Bước tới nội dung

Lửa

Bộ sưu tập danh ngôn mở Wikiquote
Lửa rất gần với khói ~ Plautus

Lửa hay hỏa (chữ Hán: ) là quá trình oxy hóa khử nhanh chóng một vật liệu trong phản ứng cháy, giải phóng ra nhiệt, ánh sáng và các sản phẩm phản ứng khác như khói.

Trích dẫn

[sửa]

Tiếng Việt

[sửa]
  • Thế kỷ 13, Trần Hưng Đạo, Hịch tướng sĩ
    今余明告汝等
    當以措積薪為危
    當以懲羹吹虀為戒
    Kim dư minh cáo nhữ đẳng,
    Đương dĩ thố hỏa tích tân vi nguy;
    Đương dĩ trừng canh xuy tê vi giới.
    Phan Kế Bính dịch:
    Các ngươi nên phải lo toan,
    Húp canh ngớp nóng, nằm giàn lo thiêu!
    Quân-sĩ phải hết triều dạy dỗ,
    Rèn tập nghề cung, nỗ, qua, mâu.
    Trần Trọng Kim dịch:
    Nay ta bảo thật các ngươi: nên cẩn-thận như nơi củi lửa, nên giữ-gìn như kẻ húp canh, dạy-bảo quân-sĩ, luyện-tập cung tên
    Ngô Tất Tố dịch:
    Nay ta bảo rõ các ngươi: cái chuyện dấm lửa đống củi phải lo, mà câu sợ canh thổi rau nên nhớ. Các ngươi hãy nên huấn luyện quân-sĩ, rèn-tập cung tên,
  • Thế kỷ 15, Lê Thánh Tông, Canh hai
    Cảnh vật chòm chòm bay lửa đóm,
    Cỏ hoa gốc gốc đượm hương trời.
    Có người đắc thú trong khi ấy,
    Đoản địch còn xong thốt mái ngoài.
Lửa gần rơm, lâu ngày cũng bén
  • 1741, Đặng Trần Côn, Chinh phụ ngâm, Đoàn Thị Điểm dịch
    唒兵񠌿渃𡽫如𡳵
    几行人過妬鄭傷
    分񠜬񣃹 񣖑戦塲
    払超𠃅𩯀點霜買𧗱
    Dấu binh lửa, nước non như cũ,
    Kẻ hành nhân qua đó chạnh thương.
    Phận trai: già cõi chiến trường,
    Chàng Siêu mái tóc điểm sương mới về.
Không có lửa, sao có khói
  • 1788, Lê Huy Dao, Dụ tứ phương cần vương đối Tây Sơn hịch
    盎鋒鏑𪖫㐫昴湿鎌曹蔑䙊渃空㵢
    准金湯𤌋𠖯碧𣻆焒項𠃩層𩄲拱慘
    Áng phong đích mũi hông máu thấp, gươm Tào, vạt dải nước không trôi
    Chốn kim thang khói ngút biếc tuôn, lửa Hạng, chín tầng mây cũng thảm
  • Thế kỷ 18, Nguyễn Du, Truyện Kiều, câu 1383-1384
    香強淡󰌕強濃
    強吹𨤔玉強籠牟蓮
    Hương càng đượm, lửa càng nồng;
    Càng sôi vẻ ngọc, càng lồng màu sen.
  • Thế kỷ 18, Nguyễn Gia Thiều, Cung oán ngâm khúc
    Cảnh hoa lạc nguyệt minh dường ấy
    Lửa hoàng hôn như cháy tấm son
    Hoàng hôn thôi lại hôn hoàng
    Nguyệt hoa thôi lại thêm buồn nguyệt hoa!
Lửa thử vàng, gian nan thử sức
  • ~, Nguyễn Văn Thành, Văn tiền quân
    Nhắp nháng lửa trơi soi miền cổ độ.
    Miền phố định tới nơi còn dung ruổi, ngụ lòng một lễ chén rượu thoi vàng;
Nước xa khôn cứu lửa gần
  • Thế kỷ 19, Cao Bá Quát, Tài tử đa cùng
    Túi thanh-bạch ngược xuôi miền khách-địa, trăm nghìn đường chỉ nhện dệt thưa mau; Đèn toan hàn thức nhắp mái nam-song, dăm ba ngọn lửa huỳnh khêu nho nhỏ.
Đổ dầu vào lửa
  • 1887, Nguyễn Trọng Quản, Truyện thầy Lazaro Phiền
    Khi tôi thấy cha tôi chết như vậy, thì tôi không còn muốn sống nữa, tôi mới chạy lại ôm xác ông già tôi quyết lòng đợi lửa tới mà chết thui với ông già tôi, song lửa mới vừa tới cháy hai chơn tôi thì sự đau đớn làm cho tôi quên hết mọi sự cùng bắt tôi chạy a ra cửa mà ra khỏi tù.
Cháy nhà ra mặt chuột
  • 1889, Trương Minh Ký, Như Tây nhựt trình
    Kẻ nghịch đốt dảy đàng sau đó,
    Công trăm năm thiêu có một ngày.
    Lửa ôi! Nóng nảy lắm thay!
    Chẳng thương tiếc ngọc, không hay vì vàng.
  • Thế kỷ 19, Bùi Hữu Nghĩa, Thời cuộc
    𥰊高鐄別歲鐄
    﨤欺񠌿񣇨牟強添稽
    Ngọn lửa Tam Tần phừng đất cháy,
    Chòm mây Ngũ quí lấp trời bay.
  • Thế kỷ 19, Nguyễn Công Trứ, Ca tự biệt
    Kẻ về người ở
    Bồi hồi thay lúc phân kỳ
    Khéo quấy người hai chữ tình si
    Lửa ly biệt bầng bầng không lúc nguội!
Cầm lửa đốt giời
  • Thế kỷ 19, Phan Văn Trị, Hạt lúa
    Ông cha giúp nước đã ghe thuở
    Dòng giống nuôi dân đã mấy đời.
    Vì thế liều mình cơn nước lửa,
    Ai mà có biết, hỡi ai ơi!
  • Thế kỷ 19, Nguyễn Khuyến, Mừng con làm nhà
    Mừng ta con cái thực tài lo,
    Nhà dẫu không to, thế cũng to!
    Mực thước vuông tròn sau cửa Thánh,
    Lửa hương ngào ngạt trước làng Nho.
Ao cá lửa thành
  • ~, Khuyết danh, Bích Câu kỳ ngộ, I
    Đua chen thu cúc, xuân đào,
    Lựu phun lửa hạ, mai chào gió đông.
  • ~, Khuyết danh, Nữ tú tài
    Dễ mà gìn giữ đêm ngày,
    Lửa gần rơm, lỡ sự này biết sao!
  • ~, Khuyết danh, Bần nữ thán
    Buồn trông gương sớm đèn khuya,
    Gương mờ nước thủy, đèn hoe lửa phiền.
Nóng như lửa
  • ~, Khuyết danh, Gia Định thất thủ vịnh
    Mấy dặm Gò Đen - Rạch Kiến, ngọn lửa thiêu sự nghiệp sạch không.
    Đòi nơi Rạch Lá - Gò Công trận gió quét cửa nhà trống rỗng.
  • ~, Thái Duy Thanh, Than thời loạn
    Lửa hồng từ dậy mái thành-đô,
    Đòi chốn lầm-than thủa được thua,
    Xanh biếc thú vui người ẩn-dật,
    Bạc đen đường vẩn khách bôn xu.
  • ~, Học Lạc, Con trâu
    Mắc mưu đốt đít tơi bời chạy,
    Làm lễ bôi chuông nhớn nhác sầu,
Tối lửa tắt đèn
Rát như lửa bỏng
  • 1914, Lê Văn Phúc & Phan Kế Bính, Hưng Đạo vương, Hồi 12
    Đêm hôm ấy quân sĩ đang ở trong trại, bỗng dưng thấy có tiếng ầm ầm, lửa sáng rực cả tứ phía. Các tướng kinh hoảng, dẫn quân ra trại xem làm sao, thì thấy thấp thoáng trong bóng lửa, âm binh, thần tướng kéo ra bạc ngàn man dã, lố nhố những quân đầu trâu mõm ngựa, kẻ gươm người giáo, mặt mũi dữ tợn như hung-thần, đùng đùng kéo cả vào trại.
  • 1915, Phan Kế Bính, Việt Nam phong tục, Hát ả đào
    Truyền lửa là một người đốt một cái đóm tắt đi, rồi lần lượt truyền cái tàn đóm lẫn cho nhau, hễ đến ai mà cái tàn đóm tắt hết thì phải uống một thìa rượu.
  • 1915, Ngô Tiếp, Duyên nợ năm năm
    Ngờ đâu cửa-hầu lại tệ bằng ba, lửa danh-lợi càng cháy hết cương-thường luân-lý!
  • 1917, Phạm Quỳnh, Tàu ngầm tàu lặn
    Bởi vậy chúng tôi lược-dịch trong các sách tây để tóm nhặt lấy những điều yếu-cần về cái lịch-sử, sự chế-tạo, cái nhiệm-vụ, sự hiệu-lực của các thứ tầu ngầm tầu lặn, cho người nước ta biết đại-khái cái tính-cách của một giống cá bể mới, cá phun lửa phun chết, nuốt hàng nghìn con người, nghìn triệu bạc, thực là giống cá riêng của cái đời « siêu văn-minh » này vậy.
Lửa gần dát mặt
  • 1921, Nguyễn Bá Học, Chuyện cô Chiêu Nhì
    Than ôi! nhỡ nhàng một giọt mưa sa, đường cùng thân gái biết là về đâu! Bất đắc dĩ cô gõ cửa một nhà láng giềng cũ, xin ngủ nhờ một tối, sớm mai sẽ nhờ người tìm nơi cho mà đi ở vú. Nhà kia đánh lửa ra mà xem; biết là cô con gái nhà ông mỗ bà mỗ, tủm tỉm mà nói rằng: Con nhà khuê tú, sang trọng đã quen, xưa nay chỉ biết sai người, nay chịu cho người sai sao được. Nhà chúng tôi đây không phải là lữ quán, không dám dung quý nhân ».
