Câu đối về các nhân vật lịch sử thời Trần, Hồ, Hậu Trần

Bộ sưu tập danh ngôn mở Wikiquote
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm

Trần Thủ Độ (1194 - 1264)[sửa]

Trần Thủ Độ sinh ở làng Lưu Xá, huyện Ngự Thiên, lộ Long Hưng, nay là xã Canh Tân, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Tổ tiên ông vốn nối đời làm nghề đánh cá, từ Yên Sinh (Đông Triều, Quảng Ninh) về vùng sông nước Hiển Khánh, Tức Mặc ven bờ sông Hồng (thuộc tỉnh Nam Định ngày nay), rồi sang ở vùng Bát Xá - Tam Nông (tám làng Xá, ba làng Nông) cạnh dòng sông Luộc. Ông là công thần sáng lập triều Trần và là người thực tế nắm quyền lãnh đạo đất nước những năm đầu triều Trần, khoảng gần 40 năm. Đền thờ Thái Sư Trần Thủ Độ có tên chữ là "Thanh Nhân Từ" (đền Thanh Nhàn), phụng thờ cả Thái sư và vợ ông là Linh từ Quốc mẫu Trần Thị Dung. Ở phần nội tự còn lưu giữ 3 đôi câu đối cổ khắc trên đá phản ánh ngợi ca công lao đức độ của Thái sư với dân tộc nói chung quê hương Minh Phượng nói riêng:

Thúc phụ Đông A triều, vạn lý sơn hà đáp khí
Thái sư Nam Việt quốc, thiên thu thảo mộc tri danh

Dịch nghĩa:

Xứng bậc cha chú vương triều Trần, vạn dặm núi sông dậy khí
Làm Thái sư nước Việt, nghìn thu cây cỏ lưu danh)

Đức trạch nguy nga sơn hữu sắc

Anh uy hạo đãng thuỷ vô ba

Dịch nghĩa:

Ân đức sáng trong ngời sông núi

Uy danh cao rộng cảm nước non

Cảm ứng linh thông hồn mạc trắc
Tảo trừ bảo hộ diệu vô cùng

Dịch nghĩa:

Cảm ứng linh thông hồn bất diệt
Giúp dân trừ ác để đức sáng ngàn thu

Trong đền thờ ông trên đồi Lim (Tiên Sơn, Hà Bắc) có hai câu đối treo ở trước bàn thờ như sau:

Công đáo vu kim, bất đán Trần gia nhị bách tải
Luận định thiên cổ, kỳ tại Nam thiên đệ nhất lưu

Dịch nghĩa:

Công đức của ông để mãi đến ngày nay, không chỉ bó hẹp trong hai trăm năm đời nhà Trần
Sau nghìn đời, công luận đã định, ông đáng liệt vào bậc thứ nhất dưới trời Nam

Trần Thái Tông (1218- 1277)[sửa]

Sau cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ nhất, vua Trần Thái Tông nhường ngôi cho con là Thái tử Hoảng (Trần Thánh Tông) lên làm Thái Thượng Hoàng, về vùng núi Vũ Lâm tu hành lập hành cung Vũ Lâm, lập Am Thái Vi ở giữa động Vũ Lâm (một thung lũng rộng chừng 20 mẫu ở phía Tây thôn Văn Lâm, xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư ngày nay). Sau khi ông mất, nhân dân đã xây dựng đền thờ Trần Thái Tông, Hiển Từ Hoàng Thái Hậu (tức Hoàng hậu Thuận Thiên) và Trần Thánh Tông tên là "Thái Vi Từ". Gọi là Thái Vi, vì là nơi Hoàng đế nhà Trần xuất gia. Thái Vi Từ được xây dựng theo kiểu "nội công ngoại quốc" (nghĩa là bên trong chữ công, bên ngoài chữ quốc". Trên hai cột đá hai bên gian giữa của bái đường có trạm khắc câu đối:

"Nhất thống sơn hà, Thiên trường phủ vương hầu đệ trạch
Thiên thu hương hỏa, Thái Vi cung văn vũ y quan"

Dịch nghĩa:

Thu phục giang sơn, phủ Thiên Trường dựng vương hầu cung thất
Ngàn năm hương hỏa cung Thái Vi quan văn võ đều về chầu

Lê Văn Hưu[sửa]

Lê Văn Hưu người làng Phủ-lý, huyện Đông-Sơn, lộ Thanh-hoa, đỗ bảng nhãn năm Đinh mùi (1247), niên hiệu Thiên Ứng Chính Bình dưới triều Trần Thái Tông. Lúc đó ông mới 18 tuổi. Sau làm đến chức Hàn lâm học sĩ kiêm Quốc sử viện giám tu. Tương truyền, khi còn là học trò, một hôm đi ngang qua lò rèn, thấy người ta đang làm những cái dùi sắt, Lê Văn Hưu muốn xin một cái để làm dùi đóng sách. Bác thợ rèn thấy chú bé mới tí tuổi đầu đã chăm lo việc học hành, bèn ra một vế đối để thử tài:

vế ra: Than trong lò, sắt trong lò, lửa trong lò, thổi phì phò đúc nên dùi sắt
Bễ lò rèn là hai ống trụ tròn, rỗng ruột làm bằng gỗ (sau này bằng nhôm hoặc thép), đường kính chừng 15 - 20 phân, cao khoảng 70 phân. Bên trong đặt 2 thanh gổ, quân vải. Cấu trúc như chiếc bơm tay xe đạp. Cần gío thỗi cho lửa cháy to, người thợ 2 tay 2 thanh gổ rút lên, hạ xuống… tạo ra luồng gió thổi vào lò nung. Khi có gió thổi, phát ra tiếng phì phò - như người bị hen thở, tất nhiên to hơn nhiều.
Lê Văn Hưu đối: Nghiên ở túi, bút ở túi, giấy ở túi, viết lúi húi mà đậu khôi nguyên
Câu đối này có thuyết nói của Đoàn Hy. Đoàn Hy vừa làm thợ rèn, vừa chăm chỉ học, đổ thủ khoa thi Hương trường Nam Định. Tuy nhiên có 1 số chữ nghĩa hơi khác cho nên đưa cả câu để phân biệt cho rõ. Quan chủ khảo biết nghề nghiệp vị tân khoa, ra câu đối: Than bỏ vào lò, sắt bỏ vào lò, bể thổi phì phò, đúc ra miếng bạc
Đoàn Hy đối lại: Mực nằm trong túi, bút nằm trong túi, người viết lúi húi, tên chiếm bảng vàng

Đặng Ma La (1234 - 1285)[sửa]

Đặng Ma La là con Tiễn sĩ Đặng Nghiêm quê làng An Để, Vũ Thư, Thái Bình. Gặp thời tao loạn, nhà Trần cướp ngôi, hai cha con phải chạy về quê lánh nạn tại làng Khúc Thuỷ, Chương Đức, Hà Đông và đổi từ họ Lý sang họ Đặng. Thân mẫu của Đặng Ma La tên là Lý Thị Tiêu, một hôm đi cấy mướn về giữa đồng làng thì trời giông bão. Cô phải chui vào một cái quán, ngủ thiếp đi, cô mơ thấy một vị thần có bàn chân to lớn còn để lại dấu. Cô ướm bàn chân mình, người thấy khác lạ, rồi cô có mang. Cô sinh ra một chàng trai tuấn tú, đạt tên cho con là Ma La – ý nói con ma ở xứ đồng La đã nhập vào mình nên sinh con! Mùa xuân năm Đinh Mùi 1247, Vua Trần Thái Tông mở khoa thi lần đầu tuyển chọn Tam khôi đặt danh hiệu Trạng Nguyên, Bảng Nhãn, Thám Hoa. Dự khoa thi năm ấy, Nguyễn Hiền đỗ Trạng Nguyên, Lê Văn Hưu đỗ Bảng Nhãn, Đặng Ma La đỗ Thám Hoa.

Một hôm, thầy Đồ làng ra câu đối để thử tài Đặng Ma La :

Làm thằng chí, làm thằng chuột, làm thằng bạch đinh, khốn khó lầm than cùng mặt đất

Đặng Ma La nhanh chóng ứng khẩu: Đỗ ông cống, đỗ ông nghè, đỗ ông hoàng giáp, giàu sang phú quý lệch ngang trời

Trong bữa tiệc dãi các tân khoa, vua Trần hỏi “Do đâu mà có tài học như vậy ?”. Nguyễn Hiền trả lời:“sinh nhi tri chi” (sinh ra đã biết hết)

Vua nhìn sang Đặng Ma La: “Đắc ư sư truyền” (nhờ được thầy truyền dạy). Nhà vua rất hài lòng về câu của Đặng.

Tại đền thờ Đặng Ma La ở Hàng Kênh - Hải Phòng còn câu đối:

Khoa giáp tứ truyền thập tứ tuế Thám hoa kỳ thủy
Lương hoàn phúc trạch kỷ thiên niên trúc lãnh như anh

Dịch nghĩa:

Khoa giáp truyền đời khởi đầu đỗ Thám hoa 14 tuổi
Đất phúc hoàn lương nghìn năm xây đắp mãi dõi tinh anh

Nguyễn Hiền[sửa]

  • Đối đáp với quan Lang Trung:

Hồi mới lên bảy tuổi, Nguyễn Hiền thường hay chơi trò nặn đất với bọn trẻ mục đồng. Một lần trạng nặn con voi đất, rồi lấy bốn con cua để vào bốn chân, lấy đỉa làm vòi, lấy bướm làm tai, thành ra voi đất cũng cử động được, khiến bọn trẻ vui thích reo hò ầm ĩ. Chợt một ông quan đi qua đứng lại xem và hỏi chuyện cậu bé Hiền. Thấy cậu bé khéo léo lại láu lỉnh, ông quan liền đọc đùa một câu:

vế ra: 童子六七人無如爾巧 Ðồng tử ngũ lục nhân, vô như nhĩ xảo! (Bọn trẻ năm sáu đứa, không đứa nào khéo bằng mày)
Cậu bé Hiền thấy vậy, hỏi ông quan rằng: “Trước hết xin ông cho biết ông làm chức quan gì?”. Quan nói: “Ta là quan Lang Trung, mỗi tháng ăn lương hai ngàn hộc”
Thấy quan có ý khoe khoang, cậu bé Hiền liền đọc rằng: 郞中二千石莫若公... Lang trung nhị thiên thạch, mạc nhược công ... (Quan lang trung ăn lương hai ngàn hộc, chẳng ai. . . bằng ông).
Quan cười bảo: “Ðối còn thiếu một chữ!”. Nguyễn Hiền nài cho tiền rồi sẽ đối nốt. Quan cho tiền xong, cậu bé Hiền liền bổ sung chữ 廉 Liêm vào cuối vế đối. Quan chịu là giỏi, nhưng vui miệng hỏi thêm: “Thế nếu ta không cho tiền, thì cháu đối chữ gì?”. Nguyễn Hiền trả lời: “ Khó gì? Nếu ông không cho tiền thì tôi chỉ việc điền chữ 貪 Tham vào thôi!”. Quan biết thằng bé láu cá, đành phải bỏ đi không dám trêu chọc gì nữa, kẻo lại mang tiếng “to đầu mà dại”! Có thuyết khác nói giai thoại này là của Vũ Công Duệ đời Hậu Lê, Vũ Công Duệ (1468 - 1522) tên lúc nhỏ là Nghĩa Chi, người xã Trình Xá, huyện Sơn Vi, trấn Sơn Tây (nay thuộc huyện Thanh Sơn, tỉnh Vĩnh Phú). Đỗ Trạng nguyên năm 20 tuổi khoa Canh Tuất, niên hiệu Hồng Đức thứ 21 đời Lê Thánh Tông (1490). Làm quan đến Lại bộ Thượng thư kiêm Đông các Đại học sĩ chầu Kinh diên, được tặng Thiếu bảo, tước Trịnh Khê Hầu
  • Đối đáp với các quan khâm sai:

Nguyễn Hiền vốn quê làng Hà Dương (tỉnh Nam Định). Nguyễn Hiền thi đình, đỗ trạng nguyên lúc mới 13 tuổi. Tại lễ triều kiến các vị tân khoa, vua Trần Thái Tông thấy trạng quá nhỏ, bèn cho trạng về quê, hẹn ba năm sau sẽ cho vào triều phong quan. Được ít lâu, sứ thần Mông Cổ sang An Nam đem 1 bài thơ sang thách giải nghĩa: "Lưỡng nhật bình đầu nhật, tứ sơn điên đảo sơn, lưỡng vương tranh nhất quốc, tứ khẩu tung hoành gian". Vua Trần hỏi các quân thần thì không ai hiểu nghĩa lý ra làm sao, phải sai hai quan văn võ đến nhà ông Nguyễn Hiền mời vào triều để hỏi. Hai viên khâm sai không quản ngày đêm, phi ngựa nước đại tìm về làng Trạng, thấy một lũ trẻ đang đùa nghịch ở gốc đa đầu làng, viên quan võ thử ra một câu đối để dò xem Trạng có mặt trong đám ấy chăng, vế ra là:

Tự là chữ, cất giằng đầu, chữ tử là con, con ai con nấy? (câu này nói về cách chuyển hóa chữ: “tự” [字] (chữ), ‘tách’ [宀] (giằng đầu), còn “tử” [子] (con)
Một đứa trẻ đối ứng khẩu ngay: Vu là chưng, bỏ ngang lưng, chữ đinh là đứa, đứa nào đứa này? (vế dưới cũng là phép tương tự: “vu” [于] (chưng), ‘bỏ’ [一] (ngang), thành chữ “đinh” [丁] (đứa)
Đối xong đám trẻ giải tán ai về nhà nấy, hai viên sứ giả biết đứa trẻ ấy là Trạng Hiền, mới hỏi thăm đến tận nhà thì thấy Trạng đang lúi cúi ở dưới bếp.
Viên quan văn bèn đọc một câu rằng: Văn quân từ viễn bảo trù, hà tu nự áo (Tôi nghe quân tử xa chỗ bếp nước, lọ là phải nịnh vua bếp)
Trạng Hiền ứng khẩu đối ngay: Ngã bản hữu quan cư đinh nại, khả tam điêu canh (Ta cốt có chức làm được Tể tướng, nhưng còn tạm nấu nồi canh. Nấu canh lạt mặn tại tay cũng như chức làm tướng)
Hai vị khâm sai biết đúng là trạng bèn mời về cung, trạng nói: “Nhà vua muốn mời ta về phải có voi ngựa, bằng sắc, mũ áo rước ta đi”. Sứ phản hồi xin vua đầy đủ các nghi thức trên, bấy giờ trạng mới chịu hồi cung. Khi đến kinh, Trạng Hiền cầm bút viết ra một chữ và giải rằng: "Câu thứ nhất nghĩa là chữ nhật, ngược suôi bằng đầu nhau; Câu thứ nhì là bốn chữ san, ngược suôi cũng là chữ san cả; Câu thứ ba hai chữ vương tranh nhau ở trong một nước, câu thứ tư là bốn chữ khẩu ngang dọc đều là khẩu cả. Tóm lại chỉ là một chữ điền". Giải xong, đưa cho sứ Tầu xem, sứ Tầu phải chịu vì thế vua cử Nguyễn Hiền làm Kim tử vĩnh lộc đại phu; sau làm đến Công bộ thượng thư, không được bao lâu thì ông mất.
  • Hiện nay, tại đền thờ trạng nguyên Nguyễn Hiền ở quê hương ông, thôn Dương A (Nam Thắng, Nam Trực, Nam Định) còn giữ đôi câu đối ca ngợi công tích của Trạng như sau:
Thập nhị tuế khôi khai lưỡng quốc (Mười hai tuổi khai khoa hai nước)
Vạn niên thiên tuế lập tam tài (Nghìn năm ghi mãi chữ tam tài)
Đông A nhất giáp sinh tri Trạng
Nam Việt thiên thu quốc tế thần
  • Câu đối khắc tại đình Lại Đà thuộc xã Đông Hội huyện Đông Anh thủ đô Hà Nội:
Kình thiên đại quán long lân trụ
Dục nhật linh quang hổ nhãn trì

Dịch nghĩa:

Quán lớn chống trời cột vẩy rồng
Ao mắt hổ tắm trong ánh mặt trời

Bạch Liêu[sửa]

Bạch Liêu còn gọi là Bạch Đồng Liêu sinh ở làng Thanh Đà, tổng Quỳ Trạch huyện Đông Thành (nay là xã Mã Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An). Bạch Liêu đư­ợc vua Trần phong sắc Đ­ương cảnh thành hoàng đại vư­ơng, dân lập đền thờ tôn vinh vị Tổ khai khoa của xứ Nghệ. Sinh thời Bạch Liêu đã chọn huyệt đất ở dưới chân núi Hồng Lĩnh làm nơi an nghỉ ngàn thu. Sau khi ông mất, con cháu theo di chúc an táng mộ ông ở địa điểm ấy -Nay thuộc thôn Phú Hưng xã Thiên Lộc huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh. Đền thờ Bạch Liêu ở xã Mã Thành huyện Yên Thành tỉnh Nghệ An, ở đây có đôi câu đối ca ngợi đức sáng của ông:

Sinh tiền bật dĩ Đông A đế (Sống không nhận quan tước của vua Trần)
Mật hậu năng vi Nguyễn Xá thần (Chết mong làm phúc thần cho dân Nguyễn Xá)
  • Nghệ An là vùng đất "địa linh nhân kiệt". Thời đại nào, xứ Nghệ cũng có người đỗ đạt cao, đem tài ra giúp dân, giúp nước. Văn miếu tỉnh Nghệ An được làm vào thời Nguyễn Gia Long (1803) có đôi câu đối nổi tiếng như sau:
Hoan Châu văn khí thiên niên trụ (Hoan Châu văn khí ngàn năm vững)
Học đạo chính tâm vạn cổ truyền (Học đạo chính tâm muôn thuở còn)

Trần Quốc Tuấn[sửa]

Các câu đối khắc ở đền miếu khu vực phía Bắc[sửa]

Trần Quốc Tuấn, là con trai của An Sinh Vương Trần Liễu, quê làng Tức Mặc, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Hà Nam Ninh (nay thuộc tỉnh Nam Định). Ông có vốn tài quân sự, lại là tôn thất nhà Trần, do đó trong cả 3 lần quân Nguyên - Mông tấn công Đại Việt, ông đều được vua Trần cử làm tướng chống trận. Sau khi kháng chiến chống Nguyên - Mông thành công, ông về trí sĩ ở trang viên của mình tại Vạn Kiếp. Sau khi mất, Trần Hưng Đạo được thờ phụng ở nhiều nơi, trong đó lễ hội lớn nhất ở đền Kiếp Bạc thuộc huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Ngài được người dân bao đời sùng kính phong Thánh tức là Đức thánh Trần. Ngày lễ chính thức được tổ chức vào ngày Ngài mất (20 tháng 8 âm lịch hàng năm). Nhân dân không gọi trực tiếp tên của Ngài mà gọi là Hưng Đạo Đại Vương, Đức thánh Trần, hoặc gọi là Cha (Tháng Tám giỗ Cha, tháng Ba giỗ Mẹ).

  • Những câu đối đề tại đền Kiếp Bạc:
Vạn Kiếp hữu sơn giai kiếm khí (Vạn Kiếp núi lồng hình kiếm dựng)
Lục Đầu vô thủy bật thu thanh (Lục Đầu vang dậy tiếng quân reo)

Câu đối trên của Thám Hoa Vũ Phạm Hàm (1864 - 1906). Chữ "thu" trong vế đối thứ hai của ông đã gây ra tranh luận từ nhiều năm sau này về ẩn ý của chữ đó, tuy nhiên, Viện Hán Nôm năm 1998 thông báo chính thức: “Từ “ Thu thanh” trong câu đối thì “Thu” là mùa thu, với nghĩa hàm xúc là để chỉ ‘chiến tranh và đau thương tang tóc”, như các vị Trần Thái Tông, Trương Hán Siêu, Nguyễn Du đã ghi trong thơ của mình. “Thu thanh” là tiếng mùa thu trừu tượng, nếu đối với “Kiếm khí” (hơi kiếm) cũng là trừu tượng, là những dạng phi vật chất mà ta chỉ có thể cảm nhận được bằng linh cảm là rất hợp, rất chỉnh”.

Một trận sông Đằng, sóng gió đã tan hồn nghịch tặc
Nghìn thu non Dược, khói bay còn tụ khí anh hùng
  • Câu đối đề ở đền Ngọc Sơn - Hà Nội:
Vũ lược luyện hùng binh, Lục Thủy nghìn thu ghi sử Việt
Văn tài mưu thượng tướng, Bạch Đằng một trận thắng quân Nguyên
  • 2 câu đối đề ở đền Sơn Hải phường Chương Dương quận Hoàn Kiếm - Hà Nội:
白滕水陣留清績 Bạch Đằng thủy trận lưu thanh tích (Chiến trận Bạch Đằng ghi vết tích)
東海雄兵萬古神 Đông Hải hùng binh vạn cổ thần (Binh sĩ Đông Hải hóa thần linh)
Chương Dương dấu tích thiên thu tự
Hàm Tử linh từ vạn cổ xuân

Dịch nghĩa:

Dấu tích Chương Dương từ nghìn xưa vọng lại
Đền thiêng Hàm Tử còn mãi mãi mùa Xuân
  • Những câu đối khác:
Trung hiếu nhất tâm, Đằng Thủy ân ba quang tư tích (Trung hiếu một lòng, ơn sóng Bạch Đằng sáng ngời từ trước)
Huân danh vu cổ, Hương Giang miếu điện tráng vu kim (Công lao thuở ấy, miếu điện sông Hương rạng rỡ đến nay)
Gia hiếu tử, quốc trung thần, công liệt chiến đan thanh, ninh chỉ lưỡng hồi an xã tắc (Làm con hiếu, làm tôi chung, công lớn chói sử xanh không chỉ hai lần yên đất nước)
Văn kinh thiên, vũ bát loạn, anh linh tham khí hóa, thượng lưu chung cổ điện sơn hà (Nào văn hay, nào võ giỏi, anh linh trùm cõi tục vẫn còn muôn thuở giúp non sông)
  • Câu đối đền Tương Thuận số 30 Khâm Thiên, quận Đống Đa, Hà Nội:

Đền Tương Thuận có tên gọi theo địa danh của một làng có lịch sử khá cổ nằm ở khoảng đầu phố Khâm Thiên, trong ngõ đền Trương Thuận. Hai bên cổng có 2 trụ lớn đắp 2 câu đối, đỉnh trụ đắp nổi 2 bông sen nở. Thân trụ trang trí hình rồng phun nước:

Nùng sơn Nhị thủy kỳ gian đa vượng khí (Giữa khoảng ấy núi Nùng, sông Nhị còn nhiều khí tốt)
Á vũ Âu phong thử hội, biệt hữu thần quyền. (Hội cùng đây gió á, mưa Âu, riêng có thần quyền)
  • Câu đối của cụ Chiêu Dương (chưa rõ lai lịch cụ thể) ca tụng công đức Hưng Đạo Vương:
Bày trận thế, bắt tướng Hồ, nổi tiếng anh hùng vang đất Bắc
Đem tài năng, cứu dân Việt, giữ nền xã tắc lừng trời Nam
  • Câu đối khắc tại đình Đông Kiều thành phố Hải Dương:

Đình Đông Kiều, thuộc khu dân cư số 13, phường Trần Hưng Đạo. Dưới đây là nội dung đôi câu đối khắc ở cổng đình:

Tiết chế binh nhung toàn tài quyền Nguyên soái
Triều đình sắc tặng Đại nghĩa Thượng quốc công

Dịch nghĩa:

Giữ chức Tiết chế, quyền Nguyên Soái toàn tài dẹp giặc
Triều đình tặng sắc là bậc Đại nghĩa Thượng quốc công
  • Những câu đối ở khu di tích đền Trần - chùa Tháp - Tức Mặc:

Đền Trùng Hoa - nơi thờ tượng của mười bốn vị Hoàng đế nhà Trần:

Hệ xuất Đông A, nhất điểm trung thành nhật nguyệt
Danh đằng Mặc thủy, trùng hưng sự nghiệp Bắc Nam

Dịch nghĩa:

Trong họ Trần (chữ Đông ghép với chữ A thành chữ Trần) lòng trung thành sáng như Mặt Trời
Tiếng lẫy lừng làng Tức Mặc (nghiên và mực) công trạng từ Bắc chí Nam

Địa thị Tiên Châu, cảnh vật y nhiên tú dị

Thiên khai vương trạch, lâu đài nghiễm nhược thanh cao

Dịch nghĩa:

Đất thuộc Châu Tiên, cảnh vật như xưa thiêng liêng vậy

Trời cho nhà tướng, lâu đài vòi vọi vẻ thanh cao

Những câu đối trong đền Cố Trạch:

Vi danh tướng, vi danh thần, thạch mã sơn hà câu đối lệ
Thị cố hương, thị Cố Trạch, Thiên Trường cung khuyết nhạ huân cao

Dịch nghĩa:

Là danh tướng, là danh thần, ngựa đá núi sông như đá mài như dải lụa
Là cố hương, là Cố Trạch, đất Thiên Trường vẫn nhang khói vẫn nghiêm trang
Thành Thái trùng kiến trạch từ, do lưu ký tái
Thiệu Bình hựu tu vương thất, vị cải tiền quy

Dịch nghĩa:

Niên hiệu Thành Thái (1889 - 1907) dựng lại đền Cố Trạch còn ghi trong sách vở
Đời Thiệu Bình (1434 - 1439) sửa đền thờ không đổi dấu xưa
Văn hữu vương hầu thiên cổ ấp
Vũ tiêu tướng súy vạn niên hương

Dịch nghĩa:

Văn có vương hầu quê ngàn thuở
Võ là tướng súy ấp muôn năm
Bách chiến lập kỳ công, ý thân lương tướng
Thiên thu truyền thắng tích, Cố Trạch Tân Từ

Dịch nghĩa:

Trăm trận đánh đều lập kỳ công, là vị tướng trong dòng tôn thất tài giỏi
Ngàn thu nêu dấu đẹp, ngôi đền Cố Trạch thật trang nghiêm

Ghi chú: câu đối trên viết năm Thành Thái Quý Dậu (1897) do Phó Bảng Nguyễn Âu Chuyên người xã Hành Thiện huyện Xuân Trường, từng làm quan Bố Chánh Bắc Ninh đề bút.

Tiền thổ trạch hậu linh từ, chí kim bất cải
Hiến ư gia trung dữ quốc, tự cổ do truyền

Dịch nghĩa:

Trước là đất sau hóa đền thiêng, đến nay vẫn thế
Hiếu với nhà trung cúng nước, việc cũ còn lưu

Ghi chú: câu đối này do Tiến Sĩ Bùi Văn Dị người Châu Cầu huyện Kim Bảng (vốn làm quan Kinh Lược Phó Sứ - Thượng Thư Bộ Lại kiêm phụ chính đại thần Hiệp Biện Đại Học Sĩ) viết năm Thành Thái thứ nhất (1889)

  • Đền Bảo Lộc nguyên là đền An Lạc, thuộc làng Bảo Lộc, tổng Hữu Bị, huyện Mỹ Lộc nay là xã Mỹ Phúc huyện Mỹ Lộc tỉnh Nam Định. Từ thành phố Nam Định theo đường 38A chừng 5km, gặp dốc Hữu Bị rẽ trái, đi dọc đê Châu Giang khoảng 2km là đến đền Bảo Lộc. Đền được xây dựng trên đất “thang mộc” của An sinh vương Trần Liễu, thân phụ của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn và là anh trai của Trần Thái Tông – vị vua đầu tiên của vương triều Trần. Câu đối ngay phía trước đền còn ghi:
"Thử địa vi thánh phụ sở cư, thiên cổ cố truyền thang ấp xứ
Kim thiên kế tiền nhân chi kiếp vạn niên do lại lộc hương an"

Dịch nghĩa:

Đất này nơi thánh phụ ở năm xưa ngàn thuở vẫn còn nên thang ấp ấy
Ngày nay nối tiền nhân từng dựng đặt muôn năm nhờ cậy lộc hương đây
  • Những câu đối khác trong đền Bảo Lộc:

Câu đối của đệ nhị giáp tiến sĩ Trần Bích San (người làng Vị Xuyên - Nam Định)

Thung trận dư phong xao thụ diểu
Dược sơn cổ nguyệt ấn giang tâm

Dịch nghĩa:

Một trận sông Đằng cây nổi gió
Ngàn thu non Dược nước in trăng

Câu đối của Tiến sĩ Vũ Văn Lý (người huyện Lý Nhân - Hà Nam) từng làm quan Tế Tửu Quốc Tử Giám:

Bảo Việt sơn hà vân trụ bắc
Phù trần miếu xã nhật thăng đông

Dịch nghĩa:

Gìn giữ non sông, đẩy mây đen về phương Bắc
Giúp nhà Trần phù xã tắc, xoay cho mặt trời chuyển về Đông

Phía Đông Bắc đền Bảo Lộc có lăng Hưng Đạo Đại Vương, trên lăng khắc đôi câu đối như sau:

Ngọc cốt di truyền thang mộc ấp
Kim thân xuất hiện Bảo Lộc hương

Dịch nghĩa:

Xương ngọc còn lưu ấp thang mộc (ấp vua ban)
Thân vàng như ở làng Bảo Lộc
  • Nam Đàn Cử nhân Nguyễn Văn Bình (chưa rõ tiểu sử cụ thể) có đôi câu đối ca ngợi đức Thánh Trần như sau:
Đằng Giang vi nhị thứ chi chiến thắng trường tang hải bất vi thung thực tích
Vận Lĩnh thị thiên thu chi linh ứng địa, phong lôi trường hưởng kiếm minh thanh

Dịch nghĩa:

Đằng Giang là nơi hai lần chiến thắng, cuộc tang hải không làm mất được dấu vết của những chiếc cọc
Vạn Lĩnh là đất nghìn thu linh ứng, gió và sấm còn vang dài mãi tiếng gươm
  • Những câu đối khắc tại đền Trần Thương thôn Trần Thương, xã Nhân Đạo, huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam:

Ngoài cổng chính:

Anh hùng Nam quốc, Việt Đông, Bạch Đằng thiên binh đối thánh đế
Nhĩ Hà tả, Long Xuyên hữu, thanh lưu vạn phái dụ văn lan

Dịch nghĩa:

Anh hùng nước Nam, Việt Đông, Bạch Đằng nghìn binh giúp thánh đế
Bên phải Nhị Hà, bên trái Long Xuyên, nước trong vạn phái dậy sóng văn
Đối Việt nhất tâm, huyện nhật nguyệt
Huân cao vạn cổ, ngật càn khôn

Dịch nghĩa:

Giúp nước Việt một lòng, sáng như vầng nhật nguyệt
Công ngời ngời vạn thuở, sừng sững sánh càn khôn
Vạn Kiếp bí thư, vương tự thiện
Lục Đầu chiến trận, thánh tri binh

Dịch nghĩa:

Vạn Kiếp bí thư do Vương tự soạn thảo
Chiến trận Lục Đầu, đáng bậc thánh điều binh

Cổng thứ hai:

Đặc địa khởi lâu đài, tiền diện giang lưu truyền thắng tích
Kình thiên chung tú khí, hậu đầu lâm thụ tráng kỳ quan

Dịch nghĩa:

Vũng đất linh thiêng dựng lâu đài, phía trước có song chảy, lưu truyền thắng tích
Trời cao chung đúc khí lành, mặt sau cảnh quan tráng lệ, xum xuê rừng cây
Uy chấn Hồ Nguyên, lưỡng độ vũ công thùy bất hủ
Danh minh Việt sử, thiên thu thạch trụ ngưỡng di cao

Dịch nghĩa:

Uy danh chấn động quân Hồ Nguyên, hai độ võ công truyền bất hủ
Tên tuổi khắc thi vào sử Việt, nghìn thư trụ đá vẫn vươn cao

Khu Phương đình:

Văn mô, Vũ lược, thiên sinh bang quốc cơ, quang phiến niệm tình trung dữ Vũ Mục, Phần Dương như nhất
Hồ đái, giang khâm, hướng thiên thu linh tích, địa hữu nhân hình tọa đối Kiếp từ Bảo điện vi tam

Dịch nghĩa:

Văn tốt, võ tài, trời sinh tướng giỏi, giúp nước, chỉ một niềm giữ lòng trung, cùng Vũ Mục Phần Dương là một
Hồ là thắt lưng, sông hay là vạt áo, dấu thiêng ngàn thu, nơi đây tạo lập đền thờ, cùng đền Vạn Kiếp, điện Bảo Lộc là ba
Linh miếu nguy nga, quyết tự Lê Vĩnh Hựu kỷ nguyên bách dư nẫm
Sùng từ tu tập, chính đương Hoàng Bảo Đại ngự lịch thập bát niên

Dịch nghĩa:

Miếu thiêng nguy nga, dựng từ kỷ nguyên Vĩnh Hựu, triều Lê, trải hơn trăm năm
Tu sửa đền thờ, đúng vào năm Bảo Đại trùng tu, năm thứ mười tám

Câu đối trước cửa võng:

Trần tích bổ phong bi, Hồng Lạc giang sơn minh hạp kiếm
Thương yên hoài túy miếu, long thiết thủy nhiễm trú hành tinh

Dịch nghĩa:

Sự tích Trần góp thêm công tích, non sông Hồng Lạc còn vang tiếng kiếm.
Khói lam phủ miếu thiêng, cọc sắt rồng san sát cắm lòng sông như hàng cờ.
Độc hứa tinh trung thanh khấu Bắc
Vô cùng linh tích dực thiên Nam

Dịch nghĩa:

Chỉ giữ một lòng trung, quét sạch giặc Bắc
Dấu thiêng lưu mãi mãi, giúp dập trời Nam
Công quán Trần triều, danh tại sử
Ân đàm thương xích, phúc lưu nhân

Dịch nghĩa:

Công đứng đầu triều Trần, danh còn ghi trong sử
Ơn ban khắp già trẻ, phúc lưu giữ cho đời
Xã tắc trung hưng, Việt sử ức niên sinh diện mục
Thái Bình trứ lực, thiên Nam tòng cổ ngưỡng thần minh

Dịch nghĩa:

Xã tắc trung hưng, sử nước Việt ức niên luôn rạng rõ
Thái bình gắng sức, trời Nam muôn thủa thờ kính thần minh
Bạch khí tảo không, truyền bảo kiếm
Thanh tiên phi hóa, thặng linh phù

Dịch nghĩa:

Khí trắng quét song, truyền kiếm báu
Tiên xanh bay hóa, để bùa thiêng
Lưỡng độ phá Nguyên sư, hiển hách hà niên dương thánh vũ
Trùng hưng hồi thái vận, trương hoàng thử nhật vọng thần công

Dịch nghĩa:

Hai lần phá quân Nguyên, hiển hách năm nào, lừng lẫy võ công của thánh
Trùng hưng trở lại vận thái, rạng rỡ ngày nay ngưỡng vọng của thần
Quốc thị thần trung, gia tử hiếu
Thiên phương hữu Việt, địa vô Hồ

Dịch nghĩa:

Với nước là trung thần, với nhà là con hiếu
Trời có nước Việt, đất không có rợ Hồ

Giải vũ:

Công nhĩ vong tư, nghĩa khí y y hồ thủy nguyệt
Trung di ư hiếu, linh thanh ẩn ẩn hải đằng ba

Dịch nghĩa:

Lo việc nước, quên thù nhà, nghĩa khí ngời ngời như từng soi hồ nước
Chữ trung rộng hơn chữ hiếu, tiếng tăm lững lẫy tựa sóng cả biển khơi
Uyển nhiên phượng vũ, ngư trào, tứ cố giang sơn chung vượng khí
Trác nhĩ huy phi, điểu cách, thiên thu đống vũ ngật sùng từ

Dịch nghĩa:

Trang nghiêm phượng múa, cá chầu, bốn phía giang sơn chung khí tốt
Sừng sững chim sà, điểu lượn, ngàn năm cột cái vững đền thiêng
U tán ư thần, phú quí thọ khang hoằng ngũ phúc
Hưởng tự vu miếu, huân cao thê thảng vĩnh thiên thu

Dịch nghĩa:

Ngầm giúp nhờ thần, phú quý thọ khang ninh đủ năm phúc
Hưởng thờ ở miếu, khói hương nghi ngút, mãi mãi nghìn thu

Cung Đệ nhị:

Phương lưu trung hiếu, thần tiên dịch dị, phong chương hoa quốc điển
Chí tại giang sơn, tông xã thiên thu, chính khí tác quan hà

Dịch nghĩa:

Lưu tiếng thơm trung hiếu, thần tiên hiển hách, sắc phong vua ban ngồi phép nước
Chí gửi tại giang sơn, tông xã nghìn thu, khí thiêng chung đúc tại Sơn hà
Hà thời mao việt xuất Đằng giang, phù Trần thị, phá Nguyên binh, hách hách phương danh truyền quốc sử
'Thử địa sơn hà chung tú khí, Đông Lạc Phong Nam Bảo Lộc y y linh tích trấn viêm bang

Dịch nghĩa:

Năm nào cờ giáo trên sông Bạch Đằng, giúp nhà Trần, phá quân Nguyên, hiển hách tiếng thơm ghi trong quốc sử
Đất này sông núi khí thiêng chung đúc, Đông Lạc Phong Nam Bảo Lộc, ngời ngời linh tích trấn giữ trời Nam
Giao Thủy cổ cung hàn, nguyên tự kỳ kim suy Vạn Kiếp
Đằng giang tiền sự lãnh, chiến công chung cổ ký Trùng hưng

Dịch nghĩa:

Cố cung Giao Thủy nguội tanh, việc thờ tự đến nay đều qui về Vạn Kiếp
Trận Bạch Đằng năm xưa đã lắng, chiến công lưu mãi, ghi buổi Trùng hưng

Câu đối Nôm:

Nhà nguyên sẵn nếp hiếu trung, bia Thượng phụ, gậy Quốc công, gây nên danh tiếng họ Trần, công đức treo đầy gương sử Việt
Nước há quân hờn nô lệ, sóng Bạch Đằng, mây Vạn Kiếp, quét sạch tanh hôi nòi Thát, non sông kê lại góc trời Nam

Câu đối có 4 giai thoại và các câu đối khắc trong đình đền ở phía Nam sông Bến Hải[sửa]

  • Câu đối có 4 giai thoại của Quả Ngôn (người làng Hội Thống huyện Nghi Xuân tỉnh Hà Tĩnh):
Bỏ gậy sắt, bỏ ngai vàng, quyết giữ nòi vàng và khoán sắt
Vung hịch son, vung cờ đỏ, cho yên con đỏ với lòng son
Giai thoại 1: “Bỏ gậy sắt”: Cha của Hưng Đạo Vương bị Thái sư Trần Thủ Độ cưỡng chế, buộc phải nhường vợ đã có mang cho vua Trần Thái Tông (là chú ruột của Ông). Cha ông có chống lại nhưng thất bại nên trong lòng vẫn ôm mối hận, muốn con mình phải trả thù nhà. Khi quân Nguyên sang xâm lăng nước ta, Trần Hưng Đạo được trao quyền cao, chức trọng. Vì thế, Trần Hưng Đạo có nhiều dịp được gần gũi vua Trần. Nhiều người nghi ngờ, sợ khi thời cơ thuận lợi, Hưng Đạo Vương giết vua, cướp ngôi để trả thù cho cha. Biết nhiều người nghi ngờ mình, Trần Hưng Đạo luôn luôn cố giữ lễ nghĩa thật đúng mực. Có lần ông cùng vua Trần Nhân Tông (là Thái tử Trần Khâm, con Trần Cảnh) đi dạo, ông liếc thấy có người nhìn vào cái gậy sắt đầu bịt nhọn ông đang cầm ở tay. Trần Hưng Đạo thấy vậy vội bẻ cái gậy ra làm hai, vứt đi phần có bịt sắt, chỉ giữ phần kia. Nhìn hành động ấy, có người đoán biết ý của ông, có người không hiểu ông ta làm gì. Qua hành động nầy, khi hiểu ra, mọi người kính phục và hoàn toàn tin tưởng vào lòng trung thành của Trần Quốc Tuấn.
Giai thoại 2: “Bỏ ngai vàng”: Cũng từ sự bất bình vì mất vợ, sống không trả được, trước khi lìa đời, Trần Liễu đã gọi con lại dặn dò: phải cướp ngôi vua để trả thù, rửa nhục cho mình. Trần Quốc Tuấn nghe lời trối của cha nhưng không dám cãi. Sau nầy, ông đã có chủ định, nhưng ông hỏi ý kiến nhiều người thân cận để thử lòng, đa số nói là không nên. Ông đem việc xích mích nầy dò ý các con, Trần Quốc Tảng khuyên ông nên theo lời trối, có ý khích ông cướp ngôi vua; ông nổi giận định rút gươm toan chém chết Quốc Tảng. Nhiều người khuyên nên ông tha chết nhưng đuổi đi, không cho Quốc Tảng được thấy mặt mình nữa.
Giai thoại 3 và 4: “Vung hịch son”, “vung cờ đỏ”: Vung hịch son: Ám chỉ Trần Quốc Tuấn là tác giả bài “Hịch tướng sĩ” là một văn bản đã làm nức lòng tướng sĩ, để mọi người đồng tâm hiệp lực đánh đuổi ngoại xâm, văn bản đã đi vào lịch sử dân Việt. Vung cờ đỏ: Nói lên việc ông là Tổng chỉ huy, phất cờ chỉ huy ba quân đánh tan quân Nguyên xâm lược, đem lại chiến thắng cho dân tộc.
  • Những câu đối ở đền Trần Hưng Đạo thành phố Nha Trang tỉnh Khánh Hòa:

1 - CỔNG TAM QUAN:

Thủy trận dụng triều lưu vi Nam Quốc Hải quân chi tổ (Dùng nước triều lập trận phá ngoại xâm, đời sau tôn thành "Hải quân chi tổ")
Kim chi tác can lỗ phá Bắc phương Nguyên khấu chi sư (Lấy cây rừng vót thành cọc nhọn, diệt quân Nguyên mưu ấy quả bậc Thầy)
Bắc nhạc giáng Thần cứu quốc anh hùng danh vạn kiếp (Núi Bắc giáng Thần, muôn kiếp lưu danh người anh hùng cứu nước) ("Vạn kiếp" vừa có nghĩa là muôn đời, muôn kiếp đồng thời lại nhắc đến tên của nơi Đức Trần Hưng Đạo trở về)
Nam thiên hiển Thánh tý dân công đức tự thiên niên (Trời Nam hiển Thánh, ngàn năm thờ phụng bậc công đức che dân)
Cứu quốc công huân Bắc địa uy linh thiên cổ miếu (Cứu nước công lao to lớn, miếu cũ ngàn năm đất Bắc rạng uy danh)
Tý dân phúc trạch Nam thiên chiêm ngưỡng nhất tân từ (Che dân phúc trạch vô cùng, đền mới một tòa trời Nam đồng chiêm ngưỡng)

2 - MẶT TIỀN CỦA CHÁNH ĐIỆN:

Bắc Hà thiếp kình ba vạn cổ Đằng Giang lưu vĩ tích (Bắc Hà phục kình ngư bình sóng cả, kỳ tích Bạch Đằng muôn thửa lưu danh)
Việt Nam an nhạn trạch thiên thu Nha Hải ngật linh từ (Việt Nam yên cánh nhạn trở về xuôi, linh từ Nha Trang ngàn năm sừng sững)
Lưỡng hồi xã tắc tương tướng xuất kim hoàng, quốc sử huân danh truyền Bách Việt (Hai lần vì xã tắc, "Tương tướng xuất kim hoàng", công lao ấy sử sách nước Nam tạc đá lưu danh truyền Bách Việt) (Tương tướng xuất kim hoàng: "Tương tướng" là chỉ chức quan tối cao trong triều đình ngày xưa. "Kim hoàng" là cái ao vàng dùng để chứa nước. Ý của toàn câu này muốn nói vì nước nhà mà ngài đã không tiếc tấm thân vàng ngọc của mình để trực tiếp cầm quân ra chiến trận)
Vạn kiếp anh linh Uông Sơn dư kiếm khí, binh gia thao lược túc thiên thu (Vạn kiếp rạng uy linh, "Uông Sơn dư kiếm khí", tài năng kia thao lược binh gia đủ cho đất nước vững muôn đời) (Uông sơn dư kiếm khí: "Uông sơn" là tên một địa danh thuộc Tỉnh Quảng Ninh ngày nay, nơi có một khúc sông Bạch Đằng chảy qua, cũng là nơi xưa kia Trần Hưng Đạo đóng đại bản doanh để điều khiển trận đánh Bạch Đằng. Cả câu này muốn ca ngợi sự dũng mãnh và tài năng tuyệt vời của Đức Quốc Công Tiết Chế Trần Hưng Đạo trong việc điều quân khiển tướng làm nên chiến thắng Bạch Đằng Giang năm Mậu Tuất (1288)

3 - TRONG ĐIỆN:

Hồng Hà tú khí chung đại tướng bảo bang do nhiệt huyết (Hồng Hà tú khí chung linh, bảo vệ non sông Đại tướng sục sôi dòng máu đỏ) (Người xưa khi viết câu đối này đã chủ ý bỏ đi một từ nhằm tạo nên vế đối 12 chữ. Câu đủ là "Hồng Hà tú khí chung linh" có nghĩa là vùng châu thổ sông Hồng là nơi có nhiều vượng khí đã hun đúc nên những nhân kiệt cho đời)
Bạch Đằng oai phong lẫm địch quân quy quốc thượng hàn tâm (Bạch Đằng oai phong lẫm liệt, cuốn vó về quê địch quân lẩy bẩy trái tim đen) (Câu đủ là "Bạch Đằng oai phong lẫm liệt" ý muốn nói đến thế dũng mãnh của quân ta trong trận chiến Bạch Đằng Giang)
Nam nhạc giáng Thần vạn cổ anh phong chung tú khí (Giáng Thần ở núi Nam, muôn thửa anh phong như chuông ngân lung linh thoát tục)
Đông A hiển Thánh ức niên hương hỏa trạc linh thanh (Hiển Thánh tại thời Trần, ức năm hương hỏa mãi chói ngời tiếng vọng anh linh)
Nam nhạc: Ở câu đối ngoài mặt tiền của chánh điện có dùng chữ "Bắc nhạc giáng Thần" để đối với vế hai là "Nam thiên hiển Thánh". Trong trường hợp đó ta hiểu rằng Bắc nhạc có nghĩa là núi ở Miền Bắc Việt Nam và Nam thiên có nghĩa là trời của phương Nam Việt Nam. Nay lại dùng chữ "Nam nhạc giáng Thần" chúng ta nên hiểu Nam nhạc này là núi của Việt Nam. Để đối lại vế "Đông A hiển Thánh" tức là hiển Thánh tại thời Trần. Vế đối này lấy không gian để đối với thời gian khác với câu đối trên là lấy không gian đối với không gian
  • Câu đối trong đền thờ đức Thánh Trần tại Thành Phố Hồ Chí Minh:

Đền Đức Thánh Trần trước ở trong chùa Vạn An nằm cạnh Hội quán do cụ Nguyễn Văn Bích xây dựng, về sau cụ Bích hiến khu đất và ngôi đền cho Hội Bắc việt tương tế và được xây dựng từ năm 1929 ra tọa lạc ở đường Hiền Vương, Sài Gòn, nay là 36 đường Võ Thị Sáu, quận 1, TP.HCM. Phía trên ba cửa nổi bật 10 chữ Hán (phiên âm): Hiển thánh Trần triều Hưng Đạo Đại Vương linh từ. Nghĩa là: Đền thờ của bậc hiển thánh linh thiêng là Hưng Đạo Đại Vương họ Trần. Mặt trước cửa chính, có đôi câu đối:

Núi Vạn Kiếp không có ngọn nào là không có hơi kiếm bốc hỏa,
Sông Lục Đầu không có cơn sóng nào lại không có tiếng thu ầm vang.
Câu đối này tương truyền là của thám hoa Vũ Phạm Hàm (người làng Đôn Thư, huyện Thanh Oai, Hà Tây, 1864 - 1906)

Hai bên bức hoành phi trong nội điện có đôi câu đối:

Dòng dõi nhà vua, ngựa đá bao phen lo việc nước,
Trần Triều danh tướng, bình vàng xã tắc điện sáng ngời

Ở mặt ngoài của hai cột cổng chính, có đôi câu đối:

Xem sử nhà Trần nhớ mãi những chiến tích oanh liệt tích tụ lại
Vào cửa miếu, thấy ánh sáng linh thiêng tỏa rạng ra

Mặt trong của cổng, ở trên cao có bốn chữ triện: Trần Triều Hiển Thánh và phía dưới, trên hai cột cổng chính cũng có đôi câu đối:

Nơi lưu giữ, giáo dục niềm tự hào dân tộc
Nơi hội tụ của lòng thành kính

Nơi chánh điện treo hai câu đối lớn:

Vạn lĩnh thị thiên thu chi linh ứng địa, phong lôi trường hưởng kiếm minh thanh
Đằng giang vi nhị thứ chi chiến thắng trường, tang hải bất di duy thực tích

Nghĩa là:

Sông núi đất nước đáng là nơi ngàn năm thiêng liêng, sấm sét vang mãi tiếng kiếm khua
Sông Đằng giang hai lần chiến thắng, giang sơn đất nước không dời dấu tích đóng cọc

Những câu đối liên quan đến Điền Trang Tô Xuyên và Hưng Mĩ Hầu Vũ Trung Khái[sửa]

Tô Xuyên (tên Nôm là Tò) là một làng rất cổ thuộc huyện Phụ Dực xưa, nay là xã An Mỹ, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình. Vũ Trung Khái vốn người ở Noi Cáo, thuộc huyện Từ Liêm, Hà Nội. Do có nhiều công lao trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ nhất, ông được phong tước Hầu, về sau nhà vua gả công chúa và phong cho là phò mã Hưng Mỹ Hầu. Vũ Trung Khái đã tập hợp con cháu trong dòng họ cùng với dân nghèo ở các vùng Hải Đông, Thanh Hoa, Thiên Trường,... về lưu vực sông Hóa Giang khai khẩn, lập điền trang, nơi chính là điền trang Tô Xuyên, ngoài ra còn hai nơi là Quảng Nạp và Lễ Củ - Thụy Trình. Đến nay, những người già ở Tô Xuyên vẫn còn nhớ câu đối sau:

Tiền cư Noi Cáo - hậu đáo Tô Xuyên
Ốc tại Thụy Trinh - ký cư Quảng Nạp

Dịch nghĩa:

Trước ở Noi Cáo - sau đến Tô Xuyên
Nhà ở Thụy Trinh - tạm nhờ Quảng Nạp

Làng Tò có nhiều người đỗ đạt, chẳng thế mà dân trong vùng ai cũng biết câu “Lê Chằm Vạc, Mạc Tò hương”. Chằm Vạc thuộc làng Mộ Trạch – Hải Dương. Hoặc như câu: "Ông Cống làng Tò, đàn bò làng Hệ" hay là: "Quan làng Tò nhiều như bò làng Hệ". Ngày nay, đến xã An Mỹ, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình, lăng mộ của Hưng Mỹ Hầu mà dân quen gọi là lăng Đức Tiên công vẫn còn đó. Đôi câu đối trên lăng đức Tiên công đến nay vẫn còn rõ nét và được dân chúng thuộc lòng:

Hữu xã hữu dân chí kim thụ ký tứ
Lập công lập đức một thế bất năng vong

Dịch nghĩa:

Có xã có dân đến nay (Ngài) được ban thưởng
Lập công lập đức tuy đã mất (dân) không bao giờ quên

Thượng tướng Chiêu Minh Vương, Thái sư Trần Quang Khải (1241-1294)[sửa]

Trần Quang Khải không những là một tướng tài (đứng thứ hai sau Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn), đã tham gia chỉ huy quân đội trong suốt 30 năm (1258-1288) đánh tan ba lần những đạo quân xâm lược khét tiếng của đế quốc Mông Cổ, giải phóng kinh thành Thăng Long cuối tháng 5 năm Ất Dậu (1285) mà ông còn là một nhà thơ, một nhà sáng tác nghệ thuật. Đình làng thờ ông còn giữ lại hai câu đối từ thời đó lưu truyền lại:

Phương Địa ức niên lưu pháp khúc
Vĩnh Giang thiên cổ dục linh nguyên

Dịch nghĩa:

Muôn thủa đất Phương truyền khúc hát
Ngàn năm sông Vĩnh mãi nguồn thiêng

Làng Phương Bông xã Mỹ Trung (Mỹ Lộc) được ủy thác cha truyền con nối múa điệu múa bài bông từ khi còn sinh thời danh tướng Trần Quang Khải. Ngày đó, nhân dân trong làng thường được trực tiếp lên kinh đô phục vụ cung đình nên đã được tổ chức một đội múa chuyên nghiệp thường xuyên biểu diễn ở kinh thành. Làng Phương Bông được phát triển như một khu “văn công” thời nay, ngoài biểu diễn còn được giao nhiệm vụ truyền tụng điệu múa bài bông cho khắp các vùng quê chung quanh khu vực kinh thành đến học

Câu đối khắc ở đền thờ Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật[sửa]

Trần Nhật Duật (1253-1330) con trai thứ tư của Trần Thái Tông. Trần Nhật Duật là một người điềm đạm, độ lượng và khoan dung. Đối với người trong nhà, kể cả nô lệ, ông chưa đánh đập một ai. Kể từ năm 13 tuổi, ông đã được phong tước vương, dần dà lên đến Tể tướng, rồi Thái sư, tá Thánh Thái sư, tá Thánh Thái sư đại vương...Thời vua Trần Anh Tông, nhà vua đi kinh lí phương Nam, giao cho ông toàn quyền giúp thái tử, cai quản đất nước. Nhưng khi trở về, nhà vua thấy mọi việc triều đình đều trong ấm, ngoài êm, nên rất cảm kích và hết lời khen ngợi ông. Khi ông mất, để tưởng niệm công đức của ông, nhân dân địa phương đã lập đền thờ dưới chân núi Vân Trinh, thuộc xã Quảng Hợp, huyện Quảng Xương, Thanh Hóa. Trong đền, có đôi câu đối sau :

Tích phù Việt địa trung hưng tướng (Vị tướng trung hưng công phù đất Việt)
Danh chấn Nam thiên thượng đẳng thần (Bậc thần thượng đẳng danh nức trời Nam)

Theo truyền tụng dân gian về bà Vũ phi Vượng Nương, vào cung hơn 10 năm, được vua Trần Thái Tông rất yêu mến, sủng ái nhưng hiềm một nỗi mãi mà chưa sinh hạ cho vua người con nào. Một hôm, Vũ phi tâu rằng: “Thần thiếp nhờ ơn Thánh thượng mà được hưởng vinh hoa phú quý, nhưng số phận hiếm hoi, từ ngày vào cung đến nay chưa có lấy một lần sinh nở. Nay thần thiếp xin Thánh thượng cho phép trai giới, cầu đảo bách thần, xin ban cho một chút con làm hậu tự”. Vua nghe xong hiểu được nỗi lòng của bà mới y cho như lời tâu, lại ra lệnh cho đạo sĩ đến cung Thái Thanh lập đàn cầu tự cho Vũ phi. Trải qua 21 ngày đêm cầu đảo, Vũ phi nằm ngủ mộng thấy một ngôi sao lớn từ trên không trung rơi thẳng xuống giường nằm của mình, từ đấy Vũ phi có mang, đến giờ Ngọ ngày mồng 10 tháng 4 năm Ất Mão (1255) bà sinh được một hoàng tử, dung mạo khác thường; vua Trần Thái Tông đặt tên là Nhật Duật, lại nhân thấy trên cánh tay có hai chữ Chiêu Văn mới phong hiệu là Chiêu Văn Vương. Bà Vũ phi Vượng Nương, không rõ mất năm nào, khi bà mất, thi hài được đưa về an táng tại quê nhà. Còn Trần Nhật Duật khi đến tuổi về trời, cũng trăng trối muốn được về bên mẹ mình, do đó vua Trần Hiến Tông nghĩ đến công lao của ông, đã hạ chỉ sai trăm quan đến tế lễ, đưa linh cữu Trần Nhật Duật về táng tại mảnh đất Song ngư ở làng Miễu, xã Mạt Lăng, lập đền thờ cúng hai mẹ con ông. Tại ngôi đền có bức đại tự nhắc đến sự huyền ảo khi bà Vũ phi hạ sinh Trần Nhật Duật: “Thiên giáng phúc tinh” (Sao phúc từ trên trời xuống) ngoài ra còn có câu đối ca ngợi như sau:

“Công thủ Hàm quan lẫm liệt, huân danh Nam kị Bắc
Ân đàm Miễu ấp, côn hoàng ban cổn cổ nhi kim”

Nghĩa là:

Giữ công đầu tại trận Hàm Tử, uy danh vang từ Nam đến Bắc
Ân ban cho dân làng Miễu, rực rỡ hoa cổn từ xưa đến tận nay

Câu đối khắc ở đền Phù Ủng thờ danh tướng Phạm Ngũ Lão[sửa]

Phạm Ngũ Lão sinh năm Ất Mão (1255) tại làng Phù Ủng (nay thuộc huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên). Theo bia ký, khu đền Phù Ủng được xây dựng từ thế kỷ 14, trùng tu vào thời Nguyễn gồm khu đền chính thờ Điện súy Thượng tướng công Phạm Ngũ Lão, bên trái có lăng Phạm Tiên Công (thân phụ) và bên phải có đền Mẫu (thờ thân mẫu), phía trong có đền Tĩnh Huệ (thờ con gái) và lăng Quốc công Vũ Huy Lượng, làm quan triều Hậu Lê – người có công tu sửa đền thờ và đặt lệ cho việc thờ cúng. Tại đền Phù Ủng ở Thủ đô Hà Nội, nơi vọng thờ Phạm Ngũ Lão có đôi câu đối cổ ca ngợi tài đức và sự nghiệp kỳ vĩ của ông:

Văn thi thao lược, thiên cổ tịnh hiền hào, dược thạch minh bi, hải hồ vịnh sử.
Mông - Thát, Chiêm - Lao, nhất thời giai úy phục, Trần triều kỷ tích, Việt quốc lưu danh.

Tạm dịch:

Văn thơ thao lược, muôn thuở ngợi hùng tài, lời răn khắc đá, biển sông ca vịnh.
Nguyên - Mông, Chiêm - Lào, một thời đều úy phục, triều Trần ghi công, sử Việt lưu danh.

Trần Nhân Tông (1258 - 1308)[sửa]

  • Trần Nhân Tông tên thật là Trần Khâm, là vị vua thứ ba của nhà Trần. Ông đã cùng vua cha Trần Thánh Tông, mở hội nghị quân sự Bình Than, phân công các tướng lĩnh đi đóng giữ những nơi hiểm yếu để chuẩn bị đỡ các mũi tiến công của địch (1282). Và quả nhiên quân ta đã chiến thắng còn địch thì thất bại thảm hại, trận Bạch Đằng (9-4-1288) đại thắng đã đè bẹp ý đồ bành trướng của đế quốc Nguyên Mông. Ngày 17-3 năm Mậu Tý (18-4-1288), sau chiến thắng Bạch Đằng, triều đình nhà Trần đem các tướng Nguyên bị bắt làm lễ dâng thắng trận ở Chiêu Lăng (lăng vua Trần Thái Tông). Tại đây, vua Trần Nhân Tông trông thấy chân mấy con ngựa đá đều lấm bùn (vì trước đó quân Nguyên đã phá Chiêu Lăng và định đập bỏ ngựa đi mà chưa kịp), ngài tức cảnh ngâm hai câu sau:
社稷兩回勞石馬 Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã (Xã tắc đôi phen chồn ngựa đá)
山河千古奠金甌 Sơn hà thiên cổ điện kim âu (Non sông nghìn thuở vững âu vàng)
Có thể nói đây là một vế đối hoàn hảo cả về đối âm, đối ý và đối nghĩa. Trong câu đối này các âm đơn, âm đôi và cả cụm âm đều đối xứng với nhau rất rõ nét về mặt âm tiết: Xã tắc (trắc trắc) đối với Sơn hà (bằng bằng). Xét về ngữ nghĩa: Xã tắc (đất nước) – Sơn hà (núi sông) còn "lưỡng hồi" (đôi phen) đối với "thiên cổ" (muôn thuở). Về ý nghĩa của đôi câu đối này, nhà thơ Vũ Quần Phương đã phân tích như sau: “Trong thơ Trần Nhân tông, âm vang của hai đợt kháng chiến cứu nước chống Nguyên Mông nhiều khi dội lên thành tứ thơ bất ngờ lãng mạn: Xã tắc hai phen (đến cả) ngựa đá cũng mệt nhọc, (Nhưng chính nhờ vậy mà) núi sông nghìn thuở vững chãi. Kháng chiến toàn diện, đến ngựa đá cũng ra trận, trên vó còn lấm bùn chinh chiến.
  • Câu đối khác là tựa đề trong tác phẩm "Quân Tu Ký" đề ở trên mui thuyền rồng:
會稽舊事君須記 Cối Kê cựu sự quân tu ký (Cối Kê việc cũ, ngươi nên nhớ)
驩愛猶存十萬兵 Hoan Ái do tồn thập vạn binh (Hoan, Ái đang còn chục vạn quân)
Ở đây nhà vua muốn so sánh với điển tích rằng, xưa kia Việt Vương Câu Tiễn chỉ có 5.000 quân mai phục ở đất Cối Kê mà còn đánh bại được hàng vạn quân của Ngô Phù Sai sang xâm lược huống hồ, quân đội nhà Trần chỉ trong cuộc hội quân của 1 lộ và 2 hương đã hùng mạnh thế kia! Nếu tính đến cả hàng chục vạn quân dự bị chiến lược của nhà vua đứng chân ở đất Hoan Diễn thì lo gì mà không đánh bại được cuộc chiến tranh xâm lược nước ta lần thứ II của quân Mông-Nguyên, dù chúng có hung bạo đến đâu. Hoan Diễn (châu Hoan và phủ Diễn nay thuộc tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh), nằm về hướng nam kinh thành Thăng Long, bắc giáp châu Ái (Thanh Hóa), nam giáp Thuận Hóa (Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế), đông giáp biển và tây giáp nước Lào. Địa hình Hoan Diễn phức tạp, có nhiều dãy núi liên tiếp dọc ngang tạo thành thế “thiên hiểm” rất thuận lợi cho công cuộc phòng thủ đất nước. Từ Hoan Diễn có đường thủy bộ ra Bắc, nối liền với đồng bằng sông Hồng trù phú, đông người, nhiều của; có đường vào Nam, sang Lào. Trên địa bàn Hoan Diễn có nhiều dân tộc anh em cùng chung sống. Sách Ô Châu cận lục của Dương Văn An đời Mạc từng nhận xét: “Người Hoan Diễn phóng khoáng và chuộng điều nghĩa”. Nơi đây, thiên nhiên vô cùng phong phú nhưng rất khắc nghiệt đối với con người. Chính cuộc sống gian lao đó đã tôi luyện cho nhân dân một nghị lực phi thường, một bản lĩnh vững vàng trước gian lao, tin yêu cuộc sống và quê hương.

Mạc Đĩnh Chi (1272 - 1346)[sửa]

Mạc Đĩnh Chi, người xã Lũng động, huyện Chí Linh, nay là thôn Lũng động, xã Nam Tân, huyện Nam Sách, tỉnh hải Dương. Mạc Đĩnh Chi mồ côi cha từ nhỏ, nhà nghèo, hai mẹ con phải đi vào rừng sâu hái củi để kiếm sống hàng ngày. Khoa thi Giáp Thìn (1304), thi hội, Mạc Đĩnh Chi đỗ Hội nguyên, thi Đình, ông được chấm đỗ Trạng Nguyên, nhưng khi vào ra mắt nhà vua, vua Trần Nhân Tông thấy ông tướng mạo xấu xí, có ý không muốn cho ông đỗ đầu. Biết ý, ông đã làm bài “Ngọc tỉnh liên phú”. Đó là bài phú bằng chữ Hán để gửi gắm chí khí của mình. Bài phú đề cao được phẩm chất trác việt và phong thái cao quý của một người khác thường, vượt xa người khác về mọi mặt; Song không muốn a dua với người tầm thường để mong cho đời biết đến. Ông dùng hình tượng một bông sen sinh ra trong giếng ngọc ở núi Hoa Sơn do một vị đạo sĩ kỳ dị hái mang xuống cõi trần. Vua Trần Anh Tông xem xong khen là thiên tài mới cho đậu Trạng nguyên, ban cờ hiển vinh quy bái tổ.

Câu đối viết ở trong nước[sửa]

  • Câu đối viết tặng bạn đồng liêu:

Trong khi làm quan tại triều, Mạc Đĩnh Chi có người bạn đồng liêu, ông này lấy hai vợ nhưng hay ghen tuông nhau. Một hôm, tan triều, ông gọi ông bạn kia trao cho một đôi câu đối, nói mới nghĩ ra để tặng bạn dán ở cửa buồng. Câu đối ấy đều dùng liền trong sách Hán Cao Tổ và trong Kinh Thư, mà rất hợp với cảnh bạn ông:

Đông đầu Hán-vương thắng, Tây đầu Hạng vương thắng, quyền túc tại túc hạ (Danh Đông Hán vương được sang Tây Hạng vương được, quyền ở dưới gót)
Chinh Đông Tây- di oán, chinh Nam Bắc-địch oán, hà đọc hậu dự? (Đánh Đông mọi Tây oán, đánh Nam rợ Bắc oán: sao đến ta sau?)
  • Câu đối viết ở chốn lầu xanh:
Thốn thổ thị lương điền, canh giá bất câu xuân hạ nhật (Tấc đất làm ruộng tốt, cấy cày không kể hạ hay xuân)
Tứ hoang giai ngã thác, thân tình hề dụng bắc nam nhân (Tay rộng mở bốn bề, thân tình không kể kẻ bắc nam)

Đi sứ nhà Nguyên[sửa]

Trên đường đi[sửa]

  • Đối đáp với quan giữ ải Phong Lũy (tức Mục Nam quan):

Năm 1308, Mạc Đĩnh Chi đi sứ nhà Nguyên, do trời mưa làm trở ngại đường đi nên đến cửa khẩu sai hẹn, quân canh gác đóng cửa buộc phải chờ sáng hôm sau mới được qua ải. Thấy sứ bộ Đại Việt cứ biên bạch đòi mở cửa để đi cho kịp thì viên quan phụ trách ải nói: "Nghe nói ngài là người có tài văn chương. Sao không đem sử dụng lúc này? Bây giờ tôi ra một câu đối, nếu đối thông suốt, tôi sẽ mở cửa ải; bằng không xin ngài chờ tới sáng". Rồi quân Nguyên thả từ trên cửa thành cao xuống một câu đố thách thức nếu sứ bộ đối được thì họ sẽ mở của thành cho đi.

vế ra: 過闗遲闗官閉閼過客過闗 Quá quan trì, quan quan bế, át quá khách quá quan (Nghĩa là: “Tới cửa ải chậm trễ, cửa ải đóng, người coi ải đóng cửa không cho khách qua”).
Nhưng nghe không ổn; bởi vì sự thể rõ ràng là người giữ ải không muốn cho khách qua ải lúc tối; chứ không hề có ý mời khách đi qua?! vế đối có 3 chữ quá và 4 chữ quan, ông suy nghĩ một lát rồi đọc
vế đối như sau: 先對易對對難請先生先對 Tiên đối dị, đối đối nan, thỉnh tiên sinh tiên đối (Nghĩa là: “Ra câu đối dễ, đáp lại khó, xin mời ngài đối trước”).
Vế đối của Mạc Đĩnh Chi có 4 chữ “đối” và 3 chữ “tiên,” đáp đúng với câu đối của viên quan giữ ải. Tưởng sẽ đưa sứ bộ Đại Việt vào thế bí; nào ngờ lại có vế đối quá hay. Quan coi ải vái Mạc Đĩnh Chi hai vái và quân Nguyên mở của ải để sứ bộ của Mạc Đĩnh Chi đi qua biên giới vào giữa đêm. Theo giáo sư Lê Văn Đặng thì có lẽ ai đó (?) đã bịa ra giai thoại nầy khá hay, nhưng vế 2 chỉ đối được âm Hán Việt, không đối được chữ; nghĩa không chỉnh ở chữ thứ 5 của 2 vế: 官 (ông quan) khác với 對 (câu đối)
  • Đối đáp với cao tăng đắc đạo:

Qua ải ít lâu, đoàn sứ bộ ghé vào vãn cảnh một ngôi chùa ở mé đường, Mạc Đĩnh Chi có ngồi bàn luận văn chương với một nhà sư Trung Hoa.

Nhà sư đọc: 几以木杯不木如何以几為杯 Kỷ dĩ mộc, bôi bất mộc, như hà dĩ kỷ vi bôi (Ghế là gỗ, chén chẳng là gỗ, sao nỡ lấy ghế làm chén)
Mạc Đĩnh Chi đối: 僧曾人佛弗人何乃以僧師佛 Tăng tằng nhân, Phật phất nhân, hà nãi dĩ tăng sư Phật? (Sư là người, Phật chẳng là người, sao lại để cho sư thờ Phật?)
Câu đối đều mang tính chiết tự: Chữ “kỉ” [杞] gồm hai chữ “dĩ” [已] và “mộc” [木]; chữ “bôi” [杯] gồm hai chữ “bất” [不] và “mộc” [木] ; chữ “tăng” [僧] gồm hai chữ “tằng” [曾] và “nhân” [ ] ; chữ “Phật” [佛] gồm hai chữ “phất” [弗] và “nhân” [ ]. Hàm ý của vế ra đối chê ông Mạc người thấp bé (như cây gỗ kỉ) mà được trọng dụng. Vế đối lại cũng có thể có hàm ý: "việc tu hành của ông chẳng hợp lẽ chút nào".
  • Giải oan cho Thư sinh:

Trên đường đi đến kinh đô nhà Nguyên, trong một chiều hè nóng bức, Mạc Đĩnh Chi và tùy tùng lúc ấy thấy một quán nước ven đường thì dừng lại nghỉ chân. Chủ quán là một bà cụ già tóc bạc phơ, đến chào khách. Gần quán có một giếng nước. Trên thành giếng có viết 5 chữ: 銀缾腱上鼻 Ngân bình, kiên thượng tị.

Thấy lạ, Mạc Đĩnh Chi hỏi duyên do. Bà cụ chủ quán chậm rãi kể: "Xưa có một cô gái bán hàng nước ở đây rất thông minh, học giỏi, chữ nghĩa tốt. Có một anh học trò thầm yêu cô hàng nước, muốn ngấp nghé. Ngày ngày đi học về, thường ghé vào quán uống nước; và tìm lời trêu ghẹo. Một hôm cô hàng nước nói thực với anh: "Thiếp là con nhà lương dân, có theo đòi bút nghiên, mà chàng cũng con nhà thi lễ, nếu như phải duyên trời, thực cũng xứng đôi vừa lứa, Nhưng mà thiếp chưa được biết tài học của chàng ra sao, vậy thiếp xin ra một câu đối, nếu chàng đối được, thiếp tình nguyện xin nâng khăn sửa túi, bằng không, thì xin chàng chớ qua đây quấy rầy làm gì nữa". Anh học trò bằng lòng. Cô hàng nhân nhìn thấy cái ấm tích bằng bạc trên bàn, mới ra câu đối trên có nghĩa là “Bình bạc, mũi trên vai.” (Ý nói cái vòi trên cổ ấm nước). Anh học trò nghĩ mãi mà không đối được, xấu hổ quá, đành đâm đầu xuống cái giếng gần đó chết. Ít lâu sau, người ta cho viết vế xuất câu đối ấy lên thành giếng để thách thức cả thiên hạ, nhưng xưa nay chưa ai đối được". Nghe đến đây, Mạc Đĩnh Chi cười: "Câu ấy dễ thế sao không đối được mà phải ngậm oan nơi đáy giếng! Thôi để ta đối giùm giải oan cho hồn kẻ thư sinh".
Mạc Đĩnh Chi bèn đọc: 金鎖腹中鬚 Kim tỏa, phúc trung tu (Nghĩa là “Khóa vàng, râu trong bụng.” Ý nói cái tua khóa ở trong ruột khóa). Sau đó, Mạc Đĩnh Chi sai người viết câu ấy lên thành giếng, bên cạnh câu đối của cô hàng nước năm xưa. Mọi người đều chịu ông đối giỏi.
  • Ứng khẩu khi bị sa xuống hố:

Sau nhiều ngày vất vả, Mạc Đĩnh Chi cùng sứ bộ đến Yên kinh, kinh đô nhà Nguyên. Nghe tin đồn Trạng nguyên An Nam nổi tiếng thông minh, quan lại nhà Nguyên mới hội nhau bàn cách chơi trác. Họ đào một cái hố vừa to, sâu quá đầu người, trên ngụy trang như đường đi ngay trước cây cầu vào kinh thành. Hôm sau, Mạc Đĩnh Chi dẫn sứ bộ vừa đi tới đó. “Huỵch" một tiếng, cả người lẫn ngựa Mạc Đĩnh Chi lăn luôn xuống hố. Các quan Tầu phá ra cười (cốt để hạ nhục Mạc Đĩnh Chi) rồi một viên quan nói: "Nghe nói tiên sinh là người đối đáp xuất chúng, chúng tôi không tin. Nếu tiên sinh đối được câu đối này thì toàn bộ quan lại chúng tôi xin đỡ tiên sinh lên". Ông đồng ý.

Viên quan kia đọc: 杆木横渠陸假相如私道 Can Mộc Hoành Cừ Lục Giả Tương Như Tự Đạo (Nghĩa là: “Gỗ thẳng, cầu ngang, đường đi ngỡ là đất phẳng”).
Cái khó của câu này là ở chỗ dùng toàn tên những người nổi tiếng trong sử Trung Hoa ghép lại. Theo đó, “Can mộc” là Đoàn Can Mộc, một nhân vật đời Chiến quốc; “Hoành Cừ” là tên hiệu của Trương Tải, một triết gia đời Bắc Tống; “Lục Giả” người nước Sở, giỏi biện luận, theo giúp Hán Cao Tổ; “Tương Như” là Lạn Tương Như, một nhân vật nổi tiếng đời Chiến Quốc; “Tự Đạo” là Giả Tự Đạo, người đời Tống, một quyền thần chuyên chế.
Mạc Đĩnh Chi nhớ lại lúc trước khi ngã, ông nhìn thấy ở bên kia sông có cái đình dưới chân núi, nhân thế chỉ tay thẳng đình mà đối: 大庭安石望之染略天台 Đại Đình An Thạch Vọng Chi Nghiễm Lược Thiên Thai (Nghĩa là: “Đình to, đá vững, nhác trông như thể (núi) Thiên Thai”)
Câu này cũng dùng toàn tên người ghép lại như ở câu chủ mà lại có ý khoáng đạt hơn nhiều, theo đó “Đại Đình” là một biệt hiệu của Thần Nông; “An Thạch” tức Vương An Thạch Thừa tướng đời Bắc Tống; “Vọng Chí” là danh nhân đời Hán, làm phụ chính cho Hán Nguyên Đế; Thiên Thai là một Tông Phái Phật Giáo, do Bồ-tát Long Thọ sáng lập 龍樹(梵文:Nāgārjuna) Riêng chữ "Nghiễm Lược" các nhà nghiên cứu chưa tra cứu ra là ai?! Chưa hiểu hết ý tưởng uyên thâm của Mạc Đĩnh Chi…Đúng theo lời hứa, văn võ bá quan triều Nguyên bất chấp áo mũ xúm lại đỡ ông Trạng lùn xấu xí nước Nam lên khỏi hố.
  • Đối đáp với viên quan người Tống:

Mạc Đĩnh Chi và đoàn sứ đang cưỡi lừa đi xem hàng ngoài đường phố, thì bỗng lừa Mạc Đĩnh Chi đụng độ với ngựa của một viên quan người Tống.

Viên quan này nhìn Mạc Đĩnh Chi bằng nửa con mắt và đọc một câu: Xúc ngã kỵ mã, Đông di chi nhân giả, Tây di chi nhân giả (chạm phải ngựa ta, không rõ là bọn Đông Di hay Tây Di vậy)
Viên quan này lấy chữ "Đông di" ở sách Mạnh Tử, tỏ ý khinh rẻ người nước Nam là kẻ mọi rợ.
Mạc Đĩnh Chi nhìn thẳng vào mắt tên quan, đáp: Át dư thừa lư, Nam phương chi cường dư, Bắc phương chi cường dư (cưỡi lừa dạo chơi, mới biết người Bắc khoẻ hay người Nam khoẻ). ::Vì chữ "Nam phương" lấy ở sách Trung Dung đã nói rõ thâm ý người phương Bắc chắc gì đã mạnh hơn người phương Nam, nếu mạnh hơn sao lại chịu để giặc Nguyên đô hộ? Viên quan người Tống kia tỏ ý xấu hổ, ra roi cho ngựa đi thẳng không dám hoạnh hoẹ nữa.

Trong hoàng cung[sửa]

1 - Với chư quan đương triều:

  • Đối đáp với quan Thừa Tướng:
Bữa nọ, trong lúc chờ thiết triều, quan Thừa Tướng ra vế đối: 安去女已豕為家 An nữ khứ, dĩ thỉ vi gia (Chữ “an 安” bỏ chữ “nữ 女” đi, thêm chữ “thỉ 豕” vào thành chữ “gia 家”/“nhà”). Thấy ông là người thấp bé xấu xí tỏ ý khinh thường, đại ý là họ coi ông xấu xí như lợn, mà đưa đi sứ. Ngoài ra còn có ý khác là nhà Nguyên cần phải xóa sổ nước An Nam để nhập vào bản đồ Trung Quốc)
Mạc Đĩnh Chi đáp lại: 囚出人立王成囯 Tù nhân xuất, nhập vương thành quốc (Chữ “tù 囚” bỏ chữ “nhân 人” đi, thêm chữ “vương 王” vào thành chữ “quốc 囯”). Đại ý là người ở trong tù đưa ra thì họ cũng làm được vua một nước, câu này đối ý cũng rất chuẩn vì nó nói nên rằng dân Đại Việt không chịu đè nén như vậy mà vẫn đứng vững thành một quốc gia riêng)
  • Đối đáp với quan Quan Thượng Thư:
Quan Thượng Thư thấy vậy đọc: Thập khẩu tâm tư, tư quốc tư gia, tư phụ mẫu (câu này dùng phép chiết tự, chữ thập 十, chữ khẩu 口, chữ tâm 心 gộp lại thì thành chữ tư 思 có nghĩa là nhớ: nhớ nước, nhớ nhà, nhớ cha mẹ)
Mạc Đĩnh Chi lên tiếng đối luôn: Thốn thân ngôn tạ, tạ thiên, tạ địa, tạ quân vương (chữ thốn 寸,chữ thân 身, chữ ngôn 言 gộp lại thành chữ tạ 謝 có nghĩa là cám ơn: cám ơn trời, cám ơn đất, cám ơn vua)
Câu đối trên đây vế xuất na ná với giai thoại về mối tình của Đường Bá Hổ - Điểm Thu Hương bên Trung Quốc, chỉ khác ở 2 chữ cuối cùng là "xã tắc"
  • Đối đáp với quan Thái Sư:
Quan Thái Sư đứng cạnh đó tiếp tục ra: Thiên lý vi trùng, trùng thủy trùng sơn trùng nhật nguyệt (Nghĩa là: Việt cách Trung Quốc nghìn dặm, núi sông nước đều giống như Trung Quốc. Nghĩa bóng: Họ gạ nước Việt nhập vào Trung Quốc)
Mạc Đĩnh Chi đối lại như sau: Nhất nhân thành đại, đại quân đại quốc đại càn khôn (Nghĩa là: Một người cũng là lớn, có vua lớn, nước lớn có trời đất lớn. Nghĩa bóng: Nước Việt tuy nhỏ nhưng cũng có vua quan, có trời đất riêng không phụ thuộc vào ai)
  • Đối đáp với quan Thái Uý:
Quan Thái Uý liền nối tiếp mạch văn chương: Hải trung hàm thủy thanh thiên bao nhật nguyệt tinh thần (Nghĩa là: Trong bể đựng nước, trời xanh bao bọc cả mặt trời mặt trăng và các vì sao. Nghĩa bóng: Đại ý nói Trung Quốc là nước lớn rộng như biển thâu hết nước, trời giữ mặt trời, mặt trăng và các vì sao, so nước Việt thì nước Việt nhỏ bé)
Mạc Đĩnh Chi đối lại như sau: Hàn thượng phân kim chỉ địa quát đông tây nam bắc (Nghĩa là: Trên mâm chia vàng chỉ xuống đất bao quát cả đông tây nam bắc. Nghĩa bóng: Trên một cái mâm chia vàng ai cũng được chia như nhau không cậy lớn mà chia ít cho người khác chỉ xuống đất bao quát thấu suốt được 4 phương đông tây nam bắc, nói cách khác không thể khinh nước nhỏ mà ăn hiếp được)

2 - Đối đáp với Hoàng Đế Nguyên Vũ Tông:

  • Đến khi thiết triều, vua Nguyên thấy sứ An Nam thấp lùn xấu xí liền ra một vế đối: Lị Mị Võng Lưỡng tứ tiểu quỷ (dịch nghĩa: Lị, Mị, Võng, Lưỡng là 4 con quỷ nhỏ) thiên tử có ý chê Mạc Đĩnh Chi hình dung xấu như quỷ, hơn nữa lại chơi chữ bởi các chữ lị [魑], mị [魅], võng [魍], lượng [魎] đều có bốn chữ quỷ [鬼] ở bên phải.
Mạc Đĩnh Chi đối lại: Cầm Sắt Tỳ Bà bát đại vương (dịch nghĩa: Cầm, Sắt, Tỳ Bà có 8 vua lớn) các chữ cầm [琴], sắt [瑟], tì bà [琵 琶] đều có tám chữ vương [王] đặt ở trên, phía trên là tên các loài quỷ phía dưới là tên các loại đàn. Vế đối này ông đã khéo chọn tên những cây đàn trong đó có 8 chữ vương. Chẳng những đã khéo tìm chữ đối lại với con số 4 mà lại có ý bảo ta đây là 8 vị đại vương chứ không phải 4 con quỷ nhỏ)
Sau này trong ca dao có những câu sau: "Cầm đàn gảy khúc nam thương, tì bà cầm sắt bát vương đối gì?" và "Khéo đưa sách cổ mà ôn, lị mị võng lượng bốn con quỷ ngồi" là lấy ý từ giai thoại đối đáp trên. Trong tiểu thuyết võ hiệp "Xạ điêu anh hùng truyện" của Kim Dung, tác giả đã dùng câu đối này đưa vào đoạn Quách Tĩnh cõng Hoàng Dung đi gặp Nam Đế chữa bệnh và thi thố với tứ đại đệ tử của ông là: Ngư, Tiều, Canh, Độc.
  • vua Nguyên tiếp tục ra một vế nữa: Quých tập chi đầu, đàm Lỗ luận: tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri, thị tri (Chim chích đậu đầu cành, bàn sách Luận ngữ: biết thì nói là biết, không biết thì nói không biết, đó mới là biết - câu này dùng chữ trong Luận ngữ. Âm "i" nhại tiếng chim kêu líu lo, chọc âm của tiếng Việt)
Mạc Đĩnh Chi đáp lại: Oa minh trì thượng, độc Châu thư: lạc dữ thiểu nhạc lạc, lạc dữ chủng lạc nhạc, thục lạc? (Con ếch kêu trên bờ ao, đọc Châu thư: vui cùng ít người nhạc vui, vui cùng nhiều người nhạc vui, đằng nào vui hơn? - câu này dùng chữ trong Mạnh tử. Âm "ạc" nhại tiếng ếch kêu, chê giọng ồm ồm của người Tàu)
Không chỉ riêng câu đối mà còn qua rất nhiều những thử thách khác nữa, Thiên tử Nguyên triều và chư quan đều công nhận học vấn của Mạc Đĩnh Chi uyên bác và sắc phong ông làm Lưỡng Quốc Trạng Nguyên.

Nguyễn Trung Ngạn (1289 - 1370)[sửa]

Nguyễn Trung Ngạn tên tự là Bang Trực, hiệu là Giới Hiên, biệt hiệu là Ái Sơn Giả, lúc nhỏ còn có tên là Cốt, quê ở làng Thổ Hoàng, huyện Thiên Thi, lộ Khoái Châu (nay là huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên). Nguyễn Trung Ngạn thi đỗ dưới triều Trần Anh Tông, làm quan dưới 4 triều vua: Anh Tông, Minh Tông, Hiến Tông, Dụ Tông. Thời gian ông làm ở Khu mật viện nhiều nhất, bắt đầu là năm 1332 (Nội mật viện phó sứ), sau đó, năm 1342 làm Hành khiển tri Khu mật viện sự, 1352 lại làm Nhập nội hành khiển, vẫn coi việc ở Khu mật viện, 1354 dù thêm chức Kinh lược sứ Lạng Giang, Thị Kinh diên đại học sĩ cũng vẫn Kiêm tri khu mật viện sự. Ngôi đền Tiên Hạ ở số nhà 46A ngõ Phất Lộc tương truyền là nơi thờ Nguyễn Trung Ngạn di tích còn lưu đôi câu đối ngợi ca sự nghiệp của Kinh sư đại doãn Nguyễn Trung Ngạn như sau:

Công rực rỡ ba triều sáng ngời sử cổ
Tiếng linh thiêng bảng miếu phù trợ cố đô

Những câu đối liên quan đến Tiều Ẩn Chu Văn An (1292 - 1370)[sửa]

Chu Văn An tên hiệu là Tiều ẩn, tên chữ là Linh Triệt, người làng Văn Thôn, xã Quang Liệt, huyện Thanh Đàm (nay là huyện Thanh Trì - Hà Nội). Khi thi đỗ Thái học sinh, ông không ra làm quan, mà trở về mở trường dạy học ở quê nhà. Tương truyền khi Chu Văn An mở trường dạy học ở quê nhà, có nhiều học trò tìm đến theo học. Trong số này có một người sáng nào cũng đến thật sớm nghe giảng. Thầy dạy khen là chăm chỉ nhưng không rõ tông tích ở đâu. ông bèn cho người dò xem thì cứ đến khu đầm Đại (khu đầm lớn hình vành khuyên, nằm giữa các làng Đại Từ , Tứ Kỳ, Huỳnh Cung) thì biến mất. Ông biết là thần nước. Gặp lúc đại hạn kéo dài, giảng bài xong ông tụ tập các trò lại hỏi xem ai có tài thì làm mưa giúp dân, giúp thầy. Người này ra giữa sân lấy nghiên mài mực, ngửa mặt lên trời khấn và lấy bút thấm mực vẩy ra khắp nơi. Vẩy gần hết mực, lại tung cả nghiên lẫn bút lên trời. Lập tức mây đen kéo đến, trời đổ mưa một trận rất lớn. Đêm hôm ấy có tiếng sét và đến sáng thấy có thây thuồng luồng nổi lên ở đầm. Chu Văn An được tin khóc thương luyến tiếc rồi sai học trò làm lễ an táng, nhân dân các làng lân cận cũng đến giúp sức và sau nhớ công ơn bèn lập đền thờ. Theo truyền thuyết, chỗ nghiên mực bị ném rơi xuống đã biến thành đầm nước lúc nào cũng đen, nên thành tên là Đầm Mực. Quản bút rơi xuống làng Tả Thanh Oai biến làng này thành một làng văn học quê hương của Ngô Thì Sĩ, Ngô Thì Nhậm, v.v... Trong đền thờ thần còn đôi câu đối khá tiêu biểu ghi lại sự tích này:

Mặc nghiễn khởi tường vân, nhất bút lực hồi thiên tự thuận (Mây lành từ nghiên mực bay lên, một ngọn bút ra công trời thuận theo lẽ phải)
Chu đình lưu hóa vũ, thiên trù vọng thiếp địa phồn khô (Mưa tốt giữa sân son đổ xuống, nghìn cánh đồng đội nước, đất nẻ trổ mùa hoa)
Chu đình có hai nghĩa: sân son và sân họ Chu, chỉ Chu Văn An.

Chu Văn An đã vượt qua ngưỡng cửa: làm thầy giáo giỏi của một đời để đạt tới làm thầy giáo giỏi của muôn đời như Phan Huy Chú đã ngợi ca ông: "học nghiệp thuần túy, tiết tháo cao thượng, làng Nho nước Việt trước sau chỉ có mình ông, các ông khác không thể so sánh được". Cụ thể hơn qua đôi câu đối sau:

Trần vãn thử hà thời, dục vịnh đại phi hiền giả lạc (Cuối Trần đó là thời nào, ngâm vịnh rong chơi đâu phải thú vui hiền giả)
Phượng sơn tồn ẩn xứ, trĩ lưu trường ngưỡng triết nhân phong (Non phượng còn dấu nơi ẩn, núi sông mãi mãi ngắm nhìn phong cách triết nhân)

Đào Toàn Bân (1308 - 1386) và Đào Sư Tích (1350 - 1396)[sửa]

Đào Toàn Mân sinh tại làng Song Khê, xã Song Khê, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang (tên ngày nay). Năm Giáp Tý (1324) khi mới 16 tuổi dự kỳ thi Hương đỗ Hương cống. Và không hiểu vì lí do gì mà mãi 28 năm sau, khi đã 44 tuổi mới dự kỳ thi Thái học sinh khoa Đại Tỷ, năm Nhâm Thìn, niên hiệu Thiệu Phong thứ 12 (1352) triều Trần Dụ Tông đỗ Đệ nhị giáp Tiến sỹ. Đào Sư Tích là con Đào Toàn Bân, quê làng Cổ Lễ, huyện Tây Chân (nay thuộc thị trấn Cổ Lễ, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định). Một lần, Đào Sư Tích phải qua sông cắt thuốc chữa bệnh cho cha. Vì đò đông khách, Đào Sư Tích phải đợi chuyến sau. Trong lúc ngồi chờ, cảm xúc trước cảnh trời nước mênh mang, Đào Sư Tích ngâm nga:

Trời mênh mông, nước mênh mông, tôi phải chờ, bởi đò đông

Tình cờ, cô lái đò tên là Đông. Khi biết tên tác giả bài thơ "Chờ đò" là Tích, cô Đông liền gửi lại cho một vế đối:

Đêm tĩnh mịch, nhà tĩnh mịch, tôi ngồi đọc, truyện cổ tích

Từ đó, hai người trở nên thân thiết. Nhưng chẳng được bao lâu thì cô Đông bị gia đình ép gả cho một người dân chài ở Tiền Hải, còn Đào Sư Tích thì đỗ Trạng nguyên và đi làm quan ở triều đình. Một hôm quan Nhập nội hành khiển Đào Sư Tích nhận được một bức thư không đề tên người gửi, vẻn vẹn chỉ có hai câu:

Chức trọng quyền cao ngày nay đã thoả, còn nhớ năm xưa ngồi đợi con đò?

Bức thư đã làm ông nhớ lại những kỷ niệm đẹp của mối tình tuổi học trò. Vào một đêm trằn trọc không ngủ được, ông ngồi dậy cầm bút viết:

Mười mấy năm trời quyền cao chức trọng, không bằng một khắc trên chuyến đò xưa

Khoa thi Giáp Dần (1374), cả ba người học trò của Đào Toàn Bân đều đỗ cao: Con trai cụ là Đào Sư Tích đỗ Trạng nguyên, hai học trò của cụ là Lê Hiến Giản (tức Lê Hiến Phủ) đỗ Bảng nhãn, Lê Hiến Tứ đỗ Tiến sĩ (Thái học sinh). Trong buổi lễ đăng khoa, biết Đào Toàn Bân đã dạy con và hai học trò đều đỗ đại khoa, vua Trần tặng ông bốn chữ "Phụ tử đồng khoa" (Cha con cùng đỗ) kèm theo vế đối:

Phụ đăng khoa, tử đăng khoa, phụ tử kế đăng khoa chi nghiệp (Cha đỗ, con đỗ, cha con nối nhau làm nên sự nghiệp học vấn đỗ đạt)
Tân Trạng nguyên Đào Sư Tích liền xin phép vua và cha cho đối như sau: Tổ tích đức, tôn tích đức, tổ tôn bồi tích đức chi cơ (Ông tích đức, cháu tích đức, ông cháu cùng vun trồng cơ nghiệp đức)

Vua Trần lại ra vế đối khác:

Viên ngoại ba tiêu vô phu quân tứ thời hữu tuyết

Đào Toàn Bân xin đối lại là:

Mộc tại nguyệt thiên vô thổ bồi bát nguyệt giai xuân

Do câu đối là truyền khẩu từ đời xưa, chỉ có phiên âm mà không có chữ Hán nên mỗi người hiểu một cách khác nhau. Tiến sĩ Nguyễn Xuân Năm dịch như sau:

Cây chuối ngoài vườn, người quân tử ngồi bên cửa sổ cũng thấy vui vui
Cây dưới trăng không lấp đất vào gốc thì từ tháng tám không được tốt tươi

Nhà nghiên cứu Lê Xuân Quang lại dịch hai câu đối này là:

Cây chuối ngoài vườn không có chồng bốn mùa có tuyết
Cây ở trời trăng không đất đắp bồi tháng tám đều xuân

Lại có bản dịch khác như sau:

Cây chuối ngoài vườn không vỏ bọc, (như) bốn mùa đều có tuyết
Cây ở trời trăng không có đất, (nhưng) tháng tám cũng đều xuân

Dịch giả Dương Văn Vượng có đưa ra một cuốn sách chữ Hán của dòng họ Đỗ ở La Ngạn (Yên Đồng, Ý Yên), trong đó có viết về một giai thoại đối đáp giữa Hoàng giáp Phạm Văn Nghị với Hoàng giáp Đỗ Huy Liêu. Câu đối của hai ông như sau:

Viên ngoại ba tiêu vô dâm dục nhi tứ thời hữu dựng
Nguyệt trung đan quế phi tài bồi nhi bát tiết giai xuân

Tạm dịch:

Cây chuối tiêu ở ngoài vườn không có lòng dâm mà bốn mùa có chửa
Cây quế đỏ trong cung trăng không được trồng trỉa mà tám tiết đều xuân

Hai câu đối này rất gần với hai câu đối của vua Trần và Đại sư Đào Toàn Bân, nhưng chỉnh hơn về luật đối, hay và có lôgíc hơn về ý nghĩa. Không biết có phải câu đối sau do được tiếp thu tinh hoa của câu đối trước mà hay hơn, hay do người đời sau nhầm lẫn về tác giả của các câu đối này nên đã gán ghép, hoặc do câu đối được truyền khẩu mà tam sao thất bản chăng?

Năm 1392, Hồ Quý Ly viết sách Minh đạo (làm sáng tỏ đạo Nho) hạ thấp vai trò của Khổng Tử, đề cao Chu Công...Quốc tử trợ giáo Đoàn Xuân Lôi dâng thư nói Hồ Quý Ly bàn như vậy là không phải, liền bị đày đi châu gần. Đoàn Xuân Lôi nói Đào Sư Tích có xem thư của mình phê phán Hồ Quý Ly nên Đào Sư Tích cũng bị giáng làm Trung thư thị lang đồng Tri thẩm hình viện sự. Sau sự kiện đối đầu với Hồ Quý Ly này, có câu đối ca ngợi cha con Đào Sư Tích như sau:

Kim âu xã tắc quân thần nghĩa
Thạch mã sơn hà phụ tử danh

Nghĩa là:

Nghĩa vua tôi bình vàng xã tắc
Tiếng cha con ngựa đá non sông

Khi Đào Sư Tích sang sứ nhà Minh, vua Minh có hỏi: "Nếu Bắc (chỉ Trung Quốc) đánh Nam (chỉ Đại Việt) thì ai thắng?" Đào Sư Tích trả lời như sau:

Bắc thắng, Nam thua, thua thua thắng
Nam thua, Bắc thắng, thắng thắng thua

Nghe câu trả lời của sứ thần Đại Việt, các quan võ nhà Minh cười vang khoái trá. Nhưng vua Minh lại không thể cười được vì hiểu ý câu trả lời của Đào Sư Tích. Trong câu trả lời có 5 chữ thắng, 5 chữ thua, nghĩa là đánh Đại Việt thì chưa chắc đã thắng đâu, chi bằng hoà là hơn. Vua Minh lại hỏi: "Nhà Trần suy vong, Hồ Quý Ly chuyên quyền, lòng dân ly tán, tại sao ta không thắng?" Đào Sư Tích trả lời như sau:

Trần thực, Hồ hư, hư hư thực thực
Cổ lai chinh chiến thực thực hư hư

Nghĩa là:

Nhà Trần là thực, Hồ chỉ là hư, hư là hư thực
Xưa nay chinh chiến thực thực hư hư

Vua Minh sai một quan đại thần tiễn Đào Sư Tích về nơi nghỉ và đưa cho vị này 4 phong thư, dặn mở theo thứ tự như thế như thế... Khi mở phong thư thứ nhất thấy có dòng chữ: "Thượng văn vấn, hạ tri vương". Vị đại thần nhà Minh không hiểu ra làm sao. Đào Sư Tích liền bảo: "Vua Minh quá khen, cho ta là bậc thánh hiền. Ta đâu giám nhận lời khen đó" Và ông giải thích: "Văn là nghe, nghe là tri, tri là nhĩ. Vấn là hỏi, hỏi là mồm, mồm là khẩu. Bên dưới có chữ vương. Hợp ba chữ: nhĩ, khẩu, vương thành chữ thánh." Trong phong thư thứ hai có câu trả lời cho phong thư thứ nhất, câu trả lời của Đào Sư Tích hoàn toàn đúng với đáp án trong phong thư thứ hai. Phong thư thứ ba là sắc phong Đào Sư Tích làm: Lưỡng quốc Trạng nguyên. Phong thư thứ tư có hai dòng chữ: "Hậu hoạ, Nhất dược nhị đao". Vị đại thần hiểu rằng vua Minh lệnh cho ông phải giết Đào Sư Tích, Đào Sư Tích bình thản đón nhận cái chết, ông uống thuốc độc tự tử. Sau khi mất, ông được phong làm phúc thần và được nhiều nơi lập đền thờ như ở Cổ Lễ (Nam Định), Đông Trang (Ninh Bình), Song Khê (Bắc Giang), Lý Hải (Tam Đảo)... Sự nghiệp khoa giáp của ông được lưu danh muôn thuở như câu đối ở Lăng quan Trạng:

Cổ Lễ miếu đường lưu vạn đại
Trần triều khoa giáp đệ nhất môn

Nghĩa là:

Miếu thờ Cổ Lễ còn muôn thở
Khoa giáp triều Trần mấy kẻ hơn

Sinh thời Đào Sư Tích nổi tiếng về văn học. Cha con ông được coi là những người khơi dòng văn học của họ Đào. Câu đối ở nhà thờ họ Đào - Phạm - Dương Cổ Lễ còn ghi rõ:

Đào tộc Song Khê khai học hải
Dương danh Cổ Lễ khởi văn giai

Nghĩa là:

Họ Đào ở Song Khê mở ra biển học
Tiếng Dương ở Cổ Lễ xây dựng nền văn

Những câu đối khắc tại đền thờ danh tướng Trần Khát Chân[sửa]

Trần Khát Chân thuộc dòng dõi Bảo Nghĩa Vương Trần Bình Trọng, quê làng Hà Lăng, huyện Vĩnh Ninh (Thanh Hóa). Tháng giêng năm Canh Ngọ (1390), Chế Bồng Nga đem hơn 100 chiến thuyền đến. Trần Khát Chân cho phục binh ở ngã ba sông Hải Triều và sông Nhị Hà, thuyền vua Chiêm trúng đạn, vua Chiêm Thành chết tại trận. Sau chiến công này, ông được phong làm Long Tiệp Bổng thần Nội vệ Thượng tướng, tước Vũ tiết quan Nội hầu. Đền thờ Trần Khát Chân được dựng bên sườn núi Đún nên dân làng thường gọi là đền Đún. Đền nằm trên địa phận làng Cao Mật, hướng Đông - Bắc. Ở đền Đún có nhiều câu đối, trong đó có một câu điển hình nhất ca ngợi chính khí của Trần Khát Chân:

Gian hùng phách hổ hoa lâu kiếm
Chính khí linh truyền thạch lộ cung

Tạm dịch:

Lầu hoa gươm biếc, gian hùng bay phách lạc
Đường đá cung reo, chính khí còn truyền mãi tiếng thơm.

