm, Chung Nhi đang đứng xem đàn lợn ăn cám thì Tú Cát đi qua. Đã được nghe người ta đồn đãi về thần đồng này, Tú Cát không ưa gì nên ông ta ra vẻ kẻ cả gọi đến bảo: "Ta nghe thiên hạ đồn mày là đứa thông minh, ứng đáp rất giỏi. Bây giờ ta ra cho mày một vế đối, nếu mà không đối được thì sẽ biết tay. Nhất định ta sẽ đánh đòn cho chừa các tật láo, nghe chưa!"

Nói xong, Tú Cát liền gật gù đọc: Lợn cấn ăn cám tốn
Đây là một câu đối rất hắc búa bởi "Cấn" và "Cám" vừa chỉ lợn và thức ăn của lợn, lại vừa là hai quẻ trong kinh Dịch, người có học nhiều còn thấy khó.
Chung Nhi đối ngay: Chó khôn chớ cắn càn
Quả là một vế đối vừa chỉnh vừa có ý xỏ xiên. "Khôn" và "Càn" cũng là hai quẻ trong kinh Dịch, Quỳnh lại còn ngầm ý chưởi Tú Cát là đừng có mà rắc rối. Bị thằng nhỏ hơn mình chơi lại một đòn đau, Tú Cát tức lắm, hầm hầm bảo: "Được để coi mầy còn thông minh đến cỡ nào. Tao còn một vế nữa, phải đối ngay thì tao phục!"
Nói xong Tú Cát đọc ngay: Trời sinh ông Tú Cát!
Vế vừa ra mang tính cách ngạo nghễ, phách lối.
Nào ngờ, Chung Nhi chỉ ngay xuống đất, dưới lớp phân heo đùn lên những ụ nhỏ mà đáp: Đất nứt con bọ hung!
Đến nước này thì dù tức đến hộc máu mồm, Tú Cát cũng đành cút thẳng. Những vế đối trên người sau thường gán ghép cho Trạng Quỳnh.

Những câu đối liên quan đến Tiến Sĩ Phạm Đạo Phú và Hoàng Giáp Phạm Bảo[sửa]

  • Phạm Đạo Phú (có sách chép nhầm là Nguyễn Phú Đạo, Nguyễn Đạo Phú) sinh năm Quang Thuận 4(1463), mất năm Nguyên Hoà 7(1539), quê ở làng Hoàng Xá, huyện Đại An (nay là thôn Phạm Xá, xã Yên Nhân, huyện ý Yên, tỉnh Nam Định). Trong tiềm thức dân gian, tên tuổi ông thường gắn liền với tên tuổi người em họ của ông là Hoàng giáp Đại tướng đổng quân Phạm Bảo. Hai anh em ông liên tiếp cùng đỗ đại khoa, cùng làm quan một triều, cùng được tôn làm phúc thần và được thờ chung trong một ngôi đền.
  • Phạm Bảo (có sách chép là Phạm Nguyễn Báu) đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) khoa Đinh Mùi niên hiệu Hồng Đức 18(1487) đời Lê Thánh Tông. Sau khi đỗ đại khoa, ông được bổ làm Phó đô ngự sử ở Ngự sử đài, giúp cho Đô ngự sử chuyên lo việc can gián nhà vua và thanh tra các quan lại trong cả nước. Phạm Đạo Phú cùng với Phạm Bảo được người đời đánh giá là "Anh em cùng nhau nối tiếp trước sau, trọn vẹn tiếng tốt ở đương thời" (Văn bia ở miếu thờ hai ông đỗ đại khoa ở làng Hưng Thịnh do Hoàng giáp Phạm Văn Nghị soạn).

Sau khi anh em ông mất, thi hài hai ông đều được an táng ở làng, đều được làng Hưng Thịnh thờ làm Phúc thần. Trong đền thờ hai ông có câu đối:

Sơn nhạc giáng thần cố lý tân từ linh tích tại
Văn chương minh thế thạch bi kim bảng thịnh danh truyền

Tạm dịch:

Núi lớn giáng thần, dấu thiêng thiêng ở làng xưa đền mới
Văn chương sáng sủa, tiếng tốt đẹp truyền bia đá bảng vàng

Câu đối của Tiến sĩ Khiếu Năng Tĩnh, người làng Chân Mỹ, huyện Đại An (nay thuộc làng Trực Mỹ, xã Yên Cường, huyện ý Yên, tỉnh Nam Định) viết là:

Tích Lê triều Hồng Đức thái bình thiên, Đinh Mùi, Canh Tuất lưỡng khoa phật kinh liên kế
Kim Nam quận Đại An văn vật địa, Phạm Xá, Hưng Thịnh nhị xã thần miếu tương vương

Tạm dịch:

Xưa Hồng Đức triều Lê, trời thanh bình, Đinh Mùi, Canh Tuất hai khoa liền nhau đỗ đạt.
Nay quận Đại An nước Nam, đất văn vật, Phạm Xá, Hưng Thịnh hai xã cùng thờ miếu thần)

Trước hiên đình có câu đối của Hoàng giáp La Ngạn Đỗ Huy Liêu (người làng La Ngạn, huyện Đại An nay là thôn La Ngạn, xã Yên Đồng, huyện ý Yên, tỉnh Nam Đinh) như sau:

Hồng Đức đương thiên huynh đệ bảng
Nha thành thử địa cổ kim danh

Tạm dịch:

Anh em đề bảng thời Hồng Đức ấy
Muôn thuở lừng danh đất Nha Thành này

Ngô Kính Thần[sửa]

Năm 1493, Ngô Kính Thần được Lê Thánh Tông cử đi sứ Trung Quốc. Tại Cung Đình vua Minh ra câu đối:

Nhật hỏa, Vân yên, bạch trú thiêu tàn Ngọc Thỏ. Nghĩa là: Mặt trời là lửa, mây là khói, ban ngày đốt cháy vầng trăng.

Ngô Kính Thần hiểu rõ dụng ý và mục đích đe dọa của vua Minh, ý bóng gió của câu này là kẻ mạnh sẽ thắng kẻ yếu, tức là Đại Việt phải thuần phục Thiên triều, cần phải khẳng định ý chí và sức mạnh quật cường của Đại Việt.

ông đọc: Nguyệt cung, Tinh đạn, hoàng hôn xạ lạc Kim Ô. Nghĩa là: Trăng là cung, sao là đạn, chiều tối bắn rơi mặt trời.
Vế đối lại thật giỏi về nghĩa về chữ. Lại thấy trăng lưỡi kiềm như cánh cung, những vì sao tròn như viên đạn, đây là sự hình dung thật tuyệt. Song, hay hơn cả là vế đối tỏ rõ sức cứng rắn của người nước Việt, không lời đe dọa nào làm cho run sợ, sẵn sàng đối phó với kẻ thù. Vế đối lại hình tượng sắc sảo, khí phách quật cường. Nếu người Minh dùng “lửa mặt trời” (NHẬT HỎA) để đốt cháy “trăng Đại Việt” (THIÊU TÀN NGỌC THỎ) thì dân Đại Việt lại dùng cái “cung mặt trăng” (NGUYỆT CUNG) để bắn rụng “mặt trời phương Bắc” (XẠ LẠC KIM Ô). Nghe xong vế đối, vua Minh nổi giận, ra lệnh bắt Ngô Kính Thần tống giam vào ngục. Trước đây, người ta vẫn gán vế đối này cho Mạc Đĩnh Chi đời nhà Trần.

Câu đối ca ngợi 3 cha con tiến sĩ Nguyễn Kim, Nguyễn Chuyên Mĩ và Nguyễn Đốc Tín[sửa]

Khoa thi năm Nhâm Tuất (1502) niên hiệu Cảnh Thống thứ 5 đời Lê Hiến Tông có Nguyễn Kim - sinh năm 1470, người làng Thạch Lựu, nay là thôn Thạch Lựu, xã An Thái, huyện An Lão. Ông đỗ Đệ tam giáp Đồng Tiến sĩ xuất thân, lúc 33 tuổi, làm quan đến chức Hiến Sát sứ, khi mất được tặng hàm Hữu Thị lang. Hai con trai ông là Nguyễn Chuyên Mĩ, Nguyễn Đốc Tín cùng đỗ khoa Hồng Thuận thứ 6 khoa thi năm Giáp Tuất (1514) đời Lê Tương Dực; ở quê ông, người ta vẫn còn lưu truyền đôi câu đối:

Đồng thế đồng triều tam tiến sĩ
Nhất gia nhất nhật lưỡng vinh quy

Nghĩa là:

Cùng một đời, cùng một triều đại có 3 người đỗ tiến sĩ
Cùng một nhà, cùng một ngày có hai người được vua phong cho vinh quy

Nguyễn Giản Thanh[sửa]

Tương truyền, năm lên sáu tuổi, một hôm Giản Thanh đang chơi ngựa bằng tua cau thì có viên quan nghỉ hưu trên đường đi tới. Lính tráng ra oai dẹp đường, nhưng Giản Thanh vẫn cưỡi tua cau đứng nhìn. Viên quan bèn hỏi: "Cháu bé đã đi học chưa?" Khi nghe Giản Thanh trả lời là đã biết chữ, làm được câu đối, viên quan liền ra thử vế đối:

vế ra: Trẻ cưỡi mo cau!
Giản Thanh nhìn thấy người lính đứng bế con hạc gỗ, đội biển vua ban, nên đối luôn: Già chơi hạc gỗ!
Viên quan biết Nguyễn Giản Thanh phát lộ tài năng sớm, sau này ắt sẽ làm nên sự nghiệp, nên khen ngợi và thưởng cho tiền. Nguyễn Giản Thanh là con trai của Tiến Sĩ Nguyễn Giản Liên, nhưng cha mất sớm. Ngay từ nhỏ, Giản Thanh đã có phong tư tài mạo sáng sủa, thông minh đĩnh ngộ. Quả nhiên, mấy năm sau, đến kỳ thi đại khoa năm Mậu Thìn đời vua Lê Uy Mục (1508), các quan giám khảo chấm được hai người xuất sắc nhất là Hứa Tam Tỉnh và Nguyễn Giản Thanh. Cả hai đều cân sức cân tài, xem ra Nguyễn Giản Thanh văn hay, bay bổng hơn, nhưng Hứa Tam Tỉnh thâm trầm, sâu sắc hơn. Các quan trường có ý chọn Tam Tỉnh đứng đầu, nhưng vẫn còn khâu cuối cùng do nhà vua trực tiếp sát hạch. Vua cho vời 2 vị vào chầu. Buổi chầu hôm ấy có mặt hoàng thái hậu, mẹ nuôi của vua. Bà thấy Hứa Tam Tỉnh lùn thấp, đen đủi, trong khi Nguyễn Giản Thanh người cao ráo, trắng trẻo thư sinh, bà chỉ ngay mà nói: "Ồ, đây hẳn là trạng nguyên tân khoa. Xứng đáng quá đi rồi!" Vua cũng đã xem các văn bài của cả 2 người và thấy bài của Hứa Tam Tỉnh nhỉnh hơn cả, nhưng thái hậu làm cho bị động, đành cho tiến hành thêm một bước thử tài nữa. Nhà vua ban giấy bút và phán bảo cả 2 người làm bài phú "Phụng thành xuân sắc" ngay tại chỗ. Hứa Tam Tỉnh uyên thâm làm một bài phú bằng Hán văn. Trong khi đó Giản Thanh phóng bút viết bài phú bằng tiếng Nôm, vốn là thế mạnh của mình. Quả nhiên, nghe Tam Tỉnh trầm trầm đọc bài phú, thái hậu không hiểu gì cả. Đến lượt Giản Thanh cất tiếng đọc sang sảng, tả cảnh phồn hoa của chốn đế đô có những đoạn rất bay bướm, Thái hậu nắc nỏm khen hay. Chiều lòng bà, vua Uy Mục bèn chấm cho chàng họ Nguyễn đỗ trạng. Biết được chuyện chỉ vì đẹp trai mà Nguyễn Giản Thanh đoạt mất chức trạng nguyên của Hứa Tam Tỉnh, người làng mình xứng đáng hơn, các bậc trí giả làng Vọng Nguyệt (tục gọi là làng Ngọt), huyện Yên Phong, Bắc Ninh, tỏ ra bất bình, bèn đặt tên cho Nguyễn Giản Thanh là "Mạo Trạng nguyên". Tên gọi này có hai nghĩa, mạo là diện mạo, là vẻ mặt, đồng thời cũng có nghĩa là giả mạo, còn dân gian thì lưu truyền câu "Trạng Me đè Trạng Ngọt".

Hứa Tam Tỉnh[sửa]

Hứa Tam Tỉnh người xã Như Nguyệt, huyện Yên Phong (nay thuộc xã Tam Giang huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ đệ nhị danh khoa Mậu Thìn niên hiệu Đoan Khánh năm thứ 4 (1508) đời vua Lê Uy Mục, từng được cử đi sứ (năm 1516) sang nhà Minh (Trung Quốc). Sau, ông ra làm quan với nhà Mạc, lại được cử đi sứ sang nhà Minh. Khi trở về, ông được thăng Thượng thư Bộ Lại, hàm Thiếu bảo, tước Đôn Giáo bá, về trí sĩ. Tương truyền Hứa Tam Tỉnh lúc còn trẻ tương tư con gái của một Vị Quan Thượng Thư, bà mẹ vì thương Trạng nên đánh liều đến năn nỉ Quan Thượng, Quan Thượng cho gọi vào. Thoạt thấy Trạng, Quan Thượng không hài lòng vì Trạng vừa lùn vừa ốm, da thâm như chì chỉ có đôi mắt là tinh anh và đối đáp về sách vở rất lưu loát. Quan cho mời Thầy về dạy thêm và chẳng bao lâu Trạng đỗ thủ khoa kì thi hương được Quan cho phép thành thân cùng con gái mình. Tối hôm động phòng, sắp bước vào buồng bị tiểu thư chơi ngặt đưa tay không cho vào, ra câu đối bảo đối được mới cho vô:

vế ra: Ốc lậu nguyệt xuyên hình như kê noãn tam tam tứ tứ (Nhà thủng bóng Trăng soi xuống trông hình như ba bốn trứng gà)
Thình lình bị chận nên "quê" tâm thần bị chi phối nên Ông không đối ngay được. Xấu hổ, bèn lững thững dạo bờ Sông. Gió mát trăng thanh nước như vui mừng lăn tăn gợn sóng..Tức cảnh sinh tình hốt nhiên Ông nảy ra ý đối bèn bươn bả vào nhà gỏ cửa phòng xin đối:
vế đối: Giang trường phong lộng, thế tự long lân điệp điệp trùng trùng (Sông dài gió thổi trông sóng lớp lớp như vẩy Rồng)
Tiểu thư nghe vế đối rất chỉnh và hay hơn cái vế "tam tam tứ tứ" của nàng nhiều, nên cười khúc khích, ngoắt tay cho Trạng vào. Hôm sau, nàng đem chuyện này kể lại cho cha nghe, Quan Thượng nghe xong vế đối liền bảo: "Cứ câu này thì sau này ắt hẳn nó sẽ đổ Trạng" và quả đúng như lời Quan Thượng đoán.

Giai thoại đối đáp của Trạng nguyên Hoàng Nghĩa Phú (1485-1562)[sửa]

Hoàng Nghĩa Phú sinh ra ở làng Huyền Khê, sau đổi là Đan Sỹ, xã Trung Thanh Oai, tổng Thượng Thanh Oai, huyện Thanh Oai, phủ Ứng Thiên nay là làng Đa Sỹ, phường Kiến Hưng, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội. Một lần, Nghĩa Phú theo cha đến thăm quan Huyện doãn Lê Đài. Quan huyện đã thử trí thông minh cậu học trò nhỏ, ra câu đối rằng:

多 士 一 轄 農 多 抑 或 士 多 Đa Sỹ nhất hạt nông đa ức hoặc Sỹ Đa
Nghĩa Phú đáp lại: 極 治 之 時 亂 極 必 然 治 極 Cực trị chi thời loạn cực tất nhiên trị cực
Hai câu đối - đáp nhau này từng chữ đối nhau ý tứ chống chọi lại nhau quyết liệt và sâu sắc, thể hiện con người có tầm nhìn xa trông rộng tài tình. Ta có thể hiểu ý của hai câu ấy như sau: Quan huyện thì tự hào rằng: "khen cho quan huyện chính, tóm quát mọi việc của cả một vùng, dân cũng nhiều mà binh lính cũng lắm." Học trò nhỏ thì chê rằng: "khổ cho sự chuyên quyền, gây ra nhiều lộn xộn, sẽ dẫn đến trị lại những quá đáng."

Năm 20 tuổi, Hoàng Nghĩa Phú được bổ đi làm Huấn đạo ở huyện Lệ Thủy, năm 27 tuổi được bổ làm quan Hàn Lâm viện Hiệu lý. Năm 1534, được bổ làm Giám sát Ngự sử Binh bộ Tả Thị lang rồi thăng Đông các Đại học sỹ và tiếp tục làm quan đến Tham tri chính trị, Tham tri Chính phủ. Năm 1548, ông lui về nghỉ hưu. Nhân dân làng Đồng Dương (phường Đồng Mai, quận Hà Đông) lập đền thờ cả 3 thế hệ nhà ông. Trong hậu cung của ngôi đền thờ (nay là Đình thờ) trang nghiêm của làng Đồng Hoàng có đôi câu đối:

桂 籍 聯 輝 三 世 譜
桐 亭 祀 事 一 村 祠
Quế tịch liên huy tam thế phả
Đồng đình tự sự nhất thôn từ

Nghĩa là:

Sách quế liên tiếp rực rỡ ba đời ghi rõ
Đình làng Đồng Dương thờ phụng một lòng cúng tế

Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 - 1585)[sửa]

Nguyễn Bỉnh Khiêm tự Hanh Phủ, hiệu là Bạch Vân cư sĩ, người làng Trung Am, huyện Vĩnh Lại (nay là xã Cổ Am, huyện Vĩnh Bảo, ngoại thành Hải Phòng). Ông ra ứng thí khi đã 44 tuổi, đỗ đầu. Năm 1535, lại ra tỉnh thì được đỗ thứ nhứt, khi vào đình đối, lại đỗ Tấn Sĩ đệ nhứt danh, được bổ chức Đông Các Hiệu Thư, trong thời Thái Tông nhà Mạc. Ông cáo quan xin về trí sĩ giữa năm Quảng Hòa thứ 2 (1542), khi mới 52 tuổi. Khi về trí sĩ, ông dựng am Bạch Vân và lấy hiệu Bạch Vân cư sĩ, mở trường dạy học cạnh sông Hàn Giang, do đó còn có tên là Tuyết Giang và được học trò gọi ông là “Tuyết Giang Phu Tử”. Đương thời họ Nguyễn, họ Trịnh đều phái sứ giả đến hỏi ông những việc hệ trọng. Khi ông mất, nhà Mạc cử quan phụ chính triều đình là Ứng Vương Mạc Đôn Nhượng dẫn đầu các quan đại thần về dự. Việc vua Mạc cử người được vua coi như cha về dự lễ tang nói lên sự trân trọng rất lớn của nhà Mạc với Trạng Trình. Trong buổi lễ tang ấy, Ứng Vương đã thay mặt vua truy tặng Nguyễn Bỉnh Khiêm tước Thái Phó Trình Quốc Công.

  • Tương truyền thuở nhỏ Nguyễn Bỉnh Khiêm có tên là Văn Đạt. Mẹ ông là Nhữ thị vốn tinh thông tướng số và có ước vọng là lấy chồng làm vua hoặc có con làm vua. Do đó trong quá trình dạy dỗ, bà đã truyền cho ông mơ ước ấy rồi. Một hôm khi bà đi vắng, ông Định ở nhà với con và tình cờ hát: Nguyệt treo cung, nguyệt treo cung
Không ngờ Nguyễn Bỉnh Khiêm nhanh nhảu ứng đối lại ngay: Vịn tay tiên, vị tay tiên
Khi bà về đến nhà, ông rất tâm đắc kể lại chuyện ấy thì bị bà trách nuôi con mong làm vua làm chúa cớ sao lại mong làm bầy tôi (nguyệt chỉ bầy tôi).
  • Câu đối viết cho nhà thờ họ Lều gốc Mạc ở Thường Tín - Nhị Khê:
Tứ bách niên tiền chung phục thủy (Bốn trăm năm trước, cuối cùng trở lại như ban đầu)
Thập tam thế hậu dị nhi đồng (Mười ba đời sau, khác biệt mà vẫn cùng chung)
Năm 1592, nhà Mạc thất thủ Thăng Long, họ Trịnh thi hành chiến dịch truy sát nhà Mạc thảm khốc: Lê quý Đôn viết trong Đại Việt thông sử : “Bình An vương Trịnh Tùng giết hết bọn ngụy đảng, đem quân phá hết cung điện ở Cổ Trai, hủy bia ở mộ, chặt hết cây trồng trong lăng. Đó là sự truy phạt vậy.” Trịnh Tùng đã giết hàng nghìn người họ Mạc. Trước tình trạng trên, để giữ lấy dòng tộc, tránh nguy cơ bị tuyệt diệt, họ Mạc chủ trương đổi họ thay tên, “mai danh ẩn tích”. Tuy “ẩn tích mai danh”, nhưng tổ tiên vẫn tìm mọi biện pháp để con cháu nhận ra nhau. Các Cụ quy định và truyền lại các quy ước đổi họ như: Khử túc bất khử thủ, đệm chữ Đăng, mật hiệu trên chữ viết, mật hiệu trên hiện vật, truyền khẩu, lời văn trên gia phả...Năm 1992, đúng 400 năm sau, ban liên lạc họ Mạc được thành lập, các con cháu dòng họ Mạc và họ khác gốc Mạc tập trung gia phả lại biên soạn thành cuốn "Hợp Biên Thế Phả Họ Mạc" và đang có chiều hướng quy tụ lại đổi hết quay về họ Mạc bằng nhiều phương án khác nhau, thế mới thấy lời sấm của Trạng Trình quả là hiệu nghiệm.
  • Câu đối viết cho quan Tổng Đốc Hải Dương:

Tương truyền lúc sắp mất, Trạng Trình có giao cho con cháu một cái ống tre sơn son thếp vàng gắn bít hai đầu và dặn đến đúng năm tháng ấy ngày giờ ấy, phải để cái ống ấy vào kiệu rước lên dinh Tống Đốc Hải Dương, trao cái ống này cho quan thì sẽ cứu vãn được tình thế gia đình nhưng tuyệt đối không được ai mở xem, trừ quan Tổng đốc. Cái ống tre ấy truyền đến người cháu 7 đời cụ, mới rước lên Dinh quan Tổng đốc, đúng vào ngày giờ đã ghi trong gia phả. Khi quan mở ống, thấy một cuộn giấy, ngài rút ra xem thấy có hai câu chữ nho:

Ngã cứu nhĩ thượng lương chi ách (Tao cứu mày khỏi ách xà rơi)
Nhĩ cứu ngã thất thế chi bần (Mày cứu tao cháu bảy đời khó)
Đang lúc bận việc, quan Tổng Đốc thấy hai câu nói xấc xược gọi quan bằng mày ấy, ngài cả giận sẵn cầm chiếc quạt, ngài đứng dậy chạy lại định đánh người cháu Trạng. Nhưng vừa bước khỏi sập, chiếc xà nhà đã từ ngay trên đỉnh đầu đổ rớt xuống đánh rầm một cái. Phúc bảy mươi đời, ngài mới bước ra, nên không sao. Quan Tổng Đốc lúc đó mới giật mình, hiểu rõ Cụ Trạng đã cứu cho mình khỏi cái chết bất đắc kỳ tử. Quan phải ân cần xin lỗi người cháu Cụ, mời về tư thất thế đãi cơm rượu, rồi đưa một số tiền ra giúp, để cứu vãn cho gia đình con cháu Cụ khi đó đang lâm vào hoàn cảnh cực kỳ túng thiếu.
  • Những câu đối ở đền thờ Trạng Trình xã Lý Học huyện Vĩnh Bảo thành phố Hải Phòng:
Hải tang tang hải, duy hữu Nguyễn tộc Trạng nguyên từ vô khuyết (Bể dâu dâu bể, chỉ có đền thờ Trạng nguyên họ Nguyễn là không hề mẻ sứt)
Cổ kim kim cổ, đương cảnh danh tính hinh hương thiện bất vong (xưa nay nay xưa, họ tên ở chốn này thơm hương, tốt không quên)
Trình quốc đại danh nam dữ bắc (Đại danh của Trình quốc công Nguyễn Bỉnh Khiêm vang dội cả phương nam lẫn phương bắc)
Am hương thắng địa thục nhi từ (Đất danh thắng ở làng Trung Am vừa là trường học, vừa là đền thờ)
Hai ngọn Tốn bút hun đúc nên quả phúc
Một dải sông Hàn nuôi dưỡng tâm hoa
Kế tuyệt, phù suy Gia Cát Lượng (Nối được cái đã đứt, đỡ được cái đã suy như Gia Cát Lượng)
Tri lai, tàng vãng Thiệu Nghiên Phu (Tìm hiểu việc đã qua, dự đoán việc mai sau như Thiệu Nghiên Phu)

NGUYỄN ĐỨC LƯỢNG và NGUYỄN THIẾN[sửa]

NGUYỄN ĐỨC LƯỢNG người xã Canh Hoạch, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông. Ông đỗ Trạng Nguyên khoa Tân Mùi, đời Lê Tương Dực, niên hiệu Hồng Thuận thứ 3 (1514), làm quan đến chức Tả Thị lang bộ Lễ; Sau khi chết được tặng Thượng Thư. Cháu gọi ông bằng cậu là Nguyễn Thiến, hiệu Cảo Xuyên, đỗ Trạng Nguyên khoa Nhâm Thìn (1532) đời Mạc Đăng Doanh, niên hiệu Đại chính thứ 3. Làm quan dưới triều nhà Mạc đến chức Lại bộ Thượng thư, Ngự sử đài đô ngự sử, Đông các Đại học sĩ, Nhập thị kinh diên, tước Thư quận công. Do sự kiện nầy và qua kết quả đỗ đạt của giòng họ, nên trong nhà thờ của Trạng nguyên Nguyễn Đức Lượng có đôi câu đối:

“Cữu Trạng nguyên, sanh Trạng nguyên nhất giáp khoa danh quang sử bút
Phụ Tiến sĩ, tử Tiến sĩ bát truyền chung đỉnh dụ gia khương

Tạm dịch:

Cậu Trạng nguyên, cháu Trạng nguyên, khoa bảng đỗ đầu, sáng ngời sử sách
Cha tiến sĩ, con tiến sĩ, tám đời hưởng lộc vua ban, phúc lớn gia truyền

Đồng Văn Năng[sửa]

Đồng Văn Năng sinh cuối thế kỷ thứ XV, mất cuối của thế kỷ thứ XVI. Tên ông còn gọi trong dân gian là “Ông Phổ”, là Đức Tổ đời thứ 4 của dòng họ Đồng thôn Thanh Cao, xã Thạch Khê, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Bấy giờ Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê, Đồng Văn Năng lập nhiều công lớn trong công cuộc chấn hưng Lê triều, xứng đáng với lời khen ngợi của nhân dân:

“Công đối Quỳnh Sơn vạn Trượng cao
Đức lưu hoàng thủy thiên thu mãn”

Đồng Văn Năng là vị thần “Dực bảo trung hưng linh phù bản cảnh, Lê triều tán trị công thần, Anh dũng tướng quân, Phổ dương hầu Đồng phủ quân tôn thần” được nhân dân tôn làm Thành Hoàng làng - Vị thần bảo hộ của mỗi làng Việt cổ truyền, sự linh thiêng của thần được các triều đại phong kiến ban cấp sắc phong chuẩn cho dân làng thờ phụng tại Đền Sắc Trản Nội thôn Thanh Cao, xã Thạch Khê, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Trên cột trụ chính giữa nhà thờ khắc câu đối chữ Hán, nội dung:

“Qua điệt hiến diên Hà Tĩnh bắc
Thuỷ nguyên phái dẫn Hải thành đông”

Tạm dịch:

“Con cháu vui mừng ở phía bắc tỉnh Hà (Hà Tĩnh)
Cội nguồn bắt đầu từ phía đông thành Hải (Hải Dương)”

Câu đối khắc trên hai cột trước:

“Mộc bản thuỷ nguyên thiên thu hợp
Phong tần nhã cát đức kỳ tâm”

Tạm dịch:

“Nước có nguồn cây có gốc nghìn năm vẫn vậy
Phong tần nhã cát” (tư cách mỗi người) cốt ở tâm”

Câu đối khắc trên hai cột giữa:

“Nhập kỳ môn đắc kiến tông miếu
Xuất do hộ nhược hữu dung thanh”

Tạm dịch:

“Vào đến cửa đã được thấy miếu mạo (thờ phụng linh thiêng
Ra khỏi ngõ ngỡ còn nhìn rõ dung nhan nghe được tiếng nói”

Nhà thờ Thần tổ Đồng Văn Năng nằm vị trí bên trái nhà thờ họ (nhìn trong ra), có quy mô nhỏ gọn hơn, hướng chính Nam. Hai bên khắc câu đối chữ Hán:

“Tán trị Lê dân hàm hậu trạch
Linh phù Đồng tộc hạ hồng ân”

Tạm dịch:

“Công lớn giúp (Triều đình), dân đen đều thấm ân huệ dày nặng
Phép thiêng giúp (con cháu họ Đồng), cả họ mừng được ơn lớn”

Phía trước, thiết kế bốn cột đỡ lấy hệ thống mái hiên, trên các cột có ghi một câu đối bằng chữ quốc ngữ:

“Hội tụ đồng xanh hoà nhạc ngựa
Đối lưu nước bạc sáng làn gươm”

Một câu đối bằng chữ Hán:

“Sinh vi dũng tướng, tử vi thần
Công tại đan đình, danh tại sử”

Dẫu Long phúc xưa, Thạch Khê nay, chỉ là một làng quê nhỏ bé trên đất Thạch Hà. Một làng quê chủ yếu sống bằng nghề làm ruộng, mà ruộng lại xấu, bạc màu, nhưng đã là một làng quê đã từng phồn thịnh nhất xứ Nghệ, kể từ đầu thế kỷ thứ XIV và là một trong những làng quê đã từng:

“Đất đã nên đất: Thủy tụ long hồi
Người lại nên người: Nam thanh nữ tú”

Trần Phỉ Khanh[sửa]

Trần Phỉ Khanh quê ở Chi Nê, Thanh Oai, Hà Đông, đậu Thám hoa, triều Đoan Khánh, làm quan thượng thư nhà Mạc. Bấy giờ có người (không rõ ai) viết tặng đôi câu đối như sau:

歷代魁科天下有 Lịch đại khôi khoa thiên hạ hữu (Khôi khoa nhiều đời, thế gian có)
一門致仕世間無 Nhất môn trí sĩ thế gian vô (Hưu trí một nhà, thiên hạ không)

Hoàng Văn Tán[sửa]

  • Vào cuối thời Lê Sơ (đầu thế kỷ XVI) ở làng Xuân Lôi, huyện Vũ Ninh, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc (nay là thôn Xuân Bình, xã Đại Xuân, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh) có cậu bé tên là Hoàng Văn Tán gia cảnh tuy nghèo túng nhưng rất thông minh và giỏi đối đáp. Một hôm có cụ Chánh mang lễ và dẫn con trai đến nhập học. Nhìn lên mâm lễ lớn vừa đặt trên hương án, thầy đồ tức thì ra một vế đối có ý thử tài trò mới và các nho sinh:
Con ruồi đậu mâm xôi, mâm xôi đậu
Vì thầy chơi chữ nên vế ra này rất khó đối, cả đám học trò ngơ ngác nhíu mày im lặng, thầy đồ lắc đầu, hết hy vọng. Bất ngờ cậu bé Tán từ bếp chạy lên, tay vẫn sách siêu nước bốc hơi nghi ngút, cậu kính cẩn xin phép thầy được đối lại, thầy gật đầu bằng lòng. Cụ Chánh và đám nho sinh đứng ngây như phỗng nhìn cậu bé Tán với vẻ ngờ vực. Tán dõng dạc đọc:
Cái kiến bò đĩa thịt, đĩa thịt bò
  • Khi chuẩn bị “lều chõng” lên đường đi thi thì trời nổi cơn mưa, thầy đồ muốn khảo thí các môn sinh lần cuối bèn ra một vế đối:
Lác đác mưa sa làng Hạ Vũ (Hạ Vũ tức làng Phương Vĩ, phường Vũ Ninh ngày nay - quê thầy đồ, nhưng vấn đề ở đây là Hạ Vũ cũng có nghĩa là mưa sa).
Một lần nữa cả môn trường im lặng, thầy trầm tư vẻ mặt không vui. Bỗng nhiên có tiếng xin thầy được đối vang lên từ phía sau, thầy ngoảnh lại chính là Hoàng Văn Tán nói, thấy vậy thầy vui vẻ đồng ý nhận lời.

Tán đáp lại rằng: Ầm ầm sấm động đất Xuân Lôi. (Xuân Lôi là quê của Hoàng Văn Tán, cũng có nghĩa là sấm động mùa Xuân).

Tán vừa đọc dứt vế đối thì trên trời lóe chớp và tiếp theo là một tiếng sấm rất lớn. Thầy đồ sung sướng reo lên: "Trạng nguyên của ta đây rồi!" Và kỳ thi năm đó Hoàng Văn Tán đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ nhất danh Trạng nguyên, sau ông làm đến chức Tả thị lang bộ lễ cho nhà Mạc. Ông được giao cùng với Đông các đại học sĩ Đạo Nguyện bá Nguyễn Văn Thái thảo tờ chiếu của Lê Cung Hoàng nhường ngôi cho Mạc Đăng Dung (Đại Việt Sử ký Toàn thư chỉ chép là Nguyễn Văn Thái thảo chiếu này). Vế đối này có thuyết khác lại chép là của Nguyễn Tự Cường nhưng lời lẽ có khác đôi chút, điển tích như sau: Nguyễn Tự Cường người làng Xuân Lôi, tuy đã lớn tuổi, có vợ con rồi mà vẫn bị mang tiếng là người dốt nát. Lúc ông 30 tuổi, vợ ông cố năn nỉ một vị đại khoa để xin cho ông được phép khai tâm. Vị đại khoa nhận lời, nhưng ông Cường học tối dạ, ba ngày không thuộc một bài. Thầy không muốn dạy nữa, ngỏ ý trả ông về với vợ, nhưng bà vợ năn nỉ quá, ông bèn thương tình ra cho một câu đối, nếu đối được thì ông dạy, bằng không thì thôi. Nhân tên làng của thầy là làng Hạ Vũ và gặp lúc đang mưa, thầy liền ra câu đối: Làng Hạ Vũ mưa bay phất phới. Nguyễn Tự Cường liền ứng khẩu đối luôn là: Đất Xuân Lôi sấm động ù ù. Thầy liền cả kinh mà nói rằng: “Coi câu đối của anh thì cái khí tượng đại khoa đã biểu lộ. Thực là ít có, thế nào anh cũng thành đạt được. Như thế thì, dù anh không muốn học, tôi cũng khuyên cho đi học”. Quả đúng như lời thầy tiên đoán, ông Nguyễn Tự Cường về sau đỗ Hoàng Giáp, khoa niên hiệu Hồng Thuận thứ 16 triều vua Tương Dực nhà Lê.

Trần Tất Văn[sửa]

Trần Tất Văn, người làng Nguyệt Áng, tổng Đại Hoàng, phủ Kinh Môn, trấn Hải Dương (nay là thôn Nguyệt Áng, xã Thái Sơn, huyện An Lão, TP. Hải Phòng) thi đỗ Trạng nguyên khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Thống Nguyên thứ 5 (1526) đời vua Lê Cung Hoàng. Ông là tác giả bài biểu Lui vạn binh nổi tiếng, tương truyền, Mao Bá Ôn đọc biểu rơi nước mắt rồi quyết định lui quân. Trong lịch sử bang giao thời Đại Việt, lời lẽ và sức mạnh của bài biểu “Lui vạn binh” của Trạng nguyên Trần Tất Văn có thể được sánh ngang với lời đối đanh thép “Đằng giang tự cổ huyết do hồng” của sứ thần Giang Văn Minh. Trần Tất Văn làm quan nhà Mạc đến chức Thượng thư, tước Hàn Xuyên Bá. Làng Nguyệt Áng - nơi Trạng nguyên Trần Tất Văn sinh ra và lớn lên có mạch núi cao, sông Cửu Biều lượn quanh, đất đai tươi tốt, khí tinh hoa tụ họp lại. Bởi thế, dân làng còn mãi truyền tụng câu đối ca ngợi truyền thống hiếu học của quê hương do cha con Trạng nguyên Trần Tất Văn là người đắp móng, xây nền như sau:

“Một áng văn chương, dò đâu đó, nền Tể Tướng đất Trạng Nguyên, làng Nguyệt Áng địa linh nhân kiệt
Mấy hàng chữ nghĩa, đáng là bao, của Thương Thư nhà An Sát, đất Cổ Am nguyện lộng phong lâu”

Câu đối liên quan đến Trạng Kế Giáp Hải[sửa]

Giáp Hải tự là Tiềm Phu, hiệu Tiết Trai, tục gọi là Trạng Kế. Ông quê làng Dĩnh Kế, huyện Ph­ượng Nhãn, trấn Kinh Bắc (nay thuộc huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang). Giáp Hải đỗ Trạng nguyên năm Mậu Tuất, niên hiệu Đại Chính thứ chín (1538) đời Mạc Thái Tông. Dư­ới triều Mạc, ông giữ chức Tuyên phủ đồng tri, thăng Lại bộ Thư­ợng thư­, kiêm Đông các đại học sĩ Nhập thị kinh diên, thăng hàm Thiếu bảo tư­ớc Sách quốc công. Giáp Hải rất giỏi về văn học và ngoại giao, nhiều lần đi sứ phư­ơng Bắc, ông đư­ợc ngư­ời Minh kính phục và trang trọng gọi là Giáp Trạng Nguyên. Vua Mạc Mậu Hợp tặng ông lá cờ thêu đôi câu đối khi về h­ưu:

"Trạng đầu tể t­ướng Đẩu Nam tuấn
Quốc lão, đế s­ư, thiên hạ tôn"

Dịch nghĩa:

Đỗ trạng nguyên, làm tể tướng, danh tựa Nam Đẩu
Là quốc lão, làm thầy vua, đư­ợc mọi ng­ười kính trọng

Câu đối của Hoàng Giáp Phạm Hoảng[sửa]

Có 1 Thầy đồ muốn thử tài học sinh của mình, ra một vế đối:

Kiến đậu cành cam, bò quấn quít

Thầy dùng tiểu xảo: có cam lại có quýt. Chữ quýt vừa là tiếng đệm, vừa là tên cây. Cả đám học trò loay hoay nghĩ mãi chưa ra thì chú bé hầu trà của thầy đồ đã chắp tay: "Thưa thầy, con xin đối". Cả thầy đồ và đám học sinh đều ngạc nhiên. Thầy đồ bảo: "Phải học luật thơ, luật phú mới đối được chứ. Con có học gì đâu? Nhưng thôi được, cho con cứ đọc."

Thưa thầy và xin phép các anh ở đây, con xin đối là: Ngựa về đường Bưởi, chạy lanh chanh

Gần như giật mình, thầy đồ đập tay xuống chiếu: "Giỏi lắm! Giỏi lắm! Rất hay, rất chỉnh". Thầy bảo với cả lớp: "Các anh thấy chưa? Cam quýt đối với bưởi chanh. Hay lắm! Mà ý tứ lại khoáng đạt hào hùng hơn câu ra. Các anh nên nhớ lấy". Thầy quay lại chú bé: "Nhưng sao mà con lại nói đường Bưởi? Đường Bưởi ở đâu?" Chú bé đáp: "Thưa thầy tha lỗi con nói đường Bưởi là vì con nghĩ đến quê con. Con ở làng Bưởi Nồi, tức là Đại Bái."

Chú bé nói đúng. Chú tên là Phạm Hoảng, quê ở Đại Bái (nay thuộc huyện Gia Lương, Bắc Ninh). Chú vốn theo nghề gò đồng của làng này. Một hôm, khi gò mảnh dát, chú lỡ đập búa vào chân. Đau qua, chú bực mình vứt đe xuống ruộng bỏ đi ở hầu trà nước cho thầy đồ. Hàng ngày, nhập tâm lời giảng của thầy, lời kể của sách, lời đọc bài của học sinh mà chú được mở mang trí tuệ. Thấy chú bé có khiếu, thầy đồ và nhà chủ đã giúp đỡ cho chú học tập. Sau này, Phạm Hoảng đã thành công rực rỡ. Ông đỗ Hoàng Giáp đời Mạc (1535), đồng khóa với Nguyễn Bỉnh Khiêm. Hôm vinh quy về làng, làng không dám nhận. Ông Hoàng Giáp phải ra đám ruộng, mò lấy hòn đe mình đã vứt xuống để chứng minh với dân làng rằng chính mình quê ở Bưởi Nồi, Đại Bái.

Nguyễn Mẫn Đốc[sửa]

Nguyễn Mẫn Đốc, người họ Tam Sơn - Tiết Nghĩa, quê làng Dòng, xã Xuân Lũng, huyện Sơn Vi, nay là huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. Bảng nhãn Nguyễn Mẫn Đốc vì phù Lê, diệt Mạc mà tuẫn tiết được các tài liệu ghi nhận chính xác đến từng chi tiết và cơ bản là thống nhất. Hài cốt của ông được liệm trong quan, ngoài quách đồng, cho rước về quê táng tại một quả đồi ở xóm Lũng Bô. Còn được dựng Lăng miếu thờ theo kiểu thờ một vương tước, vì thế nơi ấy có tên là Rừng Lăng (Lăng nghĩa gốc là đồi đất lớn). Đôi câu đối tương truyền vua ban được lưu truyền trong dòng họ và làng xã một thời:

"Tảo tuế khôi khoa thiên hạ hữu
Trung thần tiết nghĩa thế gian vô

Dich nghia:

Đỗ đạt sớm thì thiên hạ có người
Ít tuổi mà tiết nghĩa thế gian không có ai".

Xã chí Xuân Lũng, bản chữ Hán và quốc ngữ hiện còn lưu giữ ở Viện nghiên cứu Hán Nôm, do lý trưởng Nguyễn Liên, tiên chỉ Lê Như Bách và trưởng bạ Nguyễn Viết Đạo thị thực, ký tên và áp triện năm 1943, còn ghi lại đôi câu đối:

"Thần trung tử hiếu cương thường tại
Địa hiếu thiên lưu tiết nghĩa trường"
ý rằng bề tôi trung, con cháu hiếu thảo, cương thường còn, tiết nghĩa bền

Phạm Tử Nghi (1509 - 1551)[sửa]

  • Câu đối ở đình Hải Yến:

Đình Hải Yến - phường Yên Hải - thị xã Quảng Yên - tỉnh Quảng Ninh được xây dựng vào cuối thế kỷ XVIII. Đình thờ thần Phạm Tử Nghi làm thành hoàng che chở cho dân làng. Ngoài ra, đình còn phối thờ các vị Tiên Công của các dòng họ đã có công lập làng Hải Yến. Phạm Tử Nghi là tướng nhà Mạc, người làng Vinh Niệm, tổng An Dương, huyện An Dương, phủ Kinh Môn, trấn Hải Dương – nay là phường Vĩnh Niệm, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng, Việt Nam. Phạm Tử Nghi được nhà Mạc thu dụng, cất nhắc làm Thái uý, tước Tứ Dương hầu. Trong đền thờ Phạm Tử Nghi có câu đối đề:

Tướng Mạc, thần Lê, danh bất hủ
Cừu Minh, hận Hán, tiết di cao

Dịch nghĩa:

Tướng Mạc, thần Lê, tên còn mãi
Thù Minh ghét Hán khí tiết cao
Minh sử ghi nhận: “Mạn Lĩnh Hải náo động”. Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư: “Tử Nghi trốn vào đất Minh, thả quân đi bắt người cướp của ở Quảng Đông, Quảng Tây, người Minh không thể kìm chế được”
  • Câu đối khắc ở miếu Đôn phường Niệm Nghĩa quận lê Chân - Hải Phòng:
Thánh thần hải sơn chung lưỡng quốc linh thanh truyền sử sách
Hiếu trung thiên địa phạm ức niên lăng miếu hệ dân ân.

Dịch:

Thánh thần do khí sáng của non sông hai nước uy linh còn sử chép
Trung hiếu là khuôn thiêng, trong trời đất nghìn đời, lăng miếu ở nơi dân.
  • Tại miếu Vu Linh hiện còn các đôi câu đối ca ngợi Phạm Tử Nghi như sau:
Thánh đức linh thiêng, Đông Hải núi sông thiên cổ miếu
Thần thông chính trực, xã tắc vững bền bốn mùa hương

và:

Đức lớn yên dân thiên cổ thịnh
Công cao hộ quốc vạn niên thường.

Câu đối liên quan đến Đoan Sứ Thượng Thư Nguyễn Chính Tuân (1514 - ? )[sửa]

Theo gia phả họ Nguyễn Ba Ngành kể lại cụ tổ họ Ba Ngành là Ngô Tướng Công, tên thật là Ngô Tiến Đức sau đổi thành Nguyễn Tiến Đức vốn người gốc Thanh Hóa, làm quan giám thị dưới thời Lê Sơ. Cụ bà Mai Thị Tình sinh hạ được 3 người con trai: Con trưởng tên là Nguyễn Duy Tín; con thứ Nguyễn Duy Thường; con thứ 3 là Nguyễn Chính Tuân. Nguyễn Chính Tuân người Lâm Thao xã Xuân Lũng huyện Sơn Vi nay là làng Dòng xã Xuân Lũng huyện Phong Châu tỉnh Phú Thọ, do không chịu theo nhà Mạc nên cả 3 anh em trai đều cải họ Nguyễn Ngô. Nơi thờ danh nhân Nguyễn Chính Tuân có tên là "Từ đường họ Ba Ngành" được xây dựng vào năm 1882 dưới chân một quả gò nhỏ nằm giữa xóm Làng San Nội. Cổng từ đường nằm sát ven con đường làng nhỏ, phía trên đề 3 chữ hán "Tiến sĩ từ" được mô phỏng theo kiểu táp môn 2 tầng 8 mái, hai bên cửa vòm được trang trí câu đối. Câu đối trong từ đường :

Ngô tổ chung gia tuỳ Lê khứ
Mạc thời huấn cải Nguyễn gia Kim

Những câu đối liên quan đến Bảng Nhãn Bùi Khắc Nhất (1533 - 1609)[sửa]

Bùi Khắc Nhất quê xã Hoằng Lộc, huyện Hoằng Hóa, dự thi “Chế khoa” mở lần thứ hai vào năm Ất Sửu, niên hiệu Chính Trị, triều Lê Anh Tông (1565) và đỗ Đệ nhất giáp chế khoa, Bảng nhãn. Ở nhà thờ ông hiện còn thấy mấy đôi câu đối chữ Hán sau:

Tứ thập tứ tải tuyên cao sự kinh lục Bộ
Thất thập thất niên hưởng thọ sĩ lịch tam triều

Dịch:

Bốn mươi bốn năm công to kinh qua sáu bộ
Bảy mươi bảy tuổi hưởng thọ trải suốt ba triều

và:

Chính Trị Ất Sửu khoa Bảng nhãn
Trung Hưng đệ nhị các Công thần

Dịch:

Triều Chính Trị Khoa Ất Sửu thi đỗ Bảng nhãn
Hàng công thần triều Trung Hưng xếp bậc thứ hai

Sau khi thi đỗ, ông được bổ làm quan, tại vị 44 năm thì mất. Về quân sự, ông giữ chức Binh bộ thượng thư nhiều năm. Về chính trị, ông từng làm Tả thị lang bộ Công, phụ trách việc tu bổ, xây dựng khẩn trương lại cung điện, tường thành, kho tàng...Rồi làm Tả thị lang bộ Hình, coi sóc việc tù ngục, xét xử các vụ kiện. Khi mất người dân Bột Thái (Hoằng Lộc) dựng nhà thờ để tưởng niệm, ghi nhớ công đức và chọn một vị trí đẹp để đặt phần mộ ông và đề tặng câu đối như sau:

Long phi ứng tại thiên thượng thái
Hổ phục linh cư địa hạ thành

Dịch:

Phía trên trời cao thì có rồng bay lượn
Ở dưới đất thiêng thì có hổ quỳ chầu

Những câu đối khắc tại Đền Thờ và Lăng Mộ Thống Binh Thái Phó Mạc Cảnh Huống[sửa]

Mạc Cảnh Huống húy Lịch (1542-1677) là con út của Thái tông Mạc Đăng Doanh, dưới thời vua Mạc Mậu Hợp, Mạc Cảnh Huống quyết định đưa gia đình vào Đàng Trong với ý đồ giúp cho Nguyễn Hoàng. Ông là vị chỉ huy tối cao của quân đội Đàng Trong, người vạch ra chiến lược quân sự để chống quân Trịnh ở phía Bắc và bình định quân Chiêm ở phương Nam. Ông giúp chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan (1635-1648) cho đến năm 1638 ông mới xin từ quan, nghỉ việc công ở tuổi 96 để tu hành. Dưới đây là những câu đối khắc trên lăng mộ và đền thờ ông tại làng Trà Kiệu huyện Duy Xuyên tỉnh Quảng Nam. Ở trên 2 trụ cổng lăng khắc hai hàng câu đổi chữ Hán chạy dọc sơn màu váng trên nền đỏ:

Bắc địa hưng bang đa tuấn kiệt
Nam thiên khai quốc đại công thần.

Tạm dịch:

Đất Bắc dựng non nhiều anh kiệt
Trời Nam mở cõi lắm công thần

Ngoài câu đối bằng chữ Hán ở phía trước lăng mộ của danh thần Mạc Cảnh Huống đã được nêu ở trên còn có các câu đối khác:

“Tổ lai Bắc địa căn nguyên thủy
Hồi trứ Nam thiên vũ trụ tiên”

Tạm dịch:

“Gốc trước quê cha trên đất Bắc
Về xây tiên tổ chốn trời Nam”

Ở bên Tả của chánh tẩm treo câu đối màu vàng trên nền đỏ:

“Quốc tước tập phong hoa cổn miện
Công thần phò chúa tráng dư đồ”

Tạm dịch:

“ Tước hiệu vua ban cùng mũ áo
Công thần phò chúa mở cõi bờ”

Ở bên Hữu của tẩm treo câu đối:

“Trà Sơn linh tú phụng quang cửu
Đông Phụ căn miêu tộc tánh trường”

Tạm dịch:

Núi Trà Kiệu linh kiệt mãi quang vinh
Gò Đông gốc rễ lưu danh họ

Ở gian giữa chính điện treo câu đối:

Quốc súng công thần khâm đế mạng
Sắc phong Thượng tướng hà triều ân

Tạm dịch:

Nước quý công thần vâng mệnh chúa
Sắc phong Thượng tướng chịu ơn vua

Những câu đối và giai thoại liên quan đến Liễu Hạnh công chúa (1556 - 1577)[sửa]

Năm 1557, ở thôn An Thái, làng Vân Cát, huyện Vụ Bản, thuộc tỉnh Nam Định ngày nay, có một gia đình nhà họ Lê. Phu nhân Lê Thái Công mang thai gần đến kỳ sinh nở, Lê Thái Công bỗng ngã ra bất tỉnh, thấy mình được đưa lên Thiên Đình. Tại đây, Thái Công dự một bữa tiệc lớn, do Ngọc Hoàng khoản đãi. Ông thấy Công Chuá Quỳnh Nương lỡ tay làm rơi chén ngọc, bị đày ải xuống trần gian. Khi Thái Công tỉnh dậy, thì phu nhân vừa hạ sinh được một cô con gái, Thái Công đặt tên con là Giáng Tiên. Năm 18 tuổi, nàng kết duyên cùng Đào Lang. Ba năm sau, Giáng Tiên đột ngột từ trần. Ngọc Hoàng thấy nàng chưa hết hạn đi đày, bắt phải trở xuống thế gian. Lần này, nàng xuất hiện dưới lốt một vị nữ thần, đi theo là 2 ngọc nữ Quế Nương và Thị Nương. Chẳng mấy chốc, thiên hạ đều biết tiếng các vị tiên nữ, vì những phép linh ứng của 3 nàng. Dân chúng tỏ lòng biết ơn, đã xây một ngôi đền thờ cạnh núi, để thờ phượng. Đền thờ này được gọi là đền thờ Công Chuá Liễu Hạnh. Triều đình nghe danh tiếng, đã phong tặng nàng làm Thượng Đẳng Phúc Thần. Sau khi Liễu Hạnh về trời, hai tiên nữ Quế Nương và Thị Nương thường đứng ra làm trung gian cho dân chúng cầu xin đến Công Chúa. Dân gian tin tưởng Bà Chuá Liễu, lập đền thờ bà khá trọng thể ở Phủ Giầy, Nam Định, nơi nàng đầu thai. Dân cũng lập đền thờ Bà Chuá Liễu ở Phố Cát và Đền Sòng tại Thanh Hoá, nơi nàng xuống trần lần thứ hai.

Phủ Thánh Đài còn gọi là phủ Tổ, phủ Đá là nơi thờ tổ tiên mẫu của làng Vân Cát. Ở đây có đôi câu đối do Đông các Đại học sĩ tổng đốc trí sĩ làng Miêu Nha, huyện Kiến An Mai Trung Cát đề tặng như sau:

Hoàng Lê quốc phái bản bản nguyên, minh đức kỳ lai viễn hĩ
Vân Cát hương dân tôn tôn tử, kế thế vật thế dẫn chi
(Dòng dõi vua Lê, nguồn gốc lưu truyền, đức sáng bao trùm lâu lắm vậy
Dân làng Vân Cát, cháu con nối tiếp, chớ hề thay đổi nếp xưa đi)

Câu đối của Tổng đốc Nam Định Đoàn Triển:

Chân thân tòng để khuyết, tam giáng sinh duy tinh duy hiếu, thiên cổ mẫu nghi. Thúc nhiên xa cái vân du, do yết tâm kinh phù thế đạo
Linh thanh liệt Nam thiên, tứ bất tử thị phật thị tiên, vạn gia từ mộ. Đương thử giang hà nhật hạ, khởi duyên phong hội biến thần quyền
Chân thân từ để khuyết, ba độ giáng sinh vẫn trinh vẫn hiếu, muôn thuở khuôn mẫu người mẹ. Bỗng nhiên xe lọng xa vời, còn để tâm kinh dạy cho thế đạo.
Thiêng liêng ở Nam Giao, thứ tư bất tử là phật, là tiên, mọi nhà kính mến lòng từ. Đang buổi non sông ngày xuống, đâu vì phong hội thay đổi thần quyến