Nắng lửa mưa dầu
  • 1925, Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Ngọc, Đặng Đình Phúc & Đỗ Thận, Luân lý giáo khoa thư - Lớp Đồng ấu, Tính nói dối
    Đã nhiều lần nó kêu cháy để đánh lừa người ta mà cười. Một hôm, cha mẹ nó đi vắng, lửa bốc lên cháy nhà. Nó chạy vào trong làng kêu cháy rầm lên. Nhưng người ta tưởng là nó lại nói dối để đánh lừa, cho nên không ai ra cứu. Đến khi biết là cháy thật, thì chữa không kịp nữa.
Bảo tân cứu hỏa
  • 1926, Nguyễn Chánh Sắt, Tài mạng tương đố, Cuốn thứ nhứt
    Khi đem vô tới bực rồi, ai nấy xúm lại coi, mới biết là một nàng con-gái, tuy còn hơi hoi hóp, song đã bất tỉnh nhơn sự rồi. Người trai ấy cũng phải ra sức bồng thẳng lên bờ, những kẻ hảo tâm thấy vậy, liền lấy chiếu trải ra, để nàng nằm êm, lấy rượu cỏ-nhác mà đổ cho nàng, rồi lại rủ nhau vầy lửa xúm hơ, trong giây phút thì nàng ấy mới lần lần tỉnh lại.
  • 1928, Huỳnh Thúc Kháng, Nói điều lỗi của ta là sự may cho ta
    Ngọc có đá mài mà chất mới được sáng, vàng có lửa nung mà tuổi mới được cao, người ở trong đời dầu cho thánh hiền, cũng không sao nói ra là đều phải cả, song có chỗ sai lầm mà không ai chỉ đến, thì trọn đời nằm mãi trong điều sai lầm đó mà không sửa đổi được, nhờ có một hai người lời ngay lẽ thẳng vạch vết chỉ tỳ mà sau mình mới khỏi điều lỗi lầm sơ suất, không phạm đến nữa.
  • 1929, Trần Trung Viên, Phong trần thảm sử, Quyển thứ hai, XVI
    Vu-Hồ soi đèn đi khắp trong nhà ngoài sân, thôi thì nhện chăng bụi bám, cỏ mọc rêu leo, trông cái gì cũng như bể như nát; khi vào đến nhà dưới chỗ thờ ông Lý, bất dác Vu-Hồ quăng cái đèn đang cầm ở tay xuống đất, dầu đổ lênh láng, lửa bốc đỏ vùng, Vu-Hồ cũng ngã theo xuống cạnh đống dầu lửa đang cháy bất tỉnh nhân sự, đầy tớ vội vàng vừa dập lửa vừa kêu làng sóm, các người đổ sang dìu Vu-Hồ lên nhà trên, và cứu tắt lửa, rồi cả các người cùng súm sít xung quanh Vu-Hồ kêu gọi, kẻ dật tóc mai, người bôi nước tiểu, hồi lâu Vu-Hồ mới tỉnh lại, nước mắt đầm đìa như mưa, tỉnh ra lại khóc, khóc rồi lại mê,...
  • 1929, Vũ Văn Cảo, Sà lim oán
    Thảm nhất lúc dao hàn cắt ruột,
    Thảm nhất khi lửa nhiệt đốt da,
    Trông người đã đỏ mắt hoa,
    Mặt mình nào có một ma nào nhìn.
  • 1930, Tân Dân Tử, Gia Long tẩu quốc, Hồi thứ hai mươi sáu
    Con yêu quái ấy cất đầu lên cao hơn ba thước, ngó châm châm đống lửa, rồi le lưởi ra dài hơn mười sải, liếm trên ngọn lửa một cái, và phùng hai mang ra thổi tới nghe tiếng vo vo, lúc bấy giờ lửa lại rần rần cháy lên rất dữ.
Đặt lửa lửa đỏ, đặt cỏ cỏ cháy
  • 1934, Nhất Linh, Anh phải sống, Giết chồng, báo thù chồng
    Bỗng một hôm nhà ông chánh bị cướp vào đốt cháy sạch cả. Khi cướp đã tẩu thoát, ngọn lửa còn rực trời, người nhà không thấy bóng ông chánh, bà chánh và người con dâu, lấy làm lạ đổ xô đi tìm cũng biệt tăm. Người nói bị cướp bắt đi, người đoán chết trong đống lữa
  • 1934, Nguyễn Nhược Pháp, Mây
    Khi thấy muôn nàng tiên
    — Lồng lộng mầu thanh thiên! —
    Véo von trầm tiếng địch,
    Lửa hồng vờn áo xiêm.
  • 1934, Khái Hưng, Nửa chừng xuân, Bên lò sưởi
    Trong lò sưởi ngọn lửa đỏ tươi vui vùn vụt bốc lên. Bụi than văng lấm tấm như hoa, tiếng củi cháy lách tách reo vui. Hạnh phúc như bao bọc, như âu yếm hai tâm hồn khoáng đoạt, đã siêu thoát ra ngoài vòng tư tưởng nặng nề, u ám.
Châu-chấu thấy đỏ lửa thì đến
  • 1935, Phan Bội Châu, Vô đề
    Dân khổ bao nhiêu đau bấy nhiêu,
    Nước kia ai đắm, lửa ai thiêu?
    Trơ trơ thế mãi, trơ trơ mãi,
    Hạn lụt còn lưa, lại cái nghèo!
  • 1936, Hàn Mặc Tử, Quả dưa
    Ánh nắng lao xao trên đọt tre
    Gió nam như lửa bốc tư bề
    Môi khô chưa nếm mùi son phấn
    Khao khát, trời ơi, bụm nước khe.
  • 1936, Ngô Tất Tố, Tắt đèn, I
    Cảnh tượng điếm tuần thình lình hiện ra trong ánh lửa lập lòe của chiếc mồi rơm bị thổi.
  • ~, Thạch Lam, Bóng người xưa
    Trong lò xưởi, trên một đám than hồng; ngọn lửa nhẩy múa reo cái vui lách tách của củi khô, mặc bên ngoài gió lạnh và mưa bụi của mùa đông. Một hơi nóng tỏa ra, thấm dần vào mọi vật trong căn phòng nhỏ. Ấm cúng quá! Không còn gì thú hơn được ngồi bên lò sưởi mà nghĩ những chuyện vẩn vơ.
Nhà giầu ngày ăn ba bữa, nhà khó đỏ lửa ba lần
  • 1939, Phan Khôi, Bà Hỏa
    Bởi vậy, phép chữa mía cháy, người ta phải dùng những cây sào chặn những hàng mía chưa cháy nằm rạp xuống, để ngọn lửa đi đến đó là hết, không có chỗ liếm qua.
Vào bếp xin lửa
  • 1940, Tôn Nữ Thu Hồng, Êm đềm
    Ai có như em, một ấu thời?
    Đi tìm bướm bắt để nuôi chơi,
    Búp bê đem tắm hơ cho ấm,
    Lửa bén vèo! Thôi, cháy mất rồi!
  • 1941, Nam Cao, Dì Hảo
    Ai tin những điều ấy thì được rỗi linh hồn, bằng ai chẳng tin, thì phải xuống địa ngục đầy lửa sinh, lửa diêm, có tiếng khóc lóc và nghiến răng. Tiếng khóc lóc và nghiến răng ken két, thì dì không sợ lắm. Hồi còn ở nhà, em dì khóc nhè nhè suốt ngày; những hôm nó nóng đầu, thì đêm ngủ nó nghiến răng ken két; quen đi thì cũng không sợ gì, nhưng dì sợ lửa sinh, lửa diêm nó thiêu đốt người ta đời đời kiếp kiếp.
  • 1942, Hồ Chí Minh, Nhóm lửa
    Mưa lún phún, lửa càng nóng nảy,
    Gió càng cao, ngọn lửa càng cao.
    Núi rừng đều bén, cháy ào ào,
    Lửa nung đỏ, cả giời sáng toé.
Lửa muôn xe, nước một gáo
  • 1944, Lý Đông A, Chính khí Việt
    Chính khí Việt là hồn gươm Vạn Thắng,
    Sắt tôi với máu đào hun lửa nóng,
    Và Đại Việt muôn năm ! cả toàn dân
    Vượt đau nhục lên sống còn hùng tráng
  • 1944, Nhượng Tống, Tựa thơ Đỗ Phủ
    Di đi! Dập đi! Tưới nước vào!
    Ngọn lửa thiêng càng thêm sáng tỏ!
    Ai ơi! Lửa thiêng xin cứ giữ.
    Lệ nóng, máu tim nuôi lấy nó!
Giữ lửa
  • 1963, Phạm Tiến Duật, Bếp lửa nhà mình
    Ngọn lửa ơi, lòng lửa tốt vô cùng
    Lửa sinh ra người, lửa sinh ra trái tim rực cháy
    Lửa làm bóng tối xa ra và mặt người gần lại
    Ngọn lửa nào thân bằng lửa bếp, bạn bè ơi![1]
  • 1963, Bằng Việt, Bếp lửa
    Rồi sớm rồi chiều, lại bếp lửa bà nhen,
    Một ngọn lửa, lòng bà luôn ủ sẵn,
    Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng...[2]
  • 1971, Lưu Quang Vũ, Mấy đoạn thơ về lửa
    Nhưng lửa của tình yêu khi tức giận
    Sẽ ra tro mọi lồng cũi mọi ngai vàng
    Và những tên bạo chúa khôn ngoan
    Hết ảo tưởng thôi van xin chờ đợi
    Lửa sẽ bừng lên tự soi sáng cho mình.[3]

Tiếng Anh

[sửa]
Ngọn lửa bị kìm nén chặt nhất sẽ bùng cháy dữ dội nhất. ~ Shakespeare
  • 1515, Hugh Latimer, chép trong Foxe's Book of Martyrs
    Be of good comfort, Master Ridley, and play the man! We shall this day light such a candle, by God's grace, in England, as I trust shall never be put out.
    Hãy vững lòng, ngài Ridley, hãy thể hiện bản lĩnh! Nhờ ơn Chúa, hôm nay chúng ta sẽ thắp lên một ngọn nến ở nước Anh mà ta tin rằng sẽ không bao giờ tắt.
  • 1557, Thomas More, A Dyaloge Concerning Heresyes
    They lepe lyke a flounder out of a fryenge panne into the fyre.
    Nhảy như cá bơn từ chảo rán xuống đống lửa
Đứa trẻ bị bỏng sẽ sợ lửa ~ Ben Jonson
  • 1616, Ben Jonson, The Devil Is an Ass
    Be funk i the pot; and hold your new laid egg
    Against the fire, leſt any charm be writ there?[8]
    Hãy giữ trứng mới đẻ trong nồi;
    áp nó vào lửa, kẻo bùa chú nào viết đó chăng?
  • 1651, George Herbert, Jacula Prudentum
    A crooked log makes a straight fire.[9]
    Khúc củi cong vênh tạo ra ngọn lửa thẳng.
Lửa nuốt ta, nhưng ta là lửa ~ Jorge Luis Borges
  • 1776, Thomas Gray, Elegy Written in a Country Churchyard
    Perhaps in this neglected spot is laid
    Some heart once pregnant with celestial fire;
    Hands, that the rod of empire might have sway'd,
    Or wak'd to extasy the living lyre.
    Có lẽ một vật được vùi lấp ở nơi bị bỏ quên này
    Một trái tim từng tràn nhiệt huyết lửa thiêng;
    Đôi tay từng nắm quyền trượng bao la,
    Hay chìm đắm trong tiếng đàn sống động.
  • 1782, William Cowper, Boadicea: An Ode
    Such the bard's prophetic words,
    Pregnant with prophetic fire,
    Bending as he swept the chords
    Of his sweet but awful lyre.
    Lời tiên tri thi sĩ,
    Mang ngọn lửa tiên tri,
    Uốn cong lướt hợp âm
    Đàn lia ngọt ngào đáng sợ.
  • 1903, Harry Roberts, Tramp's Hand-book
    Whether fire was first procured for man through a daring theft practiced on the gods by some hero of antiquity, or whether, as the Sioux Indians allege, it originated in the sparks struck from the rocks by a panther as he bounded up the side of a hill, its value has been obvious to every human tribe, and there has existed no race within the time of which we have record or tradition to whom fire has been unknown.
    The part which it has played in man's history is beyond power of narration, and the immensity of this part is only made obvious as we become conscious of the psychological atavism which occurs as we sit by the fragrant wood-fire of gipsy or other roadside traveller. All the stuffiness of houses and the pettiness of modern gentility fade away, and we are borne back to times many centuries past, when our ancestors—who are ourselves—sat round just such a fire and watched the blue or purple smoke, "lark without song," float upward, carrying the fragrance of ash or holly to the nostrils of the gods.[11]
    Dù lửa được con người tìm thấy lần đầu qua vụ trộm táo bạo của anh hùng cổ đại giữa các vị thần, hay như thần thoại Sioux rằng bắt nguồn từ những tia lửa bắn ra từ đá khi một con báo nhảy lên sườn đồi, lửa có giá trị hiển nhiên với mọi thị tộc, không chủng tộc nào mà có ghi chép hay truyền miệng mà lại không nhắc đến lửa.
    Vai trò lửa trong lịch sử loài người vượt quá khả năng diễn tả, và tầm quan trọng to lớn ấy chỉ trở nên rõ ràng khi hồi quy tâm lý chúng ta ngồi bên đống lửa cháy đượm của người du mục hoặc lữ hành dọc đường. Tất cả nỗi ngột ngạt nhà cửa và nhỏ nhen của lối sống hiện đại đều tan biến, chúng ta được trở lại thời kỳ nhiều thế kỷ trước, khi ngồi vào vị trí của tổ tiên quanh đống lửa như vậy và ngắm nhìn làn khói xanh hoặc tím, "chim sơn ca không hót" bay lên, mang theo khói tần bì hoặc ô rô đến mũi các vị thần.
  • 1917, Joyce Kilmer, Main Street and other poems, The Proud Poet
    It is stern work, it is perilous work, to thrust your hand in the sun
    And pull out a spark of immortal flame to warm the hearts of men:
    But Prometheus, torn by the claws and beaks whose task is never done,
    Would be tortured another eternity to go stealing fire again.
    Thật khó khăn và nguy hiểm khi đưa tay đón ánh mặt trời
    để rút ra tia lửa bất diệt sưởi ấm lòng người:
    Nhưng Prometheus bị móng vuốt xé nát liên hồi kỳ trận
    sẽ chịu đựng thêm đời đời để lại trộm lửa lần nữa.
Ngọn lửa cháy rực làm mọi thứ ném vào nó bùng lửa và tỏa sáng. ~ Marcus Aurelius[12]
  • 1970, Arthur Guirdham, The Cathars & Reincarnation
    The pain of those wicked flames was not half so bad as the pain I felt when I knew he was dead. I felt suddenly glad to be dying. I didn't know when you were burnt to death you'd bleed. I thought the blood would all dry up in the terrible heat. But I was bleeding heavily. The blood was dripping and hissing in the flames. I wished I had enough blood to put the flames out. The worst part was my eyes. I hate the thought of gong blind. It's bad enough when I'm awake but in dreams you can't shake the thoughts away. They remain. In this dream I was going blind. I tried to close my eyelids but I couldn't. They must have been burnt off, and now those flames were going to pluck my eyes out with their evil fingers, I didn't want to go blind. The flames weren't so cruel after all. They began to feel cold. Icy cold. It occurred to me that I wasn't burning to death but freezing to death.[16]
    Nỗi đau từ lửa không bằng một nửa so với khi ta biết chàng đã chết. Ta bỗng cảm thấy vui vì mình sắp chết. Ta không biết khi bị thiêu sống thì lại chảy máu. Ta nghĩ máu sẽ cạn khô trong cái nóng khủng khiếp đó. Nhưng ta chảy máu rất nhiều. Máu nhỏ giọt và rít lên trong lửa. Ta ước mình có đủ máu để dập tắt lửa. Tệ nhất là đôi mắt. Ta ghét ý nghĩ bị mù. Khi tỉnh thì đã rất tệ rồi, nhưng trong giấc mơ càng không thể xua đuổi ý nghĩ đó đi được. Chúng vẫn còn mãi. Ta đang dần mù trong mơ. Ta gắng nhắm mắt nhưng không thể. Chúng chắc hẳn đã bị thiêu rụi, ngọn lửa giơ ngón tay độc ác móc mắt ta, ta không muốn bị mù. Lửa hóa ra không tàn nhẫn đến thế. Nó bắt đầu trở nên lạnh lẽo. Lạnh như băng. Ta chợt nhận ra mình không bị thiêu sống mà là chết cóng.
  • 1978, Frankie Beverly & ban nhạc Maze, ca khúc I Need You
    Like the fire needs the air
    I won't burn unless you're there, you're there[17]
    Giống như lửa cần không khí,
    tôi sẽ không cháy nếu không có bạn ở bên
Đốt là một cái thú. ~ Ray Bradbury[15]
  • 2011, Ludovico Cademartiri
    This is quite different from blowing air on the flame... When you blow on the flame, you generate flow outside the flame and you push air into this flame. In our case, we generate this flow within the flame.[18]
    Điều này hoàn toàn khác với việc thổi khí vào ngọn lửa... Khi thổi vào lửa, bạn tạo ra luồng khí bên ngoài và đẩy khí vào bên trong ngọn lửa. Còn chúng tôi tạo ra luồng khí này bên trong ngọn lửa.
  • 2024, Roz Dineen, Briefly Very Beautiful
    In a good fire, every single thing is moving. Nothing is still. This is how Nature goes. Watch the sea, look into it: nothing is still down there. Slow down, to tree time, and watch the growth of a leaf, or the growth of a child. In terms of the pattern of its relentless movement, fire is only living, sped up.[20]
    Trong đám cháy lớn, mọi thứ đều chuyển động. Không có gì đứng yên. Đó là cách tự nhiên vận hành. Hãy quan sát biển cả, nhìn xuống lòng biển: dưới đó không có gì đứng yên cả. Hãy chậm lại, sống theo nhịp điệu cây cối, quan sát chiếc lá phát triển hay đứa trẻ lớn lên. Xét về quy luật chuyển động không ngừng nghỉ, lửa chỉ là sự sống được đẩy nhanh hơn mà thôi.

Tiếng Do Thái

[sửa]
...ngó về hướng Sô-đôm và Gô-mô-rơ, cùng khắp xứ ở đồng bằng, thì thấy từ dưới đất bay lên một luồng khói, như khói của một lò lửa lớn. - Sáng thế 19:28
Bài chi tiết: Cựu Ước
  • וַיְהִ֤י הַשֶּׁ֙מֶשׁ֙ בָּ֔אָה וַעֲלָטָ֖ה הָיָ֑ה וְהִנֵּ֨ה תַנּ֤וּר עָשָׁן֙ וְלַפִּ֣יד אֵ֔שׁ אֲשֶׁ֣ר עָבַ֔ר בֵּ֖ין הַגְּזָרִ֥ים הָאֵֽלֶּה׃ (בראשית טו)
    Khi mặt trời đã lặn, thình-lình sự tối-mịt giáng xuống; kìa, có một lò lớn khói lên, và một ngọn lửa loè ngang qua các xác-thịt đã mổ. (Sáng thế ký 15:17)
  • לֹֽא־יָמִ֞ישׁ עַמּ֤וּד הֶֽעָנָן֙ יוֹמָ֔ם וְעַמּ֥וּד הָאֵ֖שׁ לָ֑יְלָה לִפְנֵ֖י הָעָֽם׃ (שמות יג)
    Ban ngày trụ mây chẳng bao giờ cách xa dân-sự, trụ lửa ban đêm cũng vậy. (Xuất Ai Cập ký 13:22)
  • וְהִקְטִיר֥וֹ הַכֹּהֵ֖ן הַמִּזְבֵּ֑חָה לֶ֥חֶם אִשֶּׁ֖ה לַיהֹוָֽה׃ (ויקרא ג)
    Thầy tế-lễ sẽ xông các món đó trên bàn-thờ; ấy là thực-vật về của-lễ dùng lửa dâng cho Đức Giê-hô-va. (Lêvi ký 3:11)
  • כׇּל־דָּבָ֞ר אֲשֶׁר־יָבֹ֣א בָאֵ֗שׁ תַּעֲבִ֤ירוּ בָאֵשׁ֙ וְטָהֵ֔ר אַ֕ךְ בְּמֵ֥י נִדָּ֖ה יִתְחַטָּ֑א וְכֹ֨ל אֲשֶׁ֧ר לֹֽא־יָבֹ֛א בָּאֵ֖שׁ תַּעֲבִ֥ירוּ בַמָּֽיִם׃ (במדבר לא)
    tức là mọi vật đưa vào lửa được, thì các ngươi phải đưa ngang qua lửa đặng luyện nó; nhưng người ta cũng phải dùng nước tẩy-uế mà làm cho nó được sạch nữa. Còn mọi vật chi không đưa qua lửa được, thì phải ngâm nó trong nước. (Dân số ký 31:23)
  • כִּי־אֵשׁ֙ קָדְחָ֣ה בְאַפִּ֔י
    וַתִּיקַ֖ד עַד־שְׁא֣וֹל תַּחְתִּ֑ית  וַתֹּ֤אכַל אֶ֙רֶץ֙ וִֽיבֻלָ֔הּ
    וַתְּלַהֵ֖ט מוֹסְדֵ֥י הָרִֽים׃ (דברים לב)
    Vì có lửa nổi phừng trong cơn giận ta,
    Cháy cho đến đáy sâu âm-phủ,
    Thiêu-nuốt đất và thổ-sản,
    Cùng cháy đốt nền các núi.
    (Phục truyền luật lệ ký 32:22)
...là Đấng đi trước dẫn các ngươi trên đường, để tìm cho các ngươi một nơi đóng trại; ban đêm trong đám lửa, ban ngày trong đám mây, đặng chỉ con đường các ngươi phải đi. - Phục truyền 1:33
  • וְהָיָה֙ הַנִּלְכָּ֣ד בַּחֵ֔רֶם יִשָּׂרֵ֣ף בָּאֵ֔שׁ אֹת֖וֹ וְאֶת־כׇּל־אֲשֶׁר־ל֑וֹ כִּ֤י עָבַר֙ אֶת־בְּרִ֣ית יְהֹוָ֔ה וְכִֽי־עָשָׂ֥ה נְבָלָ֖ה בְּיִשְׂרָאֵֽל׃ (יהושע ז)
    Gai-gốc đáp cùng các cây-cối rằng: Nếu bởi lòng chơn-thật mà các ngươi muốn xức dầu ta làm vua các ngươi, thì hãy đến núp dưới bóng ta; bằng không, nguyện lửa ra từ gai và thiêu-nuốt cây bá-hương Li-ban đi! (Giôsuê 7:15)
  • וַיֹּ֣אמֶר הָאָטָד֮ אֶל־הָעֵצִים֒ אִ֡ם בֶּאֱמֶ֣ת אַתֶּם֩ מֹשְׁחִ֨ים אֹתִ֤י לְמֶ֙לֶךְ֙ עֲלֵיכֶ֔ם בֹּ֖אוּ חֲס֣וּ בְצִלִּ֑י וְאִם־אַ֕יִן תֵּ֤צֵא אֵשׁ֙ מִן־הָ֣אָטָ֔ד וְתֹאכַ֖ל אֶת־אַרְזֵ֥י הַלְּבָנֽוֹן׃ (שופטים ט)
    Người nào bị chỉ ra là kẻ có của đáng diệt đó, sẽ bị thiêu nơi lửa, cùng các món thuộc về người; vì người đã bội giao-ước của Đức Giê-hô-va, và phạm sự xấu-hổ trong Y-sơ-ra-ên. (Các Quan Xét 9:15)
  • עָלָ֤ה עָשָׁן֙ בְּאַפּ֔וֹ וְאֵ֥שׁ מִפִּ֖יו תֹּאכֵ֑ל  גֶּחָלִ֖ים בָּעֲר֥וּ מִמֶּֽנּוּ׃ (שמואל ב כב)
    Khói bay ra từ lỗ mũi Ngài,
    Và từ miệng Ngài phát ra ngọn lửa hực.
    Ngài khiến than hừng đỏ phun ra,
    (II Samuên 22:9)
  • וַתִּפֹּ֣ל אֵשׁ־יְהֹוָ֗ה וַתֹּ֤אכַל אֶת־הָעֹלָה֙ וְאֶת־הָֽעֵצִ֔ים וְאֶת־הָאֲבָנִ֖ים וְאֶת־הֶֽעָפָ֑ר וְאֶת־הַמַּ֥יִם אֲשֶׁר־בַּתְּעָלָ֖ה לִחֵֽכָה׃ (מלכים א יח)
    Lửa của Đức Giê-hô-va bèn giáng xuống, thiêu-đốt của-lễ thiêu, củi, đá, bụi, và rút nước trong mương. (I Vua 18:38)
  • וּכְכַלּ֤וֹת שְׁלֹמֹה֙ לְהִתְפַּלֵּ֔ל וְהָאֵ֗שׁ יָֽרְדָה֙ מֵֽהַשָּׁמַ֔יִם וַתֹּ֥אכַל הָעֹלָ֖ה וְהַזְּבָחִ֑ים וּכְב֥וֹד יְהֹוָ֖ה מָלֵ֥א אֶת־הַבָּֽיִת׃ (דברי הימים ב ז)
    Khi Sa-lô-môn cầu-nguyện xong, lửa từ trời giáng xuống đốt của-lễ thiêu và các hi-sinh, sự vinh-quang của Đức Giê-hô-va đầy-dẫy trong đền. (II Sử ký 7:1)
Người đốt đuốc, thả chó rừng vào trong lúa mì của dân Phi-li-tin. Như vậy, người đốt lúa mì đã bó cùng lúa mì chưa gặt, và các vườn ô-li-ve. - Quan 15:5
  • וָאֵצְאָ֨ה בְשַֽׁעַר־הַגַּ֜יְא לַ֗יְלָה וְאֶל־פְּנֵי֙ עֵ֣ין הַתַּנִּ֔ין וְאֶל־שַׁ֖עַר הָאַשְׁפֹּ֑ת וָאֱהִ֨י שֹׂבֵ֜ר בְּחוֹמֹ֤ת יְרוּשָׁלַ֙͏ִם֙ אֲשֶׁר־[הֵ֣ם ׀ פְּרוּצִ֔ים] המפרוצים וּשְׁעָרֶ֖יהָ אֻכְּל֥וּ בָאֵֽשׁ׃ (נחמיה ב)
    Ban đêm tôi ra nơi cửa Trũng, đối ngang suối chó rừng, và đến cửa phân, xem-xét các vách-thành của Giê-ru-sa-lem bị hư-nát, và các cửa nó bị lửa thiêu-đốt. (Nêhêmi 2:13)
  • גַּ֤ם א֣וֹר רְשָׁעִ֣ים יִדְעָ֑ךְ
    וְלֹא־יִ֝גַּ֗הּ שְׁבִ֣יב אִשּֽׁוֹ׃ (איוב יח)
    Thật ánh-sáng kẻ ác sẽ tắt đi,
    Ngọn lửa của hắn không chói nữa.
    (Gióp 18:5)
  • כְּאֵ֥שׁ תִּבְעַר־יָ֑עַר
    וּ֝כְלֶהָבָ֗ה תְּלַהֵ֥ט הָרִֽים׃ (תהלים פג)
    Lửa thiêu-đốt rừng,
    Lửa ngọn cháy núi thể nào,
    (Thi Thiên 83:14)
  • בְּאֶ֣פֶס עֵ֭צִים תִּכְבֶּה־אֵ֑שׁ
    וּבְאֵ֥ין נִ֝רְגָּ֗ן יִשְׁתֹּ֥ק מָדֽוֹן׃ (משלי כו)
    Lửa tắt tại thiếu củi;
    Khi chẳng có ai thèo-lẻo cuộc tranh-cạnh bèn nguôi.
    (Châm ngôn 26:20)
  • שִׂימֵ֨נִי כַֽחוֹתָ֜ם עַל־לִבֶּ֗ךָ כַּֽחוֹתָם֙ עַל־זְרוֹעֶ֔ךָ כִּֽי־עַזָּ֤ה כַמָּ֙וֶת֙ אַהֲבָ֔ה קָשָׁ֥ה כִשְׁא֖וֹל קִנְאָ֑ה רְשָׁפֶ֕יהָ רִשְׁפֵּ֕י אֵ֖שׁ שַׁלְהֶ֥בֶתְיָֽה׃ (שיר השירים ח)
    Hãy để tôi như một cái ấn nơi lòng chàng,
    Như một cái ấn trên cánh tay chàng;
    Vì ái-tình mạnh như sự chết,
    Lòng ghen hung-dữ như Âm-phủ;
    Sự nóng nó là sự nóng của lửa,
    Thật một ngọn lửa của Đức Giê-hô-va.
    (Nhã Ca 8:6)
Lửa thánh tại Jerusalem
  • הִנֵּ֨ה הָי֤וּ כְקַשׁ֙ אֵ֣שׁ שְׂרָפָ֔תַם לֹא־יַצִּ֥ילוּ אֶת־נַפְשָׁ֖ם מִיַּ֣ד לֶהָבָ֑ה אֵין־גַּחֶ֣לֶת לַחְמָ֔ם א֖וּר לָשֶׁ֥בֶת נֶגְדּֽוֹ׃ (ישעיהו מז)
    Kìa, họ sẽ trở nên như rơm-rạ, bị lửa thiêu-đốt; họ sẽ chẳng cứu mình được khỏi quyền ngọn lửa; lửa ấy chẳng phải lửa than để sưởi, hay là lửa để ngồi kề một bên. (Êsai 47:14)
  • וּפָקַדְתִּ֧י עֲלֵיכֶ֛ם כִּפְרִ֥י מַעַלְלֵיכֶ֖ם נְאֻם־יְהֹוָ֑ה וְהִצַּ֤תִּי אֵשׁ֙ בְּיַעְרָ֔הּ וְאָכְלָ֖ה כׇּל־סְבִיבֶֽיהָ׃ (ירמיהו כא)
    Đức Giê-hô-va phán: Ta sẽ phạt các ngươi theo quả của việc làm các ngươi; ta sẽ đốt lửa trong rừng nó, lửa sẽ nuốt hết mọi vật ở chung-quanh nó. (Giêrêmi 21:14)
  • עוֹרֵ֙נוּ֙ כְּתַנּ֣וּר נִכְמָ֔רוּ מִפְּנֵ֖י זַלְעֲפ֥וֹת רָעָֽב׃ (איכה ה)
    Da chúng tôi nóng như lò lửa,
    Vì cơn đói thiêu-đốt chúng tôi!
    (Ca Thương 5:10)
  • הִנֵּ֥ה לָאֵ֖שׁ נִתַּ֣ן לְאׇכְלָ֑ה אֵת֩ שְׁנֵ֨י קְצוֹתָ֜יו אָכְלָ֤ה הָאֵשׁ֙ וְתוֹכ֣וֹ נָחָ֔ר הֲיִצְלַ֖ח לִמְלָאכָֽה׃ (יחזקאל טו)
    Nầy, nó bị ném vào lửa để làm củi, khi lửa đã thiêu hai đầu, và khúc giữa cũng cháy, thì còn dùng được việc gì? (Êxêchiên 15:4)
  • וּ֠מִֽתְכַּנְּשִׁ֠ין אֲחַשְׁדַּרְפְּנַיָּ֞א סִגְנַיָּ֣א וּפַחֲוָתָא֮ וְהַדָּבְרֵ֣י מַלְכָּא֒ חָזַ֣יִן לְגֻבְרַיָּ֣א אִלֵּ֡ךְ דִּי֩ לָֽא־שְׁלֵ֨ט נוּרָ֜א בְּגֶשְׁמְה֗וֹן וּשְׂעַ֤ר רֵֽאשְׁהוֹן֙ לָ֣א הִתְחָרַ֔ךְ וְסַרְבָּלֵיה֖וֹן לָ֣א שְׁנ֑וֹ וְרֵ֣יחַ נ֔וּר לָ֥א עֲדָ֖ת בְּהֽוֹן׃ (דניאל ג)
    Các quan trấn-thủ, lãnh-binh, các người cai-trị và các nghị-viên của vua đều nhóm lại, thấy lửa không có quyền làm hại thân-thể ba người ấy được, cũng chẳng có một sợi tóc nào trên đầu họ bị sém; áo-xống họ chẳng bị si-sứt chút nào, và mùi lửa cũng chẳng qua trên họ. (Đaniên 3:27)
Còn ba người, Sa-đơ-rắc, Mê-sác, A-bết-Nê-gô, vẫn bị trói mà rơi vào giữa lò lửa hực. - Đaniên 3:23
  • כֻּלָּם֙ מְנָ֣אֲפִ֔ים כְּמ֣וֹ תַנּ֔וּר בֹּעֵ֖רָה מֵאֹפֶ֑ה יִשְׁבּ֣וֹת מֵעִ֔יר מִלּ֥וּשׁ בָּצֵ֖ק עַד־חֻמְצָתֽוֹ׃ (הושע ז)
    Hết thảy chúng nó đều tà-dâm, giống như lò của người nướng bánh đốt lửa, thôi chụm lửa từ khi nhồi bột cho đến chừng bột dậy men. (Ôsê 7:4)
  • אֵלֶ֥יךָ יְהֹוָ֖ה אֶקְרָ֑א כִּ֣י אֵ֗שׁ אָֽכְלָה֙ נְא֣וֹת מִדְבָּ֔ר וְלֶ֣הָבָ֔ה לִהֲטָ֖ה כׇּל־עֲצֵ֥י הַשָּׂדֶֽה׃ (יואל א)
    Hỡi Đức Giê-hô-va, tôi kêu-cầu Ngài; vì lửa đã nuốt những đám cỏ nơi đồng vắng, ngọn lửa đã thiêu hết thảy cây-cối ngoài đồng! (Giôên 1:19)
  • כֹּ֤ה הִרְאַ֙נִי֙ אֲדֹנָ֣י יֱהֹוִ֔ה וְהִנֵּ֥ה קֹרֵ֛א לָרִ֥ב בָּאֵ֖שׁ אֲדֹנָ֣י יֱהֹוִ֑ה וַתֹּ֙אכַל֙ אֶת־תְּה֣וֹם רַבָּ֔ה וְאָכְלָ֖ה אֶת־הַחֵֽלֶק׃ (עמוס ז)
    Chúa Giê-hô-va cho ta xem thấy như sau nầy: Nầy, Chúa Giê-hô-va khiến lấy lửa mà chống-trả. Lửa ấy thiêu-nuốt vực lớn, đoạn hầu ăn-nuốt đất. (Amốt 7:4)
  • וְהָיָה֩ בֵית־יַעֲקֹ֨ב אֵ֜שׁ וּבֵ֧ית יוֹסֵ֣ף לֶהָבָ֗ה וּבֵ֤ית עֵשָׂו֙ לְקַ֔שׁ וְדָלְק֥וּ בָהֶ֖ם וַאֲכָל֑וּם וְלֹֽא־יִֽהְיֶ֤ה שָׂרִיד֙ לְבֵ֣ית עֵשָׂ֔ו כִּ֥י יְהֹוָ֖ה דִּבֵּֽר׃ (עובדיה א)
    Nhà Gia-cốp sẽ là lửa, và nhà Giô-sép sẽ là ngọn lửa; nhà Ê-sau sẽ là đống rơm, mà chúng nó sẽ đốt và thiêu đi. Nhà Ê-sau sẽ không còn sót chi hết; vì Đức Giê-hô-va đã phán vậy. (Áp-đia 1:18)
  • וְנָמַ֤סּוּ הֶֽהָרִים֙ תַּחְתָּ֔יו וְהָעֲמָקִ֖ים יִתְבַּקָּ֑עוּ כַּדּוֹנַג֙ מִפְּנֵ֣י הָאֵ֔שׁ כְּמַ֖יִם מֻגָּרִ֥ים בְּמוֹרָֽד׃ (מיכה א)
    Các núi sẽ tan-chảy dưới Ngài, các trũng sẽ chia-xé; như sáp ở trước lửa, như nước chảy xuống dốc. (Michê 1:4)
Bụi gai cháy
  • שָׁ֚ם תֹּאכְלֵ֣ךְ אֵ֔שׁ תַּכְרִיתֵ֣ךְ חֶ֔רֶב תֹּאכְלֵ֖ךְ כַּיָּ֑לֶק הִתְכַּבֵּ֣ד כַּיֶּ֔לֶק הִֽתְכַּבְּדִ֖י כָּאַרְבֶּֽה׃ (נחום ג)
    Tại đó lửa sẽ thiêu ngươi, gươm sẽ diệt ngươi, nuốt ngươi như cào-cào vậy, ngươi khá nhóm lại đông như cào-cào, nhiều như châu-chấu! (Nahum 3:15)
  • הֲל֣וֹא הִנֵּ֔ה מֵאֵ֖ת יְהֹוָ֣ה צְבָא֑וֹת וְיִֽיגְע֤וּ עַמִּים֙ בְּדֵי־אֵ֔שׁ וּלְאֻמִּ֖ים בְּדֵי־רִ֥יק יִעָֽפוּ׃ (חבקוק ב)
    Phải, ấy há chẳng phải bởi Đức Giê-hô-va vạn-quân mà các dân làm việc cho lửa, và các nước nhọc-nhằn cho sự hư-không hay sao? (Habacúc 2:13)
  • גַּם־כַּסְפָּ֨ם גַּם־זְהָבָ֜ם לֹא־יוּכַ֣ל לְהַצִּילָ֗ם בְּיוֹם֙ עֶבְרַ֣ת יְהֹוָ֔ה וּבְאֵשׁ֙ קִנְאָת֔וֹ תֵּאָכֵ֖ל כׇּל־הָאָ֑רֶץ כִּֽי־כָלָ֤ה אַךְ־נִבְהָלָה֙ יַעֲשֶׂ֔ה אֵ֥ת כׇּל־יֹשְׁבֵ֖י הָאָֽרֶץ׃ (צפניה א)
    Hoặc bạc hoặc vàng của chúng nó, đều không có thể giải-cứu chúng nó trong ngày thạnh-nộ của Đức Giê-hô-va; nhưng cả đất nầy sẽ bị lửa ghen Ngài thiêu-nuốt; vì Ngài sẽ diệt hết dân-cư đất nầy cách thình-lình. (Sôphôni 1:18)
  • הִנֵּ֤ה אֲדֹנָי֙ יֽוֹרִשֶׁ֔נָּה וְהִכָּ֥ה בַיָּ֖ם חֵילָ֑הּ וְהִ֖יא בָּאֵ֥שׁ תֵּאָכֵֽל׃ (זכריה ט)
    Nầy, Chúa sẽ cất lấy của-cải nó, xô quyền-thế nó xuống biển, nó sẽ bị lửa thiêu-nuốt. (Xachari 9:4)
  • כִּֽי־הִנֵּ֤ה הַיּוֹם֙ בָּ֔א בֹּעֵ֖ר כַּתַּנּ֑וּר וְהָי֨וּ כׇל־זֵדִ֜ים וְכׇל־עֹשֵׂ֤ה רִשְׁעָה֙ קַ֔שׁ וְלִהַ֨ט אֹתָ֜ם הַיּ֣וֹם הַבָּ֗א אָמַר֙ יְהֹוָ֣ה צְבָא֔וֹת אֲשֶׁ֛ר לֹא־יַעֲזֹ֥ב לָהֶ֖ם שֹׁ֥רֶשׁ וְעָנָֽף׃ (מלאכי ג)
    Vì nầy, ngày đến, cháy như lò lửa. Mọi kẻ kiêu-ngạo, mọi kẻ làm sự gian-ác sẽ như rơm-cỏ; Đức Giê-hô-va vạn-quân phán: Ngày ấy đến, thiêu-đốt chúng nó, chẳng để lại cho chúng nó hoặc rễ hoặc nhành. (Malachi 4:1)

Tiếng Hy Lạp

[sửa]
Ngọn lửa Thế vận hội
  • Thế kỷ 19, Ioannis Vilaras, Σαν πεταλούδα στη φωτιά
    Σαν πεταλούδα στη φωτιά, σ' εσένα γύρες φέρω
    κι οχ τη φωτιά που καίγομαι να φύγω δεν ηξέρω.
    Như thiêu thân lao vào lửa, em bay đến bên anh,
    ôi, lửa thiêu đốt mà em không biết làm sao để thoát ra.
  • Thế kỷ 20, Tellos Agras, Χριστούγεννα
    Ὄξω πέφτει ἀδιάκοπα καὶ πυκνὸ τὸ χιόνι,
    κρύα καὶ κατασκότεινη κι ἀγριωπὴ ἡ νυχτιά.
    Εἶναι ἡ στέγη ὁλόλευκη, γέρνουν ἄσπροι κλῶνοι,
    μὲς τὸ τζάκι ἀπόμερα ξεψυχᾶ ἡ φωτιά...
    Bên ngoài, tuyết dày đặc chẳng ngừng rơi,
    đêm lạnh lẽo, tối tăm và khắc nghiệt.
    Mái nhà trắng xóa, cành cây nghiêng ngả,
    lửa lò sưởi xa xa đang lụi dần...
  • 1933, Constantine P. Cavafy, Εις τα περίχωρα της Αντιοχείας
    Κι ωραία τωόντι πρόκοψε το τέμενος.
    Δεν άργησε καθόλου, και φωτιά
    μεγάλη κόρωσε: μια φοβερή φωτιά:
    και κάηκε και το τέμενος κι ο Απόλλων.
    Ngôi đền rực rỡ chẳng bao lâu.
    Thì bùng lên ngọn lửa lớn
    Trận hỏa hoạn khiếp kinh:
    thiêu rụi cả đền lẫn thần Apollo.

Kinh Thánh Tân Ước

[sửa]
Lò sưởi đêm Giáng Sinh
Bài chi tiết: Tân Ước
  • ὥσπερ οὖν συλλέγεται τὰ ζιζάνια καὶ πυρὶ κατακαίεται, οὕτως ἔσται ἐν τῇ συντελείᾳ τοῦ αἰῶνος τούτου. (Κατά Ματθαίον)
    Còn người ta nhổ cỏ lùng mà đốt trong lửa thể nào, thì ngày tận-thế cũng sẽ như vậy; (Mathiơ 13:40)
  • πᾶς γὰρ πυρὶ ἁλισθήσεται, καὶ πᾶσα θυσία ἁλὶ ἁλισθήσεται. (Κατά Μάρκον)
    Vì mỗi người sẽ bị muối bằng lửa. (Mác 9:49)
  • Πῦρ ἦλθον βαλεῖν εἰς τὴν γῆν, καὶ τί θέλω εἰ ἤδη ἀνήφθη; (Κατά Λουκάν)
    Ta đã đến quăng lửa xuống đất; nếu cháy lên rồi, ta còn ước-ao chi nữa! (Luca 12:49)
  • ἐὰν μή τις μείνῃ ἐν ἐμοί, ἐβλήθη ἔξω ὡς τὸ κλῆμα, καὶ ἐξηράνθη, καὶ συνάγουσιν αὐτὰ καὶ εἰς πῦρ βάλλουσι, καὶ καίεται. (Κατά Ιωάννην)
    Nếu ai chẳng cứ ở trong ta thì phải ném ra ngoài, cũng như nhánh nho; nhánh khô đi, người ta lượm lấy, quăng vào lửa, thì nó cháy. (Giăng 15:6)
  • καὶ δώσω τέρατα ἐν τῷ οὐρανῷ ἄνω, καὶ σημεῖα ἐπὶ τῆς γῆς κάτω, αἷμα καὶ πῦρ καὶ ἀτμίδα καπνοῦ· (Πράξεις των Αποστόλων)
    Ta lại sẽ tỏ ra sự lạ-lùng ở trên trời,
    Và dấu lạ ở dưới đất;
    Tức là máu, lửa, và luồng khói;
    (Công vụ 2:19)
Các môn-đồ thấy lưỡi rời-rạc từng cái một, như lưỡi bằng lửa hiện ra, đậu trên mỗi người trong bọn mình. - Công vụ 2:3
  • ἐὰν οὖν πεινᾷ ὁ ἐχθρός σου, ψώμιζε αὐτόν· ἐὰν διψᾷ, πότιζε αὐτόν· τοῦτο γὰρ ποιῶν, ἄνθρακας πυρὸς σωρεύσεις ἐπὶ τὴν κεφαλὴν αὐτοῦ. (Προς Ρωμαίους)
    Vậy nếu kẻ thù mình có đói, hãy cho ăn; có khát, hãy cho uống; vì làm như vậy, khác nào mình lấy những than lửa đỏ mà chất trên đầu người. (Rôma 12:20)
  • ἑκάστου τὸ ἔργον φανερὸν γενήσεται· ἡ γὰρ ἡμέρα δηλώσει, ὅτι ἐν πυρὶ ἀποκαλύπτεται· καὶ ἑκάστου τὸ ἔργον ὁποῖόν ἐστι τὸ πῦρ δοκιμάσει. (Προς Κορινθίους Α')
    thì công-việc của mỗi người sẽ bày-tỏ ra. Ngày đến sẽ tỏ-tường công-việc đó; nó sẽ trình ra trong lửa, và công-việc của mỗi người đáng giá nào, lửa sẽ chỉ ra. (I Côrinhtô 3:13)
  • ἐπὶ πᾶσιν ἀναλαβόντες τὸν θυρεὸν τῆς πίστεως, ἐν ᾧ δυνήσεσθε πάντα τὰ βέλη τοῦ πονηροῦ τὰ πεπυρωμένα σβέσαι· (Προς Εφεσίους)
    Lại phải lấy thêm đức-tin làm thuẫn, nhờ đó anh em có thể dập tắt được các tên lửa của kẻ dữ. (Êphêsô 6:16)
  • καὶ ὑμῖν τοῖς θλιβομένοις ἄνεσιν μεθ’ ἡμῶν, ἐν τῇ ἀποκαλύψει τοῦ Κυρίου Ἰησοῦ ἀπ’ οὐρανοῦ μετ’ ἀγγέλων δυνάμεως αὐτοῦ, (Προς Θεσσαλονικείς Β')
    và cho anh em, là kẻ chịu khổ, được nghỉ-ngơi với chúng tôi, trong khi Đức Chúa Jêsus từ trời hiện đến với các thiên-sứ của quyền-phép Ngài, giữa ngọn lửa hừng, (II Têsalônica 1:7)
Lửa chẳng hề tắt
  • καὶ ἡ γλῶσσα πῦρ, ὁ κόσμος τῆς ἀδικίας· οὕτως ἡ γλῶσσα καθίσταται ἐν τοῖς μέλεσιν ἡμῶν, ἡ σπιλοῦσα ὅλον τὸ σῶμα, καὶ φλογίζουσα τὸν τροχὸν τῆς γενέσεως, καὶ φλογιζομένη ὑπὸ τῆς γεέννης. (Ιακώβου)
    Cái lưỡi cũng như lửa; ấy là nơi đô-hội của tội-ác ở giữa các quan-thể chúng ta, làm ô-uế cả mình, đốt cháy cả đời người, chính mình nó đã bị lửa địa-ngục đốt cháy. (Giacơ 3:6)
  • ἵνα τὸ δοκίμιον ὑμῶν τῆς πίστεως πολὺ τιμιώτερον χρυσίου τοῦ ἀπολλυμένου, διὰ πυρὸς δὲ δοκιμαζομένου, εὑρεθῇ εἰς ἔπαινον καὶ τιμὴν καὶ δόξαν ἐν ἀποκαλύψει Ἰησοῦ Χριστοῦ· (Πέτρου Α')
    hầu cho sự thử-thách đức-tin anh em quí hơn vàng hay hư-nát, dầu đã bị thử lửa, sanh ra ngợi-khen, tôn-trọng, vinh-hiển cho anh em khi Đức Chúa Jêsus-Christ hiện ra. (I Phierơ 1:7)
  • οἱ δὲ νῦν οὐρανοὶ καὶ ἡ γῆ τῷ αὐτοῦ λόγῳ τεθησαυρισμένοι εἰσί, πυρὶ τηρούμενοι εἰς ἡμέραν κρίσεως καὶ ἀπωλείας τῶν ἀσεβῶν ἀνθρώπων. (Πέτρου Β')
    Nhưng trời đất thời bây giờ cũng là bởi lời ấy mà còn lại, và để dành cho lửa; lửa sẽ đốt nó đi trong ngày phán-xét và hủy-phá kẻ ác. (II Phierơ 3:7)
  • οἱ δὲ νῦν οὐρανοὶ καὶ ἡ γῆ τῷ αὐτοῦ λόγῳ τεθησαυρισμένοι εἰσί, πυρὶ τηρούμενοι εἰς ἡμέραν κρίσεως καὶ ἀπωλείας τῶν ἀσεβῶν ἀνθρώπων. (Πέτρου Β')
    hãy cứu-vớt những kẻ kia, rút họ ra khỏi lửa; còn đối với kẻ khác, hãy có lòng thương lẫn với sợ, ghét cả đến cái áo bị xác-thịt làm ô-uế. (Giuđe 1:23)
  • καὶ εἴ τις οὐχ εὑρέθη ἐν τῇ βίβλῳ τῆς ζωῆς γεγραμμένος, ἐβλήθη εἰς τὴν λίμνην τοῦ πυρός. (Αποκάλυψις Ιωάννου)
    Kẻ nào không được biên vào sách sự sống đều bị ném xuống hồ lửa. (Khải Huyền 20:15)

Tiếng Latinh

[sửa]
Ngọn lửa bùng lên từ tia lửa nhỏ
  • Thế kỷ 1 TCN, Ovidius, Metamorphoses (Biến thể) cuốn XV, câu 871-2
    Iamque opus exegi, quod nec Iovis ira nec ignis
    nec poterit ferrum nec edax abolere vetustas.
    Và bây giờ tôi đã hoàn thành một tác phẩm mà sự giận dữ của Jupiter, lửa đỏ và gươm sắc, và những cái răng thích gặm nhấm của thời gian, sẽ không bao giờ có thể hủy hoại.[21]
  • Thế kỷ 1 TCN, Cicero, Epistulae ad Familiares, IX
    quasi aurum igni, sic benevolentia fidelis periculo aliquo perspici possit,
    Như vàng trong lửa , lòng nhân ái của người trung thành có thể thấy trong mọi hiểm nguy.
  • Thế kỷ 1 TCN, Horace, Epistulae, Liber I, XVIII
    Nam tua res agitur, paries cum proximus ardet,
    et neglecta solent incendia sumere uires.
    Vì cẩn thận tài sản ngươi khi nhà hàng xóm cháy
    đám cháy bỏ quên thường bùng lên dữ dội
  • Thế kỷ 1, Seneca, De providentia, V
    Ignis aurum probat, miseria fortes uiros.
    Lửa thử vàng, khổ đau thử lòng gan dạ.

Tiếng Pháp

[sửa]
Đống lửa thánh Gioan của Charles Cottet năm 1901
  • 1925, Joseph Kessel, Les Cœurs purs
    La bouffée des braises pénétrait le visiteur et la chatte de la même tiédeur animale. Sans un mot, Marie Lvovna les regardait se chauffer. Enfin l'homme tressaillit.
    – Pardon, dit-il, j'avais oublié.[22]
    Hơi ấm từ than hồng cùng bao trùm cả người khách và con mèo. Không nói một lời, Marie Lvovna quan sát họ sưởi ấm. Cuối cùng, người đàn ông giật mình.
    "Xin lỗi," ông nói, "Tôi quên mất."
  • 1937, André Breton, L'Amour fou
    Comme tout s'embellit à la lueur des flammes ! Le moindre débris de verre trouve moyen d'être à la fois bleu et rose. De ce palier supérieur du Teide où l'œil ne découvre plus la moindre herbe, où tout pourrait être si glacé et si sombre, je contemple jusqu'au vertige tes mains ouvertes au-dessus du feu de brindilles que nous venons d'allumer et qui fait rage, tes mains enchanteresses, tes mains transparentes qui planent sur le feu de ma vie.[23]
    Mọi thứ trở nên đẹp hơn biết bao dưới ánh lửa! Mảnh kính nhỏ nhất cũng ánh lên sắc xanh hồng. Từ cao nguyên Teide này, nơi mắt không còn nhìn thấy cọng cỏ nào, nơi mọi thứ có thể lạnh lẽo và tối tăm đến nhường nào, tôi ngắm nhìn đến khi xây sẩm: đôi bàn tay em hơ trên củi lửa mà chúng ta vừa nhóm đang bùng cháy dữ dội, đôi bàn tay quyến rũ của em, đôi bàn tay trong suốt như đang lơ lửng trên ngọn lửa đời tôi.

Tiếng Trung

[sửa]
Chữ Hỏa
  • Thế kỷ 2, Trần Lâm, 為袁紹檄豫州文 (Thảo Tào hịch văn - Phan Kế Bính dịch)
    雷震虎步,並急虜廷,若舉炎火以炳飛蓬,覆滄海以沃熛炭,有何不滅者哉?
    Sấm vang, hổ nhảy đến cả tổ giặc, khác gì cầm bó lửa đốt mớ bòng bong, dốc nước bể tưới đống tro tàn, còn cái gì không bị tiêu diệt?
  • Thế kỷ 11, Vương An Thạch, 遊褒禪山記 (Bài ký sự Chơi núi Bao Thiền - Phan Kế Bính dịch)
    方是時,予之力尚足以入,火尚足以明也。既其出,則或咎其欲出者,而予亦悔其隨之,而不得極乎遊之樂也。
    Khi đó sức ta còn có thể đi được, lửa cũng còn sáng, lại theo người đi ra, ta hối vì theo người ra mà không được thỏa hết cuộc vui vậy.
Hỏa hoạn Quảng Châu năm 1822
  • Thế kỷ 17, Lâm Tự Hoàn, 口技 (Trò miệng - Phan Khôi dịch)
    忽一人大呼“火起”,夫起大呼,婦亦起大呼。兩兒齊哭。俄而百千人大呼,百千兒哭,百千犬吠。中間力拉崩倒之聲,火爆聲,呼呼風聲,百千齊作;又夾百千求救聲,曳屋許許聲,搶奪聲,潑水聲。
    Thình lình một người la to lên: "Lửa! Lửa!" Người chồng dậy, la to, người vợ cũng dậy và la to, hai đứa bé đều khóc. Tức thì có cả trăm cả ngàn người la to, cả trăm cả ngàn đứa bé khóc, cả trăm cả ngàn con chó sủa. Trong đó, những tiếng xô đổ ngã nhào, tiếng lửa nổ, tiếng gió ào ào, cả trăm cả ngàn đều dấy lên; luôn với những tiếng cả trăm cả ngàn người kêu cứu, tiếng hè hè kéo mái nhà xuống, tiếng cướp giựt, tiếng tạt nước vào, phàm tiếng gì đáng có trong lúc cháy nhà là đều có cả.
  • 1794, Hoàng Nham, 嶺南逸史, 第018回 (Lĩnh Nam dật sử, Hậu biên, Hồi thứ XVIII - Nguyễn Hữu Tiến dịch)
    左思右想,無計可施,含著淚,走起身來,向火爍場團團走了一回。見殘窗剩瓦,滿地縱橫,灶冷煙消,一無所有,淒淒匣惶又哭了一會。
    một mình biết nghĩ sao bây giờ, nghĩ quanh nghĩ quẩn không biết nghĩ kế sao; bèn phải nhịn khóc đứng dậy đi quanh chỗ tro tàn khói lửa, thì chỉ thấy cột tàn sà cháy, đầy đất ngổn ngang; bếp đổ khói xông, không còn gì cả; trong lòng bâng-khuâng thê-thảm lại khóc một hồi;
Cách mạng Tân Hợi năm 1911
  • 1933, Lỗ Tấn, (Lửa - Phan Khôi dịch)
    煤油應當扛到田地裡去,灌進噴筒,呼啦呼啦的噴起來……一場大火,幾十里路的延燒過去,稻禾,樹木,房舍——尤其是草棚——一會兒都變成飛灰了。
    Dầu hỏa nên đưa đến trong đồng ruộng, rót vào ống thụt, ỳ ục ỳ ục thụt ra... một đám lửa lớn, cháy lan mấy mươi dặm, lúa má, cây cối, nhà cửa - nhất là túp tranh - cháy trong một lát ra tro bay.

Xem thêm

[sửa]

Tham khảo

[sửa]
  1. ^ Phạm Tiến Duật, “Bếp lửa nhà mình”, Bảo tàng Văn học Việt Nam, lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 10 năm 2025, truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2026
  2. ^ “Bếp lửa”, Thi viện, 11 tháng 2 năm 2005, lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 12 năm 2025, truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2026
  3. ^ “Mấy đoạn thơ về lửa”, Thi viện, 24 tháng 4 năm 2006, lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 8 năm 2025, truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2026
  4. ^ John Lyly (1868), Edward Arber (biên tập), Euphues. The anatomy of wit. Editio princeps, 1579. Euphues and his England. Editio princeps, 1580. Collated with early subsequent editions (bằng tiếng Anh Trung cổ), Birmingham, tr. 5
  5. ^ Philip Sidney (1724), The Works of the Honourable Sir Philip Sidney, Kt., in Prose and Verse (bằng tiếng Anh Trung cổ) (ấn bản 14), E. Taylor, A. Bettesworth, E. Curll, W. Mears, and R. Gosling, tr. 453
  6. ^ Tuyển tập tác phẩm William Shakespeare, Dương Tường dịch vở Entơni và Cliơpat'rơ, Hà Nội: Nhà xuất bản Sân khấu; Trung tâm Văn hoá Ngôn ngữ Đông Tây, 2006, tr. 720Quản lý CS1: khác (liên kết)
  7. ^ John Marston (1607), What You Will (bằng tiếng Anh Trung cổ), tr. A2
  8. ^ Ben Jonson (1756), Peter Whalley (biên tập), The Works of Ben. Jonson: The devil is an ass. The staple of news. The new inn; or, The light heart. The magnetic lady; or, Humours reconciled (bằng tiếng Anh Trung cổ), D. Midwinter, tr. 38
  9. ^ George Herbert (1651), Jacula Prudentum (bằng tiếng Anh Trung cổ), tr. 3
  10. ^ “Paradise Lost - Thiên Đường Đánh Mất – John Milton – Bản dịch tiếng Việt”, Blog Lịch Sử, lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 9 năm 2025, truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2026
  11. ^ Harry Roberts (1903), Tramp's Hand-book (bằng tiếng Anh), Lane, tr. 75
  12. ^ “Danh ngôn về Nghịch cảnh - Marcus Aurelius”, Từ điển danh ngôn, lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 3 năm 2023, truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2026
  13. ^ United States Armed Forces Institute (1942), War Department Education Manual (bằng tiếng Anh), tr. 690
  14. ^ Ray Bradbury (2003), Fahrenheit 451 (bằng tiếng Anh), Simon and Schuster, tr. 118, ISBN 9780743247221
  15. ^ 15,0 15,1 Ray Bradbury (2015), 451 độ F, Dick Trương biên dịch, Nhà xuất bản Văn học
  16. ^ Arthur Guirdham (1970), The Cathars & Reincarnation (bằng tiếng Anh), Spearman, tr. 89, ISBN 9780854352906
  17. ^ “I Need You”, Genius (bằng tiếng Anh), lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 12 năm 2021, truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2026
  18. ^ “Beams of Electricity Zap Fires”, ABC News (bằng tiếng Anh), 2 tháng 4 năm 2011, lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 7 năm 2023, truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2026
  19. ^ “You Want It Darker”, Leonard Cohen Files (bằng tiếng Anh), 21 tháng 10 năm 2016, lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 7 năm 2025, truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2026
  20. ^ Roz Dineen (2024), Briefly Very Beautiful (bằng tiếng Anh), Bloomsbury Publishing, tr. 313, ISBN 9781526659156
  21. ^ Ovide (2019). Biến thể. Quế Sơn dịch. Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh. 
  22. ^ Joseph Kessel (1927), Les Cœurs purs (bằng tiếng Pháp), Gallimard, tr. 187
  23. ^ André Breton (1937), L'amour fou (bằng tiếng Pháp), Gallimard, tr. 108
  24. ^ Hồ Chí Minh Toàn tập - Tập 3, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật, 2011, tr. 585

Liên kết ngoài

[sửa]