Một câu đối khác trong đền có nội dung như sau:

Thiết thạch nhất tâm triêu nhật nguyệt
Cương thường vạn cổ đặng càn khôn

Lúc rời Đền thiêng núi Đún, ngước thêm lần nữa đôi câu đối khá uẩn súc ở Trung đường:

Trung hiếu phong cao chính khí thiên thu do bức Hán
Hoang thành yên một, hào hoa nhất khứ dĩ qua Hồ

Dịch nghĩa:

Miếu trung thần, phong độ lớn nghĩa khí ngàn thu còn bức Hán
Thành hoang mây khói phủ vẻ hào hoa mới khuất đã sang Hồ
Trong hàng chục bức hoành câu đối ở Đền, thấy câu đối này hơi bị lạ. Lạ chưa hẳn là âm hưởng ngang tàng khí phách, lạ tác giả lại là một nữ nhi! Bà Phạm Thị Đào là người thiếp yêu của một quan chức khá cao cấp không biết thời nào nhưng ghi là quan phụ chính đại thần Đông các đại học sĩ cung tiến cho đền!

Ngôi đình ở Tương Mai, quận Hoàng Mai, thủ đô Hà Nội thờ thượng tướng Trần Khát Chân. Bấy giờ, vua Chiêm Chế Bồng Nga đem quân tàn phá kinh thành Thăng Long, bị Trần Khát Chân đánh ở ngã ba sông Luộc, phải tử trận. Đình Tương Mai ghi công ông:

Phò Trần chúa, bình Chiêm binh triều đại kỉ cương công bất hủ
Phỏng Mai thôn, vọng Đốn lĩnh giang san y cựu miếu trung quang

Dịch nghĩa:

Phù vua Trần, dẹp quân Chiêm bao triều đại đổi thay, công lao không mai một
Thăm làng Mơ, ngắm núi Đốn dải non sông nguyên vẹn, đền miếu vẫn uy nghi

Những câu đối khắc ở Nhà thờ Trạng nguyên Hồ Tông Thốc[sửa]

Hồ Tông Thốc là một nhà sử học của Việt Nam vào cuối thời nhà Trần, năm 17 tuổi, ông đã đậu tiến sĩ. Nhà thờ Trạng nguyên Hồ Tông Thốc ở làng Tam công (Kẻ Cuồi), nay là làng Tam Thọ, xã Thọ Thành, huyện Yên thành, tỉnh Nghệ An. Hai giải hai bên thêu tùng lộc và có sư tử chầu, có đôi câu đối:

“Tam công cựu chi kim nhưng tại” (nghĩa là: làng Tam công ngày xưa bây giờ vẫn còn đây)
“Nhất giáp, cao danh cổ vọng truyền” (nghĩa là: đổ trạng nguyên danh tiếng từ thuở trước còn truyền lại đến ngày nay)

Và có đôi câu đối khảm xà cừ:

“Thần tâm, tử tâm, nhất ngô ninh háo súng tương vị hà” (nghiã là: lòng tôi, lòng con, ta một lòng đền đáp vẫn chưa xứng với công đức của tiền nhân)
“Quốc khánh, gia khánh, trường tồn đức vinh phong tự kim thuỷ” (nghĩa là: mừng nước, mừng nhà nhớ công đức lâu dài từ trước đến nay đều được phong chức tước)

Tương truyền con của ông là Hồ Thành cũng đỗ Trạng Nguyên, cháu nội của ông là Hồ Đốn (có sách ghi là Hồ Lại) tiếp tục đỗ Trạng Nguyên. Vì thế có người đương thời làm câu đối tặng gia đình ông trong đó có câu :

“Lũy thế phương danh chiêu nhạn tháp
Nhất gia thịnh sự ích long môn”

Hồ Quý Ly[sửa]

  • Giai thoại đối đáp với vua Trần Nghệ Tông (1321 - 1394):
Trần Nghệ Tông tên thật là Trần Phủ, sinh tại kinh đô Thăng Long. Năm 1394, ông chiêm bao thấy Trần Duệ Tông đọc bài thơ: "Trung gian duy hữu xích chủy hầu, ân cần tiếm thượng bạch kê lâu, khẩu vương dĩ định hưng vong sự, bất tại tiền đầu tại hậu đầu". Dịch là: "Ở giữa chỉ có loài mỏ đỏ, lăm le lấn lên lầu gà trắng, khẩu vương đã định việc hưng vong, không ở trước mà ở về sau". Ông tự đoán: "xích chủy" (miệng đỏ) ám chỉ Quý Ly, "bạch kê" (gà trắng) là Nghệ Tông, vì ông tuổi Tân Dậu (1321); "khẩu vương" thì chữ khẩu và chữ vương là chữ "quốc"; việc nước còn hay mất sau sẽ thấy. Nghệ Tông biết ngày sau mình qua đời nhà Trần sẽ mất nước.

Hồ Qu‎ý Ly, trước có tên là L‎ê Qu‎ý Ly, tự là L‎ý Nguyên. Sau ông cướp ngôi nhà Trần, xưng là Quốc Tổ Chương Hoàng Đế, quốc hiệu Đại Ngu. Tương truyền Hồ Quý Ly lúc hàn vi thường theo cha nuôi họ Lê đi buôn đường biển, một lần thuyền ghé vào bờ, Quý Ly thấy trên bãi biển có ai vạch lên câu thơ: Quảng Hàn cung lý Nhất Chi Mai (Quảng Hàn cung nọ một cành mai). Quý Ly thấy hay liền nhẩm thuộc lòng câu thơ đó. Sau này làm quan một hôm hộ giá vua Trần Nghệ Tông đi chơi, nửa chừng ghé vào tránh nắng ở điện Thanh Thử, thấy trước điện rất nhiều cây quế, vua liền ra câu dối:

Thanh Thử điện tiền thiên thụ quế (Thanh Thử điện kia ngàn gốc quế)
Quy Ly chợt nhớ lại câu thơ trước đây liền đọc luôn: Quảng Hàn cung lý Nhất Chi Mai
Nghe xong, các quan đều tán thưởng tài văn chương của Hồ Qu‎ý Ly. Vua Trần vừa phục, vừa thấy lạ lùng bởi nhà vua có một người em gái là công chúa Nhất Chi Mai (Huy Ninh). Nàng đang để tang chồng là Phó kỳ lang Trần Nhân Vinh mới bị giết, vua cho xây dựng cung cấm rất kín đáo để em gái tiện cư tang, không tiếp xúc với bên ngoài nên kể cả các quan gần gũi cũng rất ít người biết. Vua hỏi Hồ Qu‎ý Ly tại sao lại biết được việc kín trong cung, rồi chuyện tòa lầu của công chúa ở là cung Quảng Hàn do chính vua đặt tên? Hồ Qu‎ý Ly cứ thật tình tâu bày chuyện câu thơ năm xưa trên bãi biển, vua cho đó là duyên trời định bèn hứa sau khi em hết tang ba năm sẽ cho tái giá với Quý Ly.
  • Câu đối với tướng quốc Hồ Nguyên Trừng (1374 - 1446):

Hồ Nguyên Trừng, tự là Mạnh Nguyên, hiệu Nam Ông là người huyện Vĩnh Phúc, lộ Thanh Hoa (nay thuộc tỉnh Thanh Hóa). Ông là con trai cả của Hồ Quý Ly, và là anh của Hồ Hán Thương. Đầu năm 1400, cha ông lên ngôi vua, Hồ Nguyên Trừng được cử làm Tả tướng quốc. Năm 1407, cả ba cha con đều bị quân Minh bắt, áp giải về Kim Lăng (Nam Kinh, Trung Quốc). Biết được Hồ Nguyên Trừng có tài, Minh Anh Tông cho ân xá. Sau này, Hồ Nguyên Trừng được thăng chức Công bộ Thượng thư. Tương truyền, Hồ Quý Ly định nhường ngôi cho Hồ Hán Thương nhưng còn e ngại người con cả là Hồ Nguyên Trừng. Một hôm, Quý Ly ngụ ý vào cái nghiên mực bằng đá, ra một vế đối để dò xét Nguyên Trừng:

vế ra: Thử nhất quyền kỳ thạch, hữu thời vi vân vi vũ, dĩ nhuận sinh dân! (Viên đá nhỏ bằng nắm tay, mà có lúc làm mây, làm mưa, nhuần tưới nhân dân)
Nguyên Trừng vốn không có ý tranh giành ngôi vua với em, nên cũng ngụ ý vào cây gỗ thông để nói tài mình chỉ đáng làm tôi giúp nước chứ không đáng làm vua, bèn đối lại như sau:
vế đối: Giá tam thốn tiểu tùng, tha nhật tác đống tác lương, dĩ phù xã tắc! (Cây thông bé chừng ba tấc, nhưng sau này làm cột làm xà, phù trì xã tắc)
Quý Ly xem câu đối rất hài lòng và yên tâm truyền ngôi cho Hồ Hán Thương

Câu đối liên quan đến Điện Tiền Thị Ngự Sử Nguyễn Biểu[sửa]

Nguyễn Biểu (?- 1413) quê ở xã Bà Hồ, sau đổi là Minh Hồ, nay là xã Yên Hồ, huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh, đỗ Thái học sinh (Tiến sĩ) thời cuối Trần. Ông tham gia cuộc khởi nghĩa của nhà Hậu Trần (1409-1413), khi vua Trần Trùng Quang lãnh đạo, được giữ chức Điện tiền thị ngự sử. Vua cử ông sang nhà Minh cầu phong, Trương Phụ bày tiệc, dọn cỗ đầu người mời ông ăn. Ông dùng đũa khoét lấy mắt rồi nuốt, Trương Phụ thả ông đi. Nhưng vừa đến sông Yên Quốc thì cho người đuổi theo bắt lại, ông viết vào cầu 7 chữ “Nhất nguyệt, thất nhật, Nguyễn Biểu sử” (Ngày mồng 7 tháng 7, Nguyễn Biểu chết). Trở lại thành Nghệ An, ông đã mắng vào mặt Trương Phụ, y tức giận sai trói ông ở cột cầu Yên Quốc, để nước lên dìm chết. Đời Hồng Đức, vua Lê Thánh Tông tuyên dương tiết nghĩa, cho lập đền thờ ông ở Bình Hồ, phong là Nghĩa Sĩ đại vương. Một danh sĩ đã đề câu đối như sau:

Ma tặc thất thanh thiên địa động
Đề kiều thất tự cổ kim bi

Dịch nghĩa:

Chửi giặc một thôi đất trời cảm động
Đề câu bảy chữ, xưa nay (mọi người) đều thương xót

Câu đối về Đặng Tất và Đặng Dung[sửa]

Đặng Tất sinh tại làng Tả Thiên Lộc, huyện Thiên Lộc, Nghệ An châu nay là xã Tùng Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Năm 1407, Đặng Tất theo Trần Ngỗi, được phong làm quốc công. Do bất đồng về sách lược, vua Giản Định sai võ sĩ bóp cổ giết chết ông. Con Đặng Tất là Đặng Dung bỏ đi lập Trần Quý Khoáng làm Trùng Quang Đế. Năm 1413, Đặng Dung bị Trương Phụ bắt áp giải về Yên Kinh. Dọc đường, Đặng Dung nhảy xuống biển tự tử. Vua Lê Thánh Tông ban chiếu tặng cha con ông hai câu đối:

Quốc sĩ vô song, song quốc sĩ
Anh hùng bất nhị, nhị anh hùng

Quan nhà Minh và học trò Giao Chỉ[sửa]

  • Lê Thúc Hiến và Thượng Thư Hoàng Phúc (1363 - 1440):

Hoàng Phúc tự là Như Tích, biệt hiệu Hậu Nhạc Ông, người Xương Ấp, Sơn Đông, là một đại thần triều Minh, từng được vua Minh Thành Tổ cử sang Đại Việt giữ chức Tán Quân Vụ để cai trị và truyền bá văn hóa Trung Hoa. Sử Việt Nam chép Hoàng Phúc sang Việt Nam hai lần, lần đầu ở Việt Nam suốt 18 năm, từ 1406 đến 1424. Lần thứ hai sang với tư cách trợ lý cho Liễu Thăng năm 1427. Như thế, trong bộ máy cai trị của nhà Minh đặt tại Đại Việt, Hoàng Phúc là người đứng đầu bộ phận dân sự. Ông mở trường để dạy cho các nho sinh Đại Việt. Nhân một hôm mưa bão nổi lên, nhà sập đổ, tường xiêu vẹo điêu tàn.

Trước đám học trò, Hoàng Phúc đọc: Tai chiêu phong vũ gia gia đồi hoại cựu viên tường (Hôm qua mưa gió nhà nhà sập đổ vách tường xiêu) và bắt học trò đối lại.
Câu này có ý gì sâu xa không? Lẽ nào chỉ là câu tả thực? Trong lúc mọi người đang suy ngẫm thì một nho sinh xin đọc: Kim nhật càn khôn xứ xứ phát sinh tân thảo mộc (Nay đất trời quang chốn chốn mọc lên cây cỏ mới).
Câu đối thật tài tình bởi quang cảnh đổ nát ở đây do mưa bão gây nên cũng như kẻ thù đã làm cho nước Nam điêu đứng. Cây cỏ mới mới mọc lên cũng như nhân tài Đại Việt sẽ sớm xuất hiện để khôi phục lại đất nước. Tác giả câu đối này là Lê Thúc Hiến, con trai của Lê Cảnh Tuân, ông bị quân Minh bắt giam ở Kim Lăng cùng với con trai Lê Thái Diêu đều chết ở trong ngục. Sau vụ này, Lê Thúc Hiến cùng với anh là Lê Thiếu Đính vào Lam Sơn chiến đấu dưới lá cờ Lê Lợi và đã lập nhiều chiến công hiển hách.
  • Phan Nhân với viên quan đô hộ nhà Minh:

Tại làng Phan Xá, Nghi Xuân, Hà Tĩnh có chàng hàn sĩ Phan Nhân bị quân Minh bắt về hầu hạ viên học quan Trung Quốc sang Đại Việt mở trường để truyền bá văn hóa Trung Hoa và ca ngợi công đức nhà Minh. Một hôm y ra một vế đối và bắt nho sinh Đại Việt đối lại:

Hồng lựu tự hỏa phi cầm lai vãng bất thiêu thân (Hoa lựu đỏ như lửa, chim bay qua lại thân chẳng bị thiêu).

Phan Nhân ứng khẩu đọc: Lục tảo như ti du lý phù trầm nan tước vĩ (Đám rêu xanh như tơ, cá lội nổi chìm đuôi chẳng bị vướng).

Vế ra viên quan nhà Minh muốn nói: Đạo quân của chúng tuy bề ngoài có vẻ hung dữ nhưng thực chất là đạo quân nhân nghĩa chẳng làm hại ai. Còn vế đối của Phan Nhân khẳng định rằng: Dù bị bủa vây nhưng không ngăn nổi ý chí tung hoành của người Đại Việt. Sau cuộc đấu trí này biết kẻ thù đang theo dõi mình, Phan Nhân đã trốn vào Lam Sơn theo Lê Lợi và đã lập được nhiều chiến công trong sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Liên kết[sửa]