Năm 1938, Lăng mộ được các đệ tử Đào Chi ở đền Phổ Hóa (Huế) công đức xây dựng bằng đá xanh. Trong đó có đôi câu đối của ba chị em Đào Chi:

Sinh hóa suốt ba phen, trinh hiếu gươm treo miền quận Bắc
Tinh thần 500 lẻ, anh linh bóng dọi chốn thành Nam

Đền thờ Ngài ở Hà-nội mang tên là đền Ngọc-hồ (do tích vì Ngài làm vỡ bầu ngọc mà bị giáng trần, như đã nói ở đầu bài này). Trước đền có một bức hoành đăng mang bốn chữ đại tự 玉壺世界 (ngọc hồ thế giới, tức thế giới bầu ngọc), có ý chỉ đền tượng trưng cho cả một thế giới. Hai bên còn có đôi câu đối sau:

壺中日月依然天竺清光, 玉盞樓臺別占蓬萊世界
日焰月臨玉壺燦爛, 山纏水繞浦葛奇觀
Hồ trung nhật nguyệt y nhiên Thiên-trúc thanh quang, Ngọc trản lâu đài biệt chiếm Bồng-lai thế giới
Nhật diễm nguyệt lâm, ngọc hồ xán lạn, Sơn triền thủy nhiễu, Phố Cát kỳ quan

dịch:

Nhật nguyệt trong bầu giống trời Phật giáo trong sáng, Chén ngọc lâu đài riêng chiếm thế giới Bồng-lai
Trời soi trăng chiếu, bầu ngọc xán lạn, Núi chồng sông lượn, Phố Cát cảnh lạ

Đôi câu đối này có ý nói Thánh mẫu Liễu-hạnh ngự trị thế giới Ngọc-hồ, nơi trời trăng trong sáng như trời Thiên-trúc (ý chỉ trời Phật giáo), cũng là thế giới Ngọc-trản, tràn đầy rượu ngon để cho các thi nhân ngồi trên lầu đài thưởng thức mà ngâm vịnh thiên nhiên vũ trụ vạn vật, thật sướng như sống trong Bồng-lai tiên cảnh.

Tại đền Kiếm-hồ có một đôi câu đối biểu đạt rõ ràng chân bản lai diện mục của Thánh mẫu Liễu-hạnh, một người mẹ hiền từ chẳng phải của riêng loài người mà là của vạn vật muôn loài:

成物如地, 生物如天, 陶鎔物類如大造之難得名, 言歷代袞華昭懿鑠.
出世為僊, 降世為佛, 普度世人為慈母之憫斯鬻子, 萬方芹曝樂尊親.
Thành vật như địa, sinh vật như thiên, đào dung vật loại như đại tạo chi nan đắc danh ngôn, lịch đại cổn hoa chiêu ý thước
Xuất thế vi Tiên, giáng thế vi Phật, phổ độ thế nhân vi từ mẫu chi mẫn tư chúc tử, vạn phương cần bộc lạc tôn thân

Tạm dịch là:

Làm nên vật như đất, sinh nên vật như trời, nung đúc các loài như công lớn tạo hóa khó nói được tên, đời đời áo bào hoa sáng ý đẹp
Xuất thế là Tiên, giáng thế là Phật, độ khắp người đời làm Mẹ hiền thương sót con thơ, muôn phương hương khói vui lòng tôn yêu

Phùng Khắc Khoan[sửa]

Phùng Khắc Khoan hiệu là Nghị Trai, tự là Hoằng Phu, người ở làng Bùng (nay là làng Phùng Xá, đất Sơn Tây) tục gọi là Trạng Bùng. Tương truyền rằng Khoan là anh em cùng mẹ khác cha với Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Phùng Khắc Khoan lớn lên, được mẹ cho đi Hải Dương theo học anh là Nguyễn Bỉnh Khiêm. Năm Canh Thìn (1580), nhà Lê Trung hưng mở Hội thi ở Vạn Lại, Thanh Hoá, lấy đỗ sáu người, Phùng Khắc Khoan đỗ thứ hai, được thăng chức Đô cấp sự trung. Trong đời Lê Thế Tông (1600 - 1619), ông lĩnh chức Công bộ Thượng thư, kiêm Quốc tử giám Tế tửu.

  • Câu đối tự thuật:
Đương lúc vội vàng chàng những muốn...
Bây giờ thong thả thiếp tha hồ...
Ở đây Trạng Bùng đã khéo vận dụng câu ca dao:"Đương khi tắt lửa cơm sôi, lợn kêu con khóc chồng đòi tòm tem...Bây giờ lửa đã cháy lên, lợn no con nín tòm tem thì tom"
  • Đối đáp với Công Chúa Liễu Hạnh:

Khi nhà Lê khôi phục Thăng Long, Phùng Khắc Khoan được cử đi sứ triều Minh bên Tàu. Trạng Bùng hoàn thành chuyến đi sứ từ Trung Quốc về đến Lạng Sơn, trên đường đi qua một ngôi chùa, trước sân có ba cây thông, một cô gái xinh đẹp ngồi đó, vừa đàn vừa hát. Phùng Khắc Khoan lên tiếng ghẹo:

三木森庭坐著好兮女子 Tam mộc xâm đình, tọa trước hảo hề nữ tử (Ba cây che sân, một cô gái đẹp ngồi đó).
Không ngờ cô gái đối ngay: 重山出路走來使者吏人 Trùng sơn xuất lộ, tẩu lai sứ giả lại nhân (Núi non mở đường, người sứ giả đi, đó là một vị quan)
Trạng Bùng vừa ngạc nhiên vừa khâm phục cô gái. Bởi vế ra đối của ông tuy là lời lẽ dung dị, nhưng dùng cách ghép chữ không dễ đối: ba chữ “mộc” [木] (cây), ghép lại thành chữ “sâm” [森] (rậm rạp); chữ “hảo” [好] (tốt, đẹp), do chữ “ nữ” [女] (phụ nữ) và chữ “tử” [子] (con) ghép lại. Cô gái cũng dùng lời lẽ bình thường, và cũng sử dụng lối ghép chữ: hai chữ “sơn” [山] (núi), ghép lại thành chữ “xuất” [出] (ra, mở); chữ “sứ” [使] (đi sứ), do chữ “lại” [吏] (quan lại) và chữ “nhân” [人] (người) ghép lại.
Ông hứng khởi đọc luôn câu khác: 山人憑一几莫非仙女臨凡 Sơn nhân bằng nhất kỷ, mạc phi tiên nữ lâm phàm (chữ “sơn” [山] (núi) ghép với chữ “nhân” [人] (người), thành chữ “tiên” [仙] (tiên); chữ “bằng” [朋] có chữ “kỉ” [几] (ghế); chữ “nhất” [一] ghép với chữ “kỉ” [几] thành chữ “phàm” [凡] (trần tục). Cả câu có nghĩa: Cô gái miền núi ngồi trên ghế, phải chăng là nàng tiên giáng trần?
Cô gái cũng đáp lại một cách tài tình: 文子帶長巾必是學生侍帳 Văn từ đối trường cân, tất thị học sinh thị trướng. Lại vẫn dùng lối ghép chữ: chữ “văn” [文] ghép với chữ “tử” [子], thành chữ “học” [學]; chữ “đới” [帶] có chữ “cân” [巾] (cái khăn); chữ “trường” [長] ghép với chữ “cân” [巾] thành chữ “trướng” [帳] (màn). Cả câu có nghĩa: Chàng văn nhân chít khăn dài, chính là cậu học sinh nhìn vào màn đấy chăng?
Phùng Khắc Khoan thấy vậy, muốn hỏi lai lịch thì đã biến mất rồi, chỉ thấy gỗ nằm ngổn ngang, hình ra bốn chỗ: “Mão khẩu công chúa”, và có một cây gỗ dựng viết bốn chữ “Thủy mã dĩ tẩu”. Những người cùng đi tỏ vẻ không hiểu, ông Phùng giảng giải: “Mộc” [木] là cây gỗ, ghép với chữ “ mão” [卯] thành chữ “liễu” [柳], ghép với chữ “khẩu” [口] ra thành chữ “hạnh” [杏]. Tiên nữ vừa rồi chính là công chúa Liễu Hạnh. Còn chữ “băng” [冫] ghép với chữ “mã” [馬], là họ Phùng [馮] của ta; chữ “dĩ” [已] nằm cạnh chữ “tẩu” [走] chính là chữ “khởi” [起]. Chắc công chúa muốn ta khởi công xây dựng ngôi chùa. Sau đó, Phùng Khắc Khoan lập tức xuất tiền tiến hành khởi công trùng tu ngôi chùa này

Tương truyền, một lần Phùng Khắc Khoan cùng hai bạn văn thơ (không rõ tên) họ Lý và họ Ngô đi chơi lênh đênh trên một chiếc thuyền ở Hồ Tây, cầm kỳ thi tửu. Bỗng họ trông thấy một khóm cây đào xanh tốt um tùm, bèn len thuyền vào bên trong thì thấy có một tòa lầu nguy nga, ngoài cửa bên trên có đề bốn chữ "Tây hồ phong nguyệt (gió trăng hồ Tây) và hai bên có đôi liễn viết lối chữ thảo:

湖中閒日月
城外小乾坤
Hồ trung nhàn nhật nguyệt
Thành ngoại tiểu càn khôn

Dịch nghĩa:

Trong hồ nhật nguyệt nhàn
Ngoài thành vũ trụ nhỏ

Trước lầu có che một bức mành mành, thấp thoáng bên trong bóng một thiếu nữ mặc áo đỏ lịch sự. Họ Lý cất tiếng hỏi: "Chỗ lâu đài này có phải là cảnh tiên không? Anh em chúng tôi vô tình lỡ bước tới đây, muốn mượn cảnh này làm chỗ Lan-đình thắng hội, không biết tiên nữ có dung cho hay không?" Thiếu nữ bèn đáp: "Chỗ này không phải phàm trần, nếu các ông quả là bậc phong nhã, thì tôi đây cũng không hẹp gì." Ba người bèn đậu thuyền bước lên. Bên trong thấy có bàn đá, bèn giở bầu rượu túi thơ ra uống và ngâm vịnh. Thiếu nữ hỏi rằng: "Các ông tới đây có tài nhả ngọc phun châu, văn chương đủ kinh động quỉ thần. Nay tôi có một đề thơ muốn cùng các ngài xướng họa." Thiếu nữ đó chính là Liễu Hạnh công chúa hạ phàm:

Liễu-Hạnh: 西湖別占一壺天 Tây hồ biệt chiếm nhất hồ thiên
Lý: 縱目乾坤盡豁然, 古樹遠莊青寞寞 Túng mục càn khôn tận khoát nhiên, cổ thụ viễn trang thanh mịch mịch
Phùng: 金牛闊水綠涓涓,生涯何處數間屋 Kim ngưu khoát thủy lục quyên quyên, sinh nhai hà xứ sổ gian ốc
Ngô: 活計誰家一隻船, 隔竹疏離聞犬吠 Hoạt kế thùy gia nhất chích thuyền, cách trúc sơ ly văn khuyển phệ
Lý: 烹茶破壁透廚煙, 輕輕桂棹手中蕩 Phanh trà phá bích thấu trù yên, khinh khinh quế trạo thủ trung đãng
Phùng: 短短簑衣身上穿, 彷彿洞庭游范蠡 Đoản đoản suy y thân thượng xuyên, phảng phất Động đình du Phạm-Lãi
Ngô: 依稀碧漢泛張騫, 千尋浩蕩暗深淺 Y hy bích Hán phiếm Trương-Khiên, thiên tầm hạo đãng ám thâm thiển
Lý: 四顧微茫迭後先, 款乃往來紅蓼畔 Tứ cố vi mang điệt hậu tiên, khoản nãi vãng lai hồng liệu bạn
Phùng: 嘔啞出入白蘆邊, 沙中獵戲忘機鷺 Ẩu nha xuất nhập bạch lô biên, sa trung liệp hí vong cơ lộ
Ngô: 雲外閒觀率性鳶, 幾曲滄歌聞水國 Vân ngoại nhàn quan suất tính diên, kỷ khúc thương ca văn thủy quốc
Lý: 一雙白眼放塵喧, 交頭對話倚荷蓋 Nhất song bạch nhãn phóng trần huyên, giao đầu đối thoại ỷ hà cái
Phùng: 伸手相招戲莢錢, 笠放蓮間藏寀嫩 Thân thủ tương chiêu hí giáp tiền, lạp phóng liên gian tàng thái nộn
Ngô: 籃沉梢底養魚鮮, 或將淡酒花叢酌 Lam trầm sao để dưỡng ngư tiên, hoặc tương đạm tửu hoa tùng chước
Lý: 辰枕長篙樹影眠, 醉後相看拋水面 Thần chẩm trường cao thụ ảnh miên, túy hậu tương khan phao thủy diện
Phùng: 浴餘自樂曝風前, 安華牧子新朋結 Dục dư tự lạc bộc phong tiền, an hoa mục tử tân bằng kết
Ngô: 上苑樵夫舊約堅, 抱膝徐吾觀蚌勢 Thượng uyển tiều phu cựu ước kiên, bão tất từ ngô quan bạng thế
Lý: 探領笑彼沒龍淵, 網疏每避勢途險 Thám lĩnh tiếu bỉ một long uyên, võng sơ mỗi tị thế đồ hiểm
Phùng: 釣直羞將利餌懸, 寒渚夏來猶愛日 Điếu trực tu tương lợi nhĩ huyền, hàn chử hạ lai do ái nhật
Ngô: 長安冬盡未知年, 三公肯煙霞換 Trường an đông tận vị tri niên, tam công khẳng bả yên hà hoán
Lý: 半點寧容俗慮牽, 渭水任符文伯卜 Bán điểm ninh dung tục lự khiên, vị-thủy nhậm phù văn bá bốc,
Phùng: 桃源好訪武陵緣, 閒鐘乍覺心為佛 Đào nguyên hảo phỏng Vũ-lăng duyên, nhàn chung sạ giác tâm vi Phật
Liễu-Hạnh kết thúc: 得月應知我是仙 Đắc nguyệt ưng tri ngã thị Tiên

Phan-kế-Bính đã dịch bài này như sau:

Chúa Liễu xướng: Hồ Tây riêng chiếm một bầu trời,
Lý: Bát ngát bốn mùa rộng mắt coi. Cõi ngọc xanh xanh làng phía cạnh,
Phùng: Trâu vàng biêng biếc nước vành khơi.Che mưa nhà lợp vài gian cỏ,
Ngô: Chéo gió ai bơi một chiếc chài.Rậu thủng chó đua đàn sủa tiếng,
Lý: Trời hôm bếp thổi khói tuôn hơi.Mơn mơn tay lái con chèo quế,
Phùng: Xàn xạt mình đeo chiếc áo tơi.Thuyền Phạm phất phơ chơi bể rộng,
Ngô: Bè Trương thấp thoáng thả sông trời.Đò đưa bãi lác tai dồn dã,
Lý: Giọng hát bờ lau tiếng thảnh thơi.Cò xuống đưa qua vùng cát đậu,
Phùng: Diều bay sẻ liệng đám mây chơi.Khúc ca trong đục ẩm bên nước,
Ngô: Quầng mắt xanh đen sạch bụi đời.Đầu gối long hà lai láng chuyện,
Lý: Tay soi tiền giáp lả lơi cười.Chốc sen ngả nón chứa rau búp,
Phùng: Đáy nước dìm phao bắt cá tươi.Có lúc kề hoa vầy tiệc rượu,
Ngô: Họa khi tựa bóng đứng đầu mui.Say rồi cởi áo quăng dòng mái,
Lý: Tắm đoạn xoay quần hóng gió phơi.Trẻ mục Yên-hoa bầy tiệc rượu,
Phùng: Lũ tiều Thượng-uyển hẹn lời dai.Bắt cò cứ vững ngồi rình bụi,
Ngô: Mò ngọc khen ai khéo lặn ngòi.Tay lưới thế thần khôn mắc vướng,
Lý: Lưỡi câu danh lợi nhẹ tham mồi.Hạ rồi bến mát còn yêu nắng,
Phùng: Đông hết thành xuân chửa thấy mai.Thú cảnh yên hà sang dễ đọ,
Ngô: Sóng lòng trần tục dạ hồ vơi.Xe săn Vị-thủy tha hồ hỏi,
Lý: Thuyền tới Đào-nguyên mặc sức bơi.Chuông sớm giục thanh lòng Phật đó,
Chúa Liễu kết thúc một câu: Trăng tròn soi một bóng Tiên thôi.

Sau đó, Tiên-chúa giã cảnh Hồ Tây qua chơi Sóc-hương tỉnh Nghệ-an, Hoành-sơn cùng là Khoa-lãnh, Thủy-khê, bao nhiêu kỳ sơn tú thủy Ngài từng du lịch cả. Lại qua Đèo Ngang Phố Cát tỉnh Thanh-hóa, thấy cỏ cây xanh tốt, Ngài bèn hiển thánh tại đây. Dân thôn kính sợ, bèn lập đền thờ Ngài.

Câu đối liên quan đến Phú Xuân Hầu Ngô Trí Hòa (1563 - 1628)[sửa]

Ngô Trí Hòa quê xã Lý Trai, huyện Đông Thành, nay là xã Diễn Kỷ, huyện Diễn Châu, con của Ngô Trí Trai. Năm 28 tuổi ông đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp), khoa Nhâm Thân, niên hiệu Quang Hưng (1592). Cùng khoa ấy, cha ông là Ngô Trí Tri đỗ Tam giáp đồng tiến sĩ. Ngô Trí Hòa làm quan nhiều nơi: Sơn Tây, Thanh Hóa, rồi về triều. Làm quan đến chức Hiệp mưu tá lý dực vận tán trị công thần, Hộ bộ thượng thư kiêm Tế tửu quốc tử giám rồi lên đến chức Thiếu Bảo, tước Phú Xuân hầu. Khi mất được tặng Thái phó, tước Xuân quận công. Triều đình hạ chiếu cho lập đền thờ và giao Tiến sĩ Thượng thư Nguyễn Nghi viết văn bia. Hiện có câu đối:

Lưỡng quốc Trạng nguyên, thiên hạ hữu
Đồng khoa phụ tử, thế gian vô

Dịch:

Trạng nguyên hai nước, thiên hạ có
Phụ tử đồng khoa, thế gian không