Cairo
Giao diện

Cairo (tiếng Ả Rập: القاهره) là thủ đô và thành phố lớn nhất Ai Cập. Dân số vùng đô thị Cairo là 18 triệu người, là vùng đô thị đông dân nhất châu Phi.
Trích dẫn
[sửa]Tiếng Việt
[sửa]- 2017, Tạ Ngọc Tấn, Thấp thoáng Cairo
- Nhưng sự phồn hoa của phố xá Cairo chỉ thấy ở trung tâm thành phố, cũng như màu xanh phì nhiêu của Ai Cập chỉ bám dọc theo sông Nile. Ra khỏi trung tâm Cairo, đi về phía quận Giza, đập vào mắt du khách là một khung cảnh khác hẳn. Càng rời xa dòng sông Nile, đất đai ngày càng khô cằn, nhà cửa ngày càng bụi bặm. Những phố xá nhuộm màu bụi đất đỏ quạch. Những khu nhà thấp tầng mới xây dựng chưa được hoàn thiện đã bỏ không, trống hốc những ô cửa không có cánh, trông hoang vắng vô hồn. Nhưng có lẽ sợ nhất là những con kênh rác thải ở Giza, nước đen kịt, rác rưởi trôi lềnh bềnh, bốc mùi hôi nồng nặc. Vẫn có những con cò trắng gầy tong teo rảo chân, ngó nghiêng tìm kiếm thức ăn trên những đám rác hôi hám. Có điều lạ là người ta vẫn sống trong những căn nhà tồi tàn bên những dòng kênh rác ấy, vẫn làm việc, đi lại bình thản trong cái bầu không khí nồng nặc ấy.[1]
Tiếng Ả Rập
[sửa]- Thế kỷ 12, Ibn Jubayr, قلعة القاهرة (Thành cổ Cairo)
- وشاهدنا أيضاً بنيان القلعة وهو حصن يتصل بالقاهرة حصين المنعة، يريد السلطان أن يتخذه موضع سكناه، ويمد سوره حتى ينتظم بالمدينتين مصر والقاهرة.
- Chúng tôi cũng đã tận mắt chứng kiến công trình xây dựng Thành lũy — một pháo đài phòng thủ kiên cố bất khả xâm phạm kết nối với Cairo. Sultan muốn chọn nơi đây đặt ngôi vương, và Ngài đang cho kéo dài các tường thành để hợp nhất cả hai thành phố Miṣr và Cairo thành một khối duy nhất.
- وشاهدنا أيضاً بنيان القلعة وهو حصن يتصل بالقاهرة حصين المنعة، يريد السلطان أن يتخذه موضع سكناه، ويمد سوره حتى ينتظم بالمدينتين مصر والقاهرة.
- 1961, Naguib Mahfouz, اللص والكلاب (Tên kẻ cắp và những con chó)
Xem thêm
[sửa]Chú thích
[sửa]- ↑ Tạ Ngọc Tấn (21 tháng 8 năm 2017), “Thấp thoáng Cairo”, Đại biểu Nhân dân, truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2026
- ↑ نجيب محفوظ, اللص والكلاب (bằng tiếng Ả Rập Ai Cập), tr. 105
- ↑ Naguib Mahfouz (1990), “Chương XII”, Tên kẻ cắp và những con chó, Nguyễn Trung Đức, Mạnh Tứ biên dịch, Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc
