Bước tới nội dung

Sách

Bộ sưu tập danh ngôn mở Wikiquote
Trong nền văn minh cao nhất, sách vẫn là niềm vui sướng tột bậc. Ai từng biết đến sự thỏa mãn với sách sẽ có cả một nguồn lực chống lại tai ương. ~ Ralph Waldo Emerson

Sách là một loạt các tờ giấy có chữ hoặc hình ảnh được viết tay hay in ấn, được buộc hoặc dán với nhau về cùng một phía. Mở rộng ra nếu sách chỉ bao gồm thông tin ở dạng điện tử để xem trên một thiết bị có màn hình thì được gọi là sách điện tử hoặc e-book.

Trích dẫn

[sửa]

Tiếng Việt

[sửa]
  • Thế kỷ 13, Trần Hưng Đạo, Hịch tướng sĩ
    汝等或能專習是書 受余教誨 是夙世之臣主也
    或暴棄是書 違余教誨 是夙世之仇讎也
    Nhữ đẳng hoặc năng chuyên tập thị thư, thụ dư giáo hối, thị túc thế chi thần chủ dã;
    Hoặc bạo khí thị thư, vi dư giáo hối, thị túc thế chi cừu thù dã.
    Phan Kế Bính dịch:
    Vậy nên có quyển thư này,
    Truyền cho các tướng đêm ngày chuyên coi.
    Nếu biết nghĩ mà noi nhời bảo,
    Ấy thầy trò hòa hảo một nhà.
    Ví dù trái bỏ nhời ta,
    Dẫu trong tôi tớ cũng ra cừu thù
    Trần Trọng Kim dịch:
    Nếu các ngươi biết chuyên-tập sách này, theo lời dạy-bảo, thì mới phải đạo thần-tử; nhược bằng khinh bỏ sách này, trái lời dạy-bảo, thì tức là kẻ nghịch-thù.
    Ngô Tất Tố dịch:
    Nếu các ngươi biết chuyên-tập sách ấy, nghe lời dạy-bảo của ta, ấy là duyên thầy trò kiếp xưa; Nếu các ngươi bỏ bê sách ấy, trái lời dạy-bảo của ta, ấy là mối cựu thù kiếp xưa,
  • Thế kỷ 15, Nguyễn Trãi, Bảo kính cảnh giới, LVII
    Đọc sách thì thông đòi nghĩa sách ;
    Đem dân mựa nữa mất lòng dân.
    Của chăng phải đạo làm chi nữa ;
    Muôn kiếp nào hề lụy đến thân.
  • 1547?, Nguyễn Dữ, Truyền kỳ mạn lục, 4 (Ngô Văn Triện dịch)
    Song thiên-tri cao-mại, học-vấn rộng-rãi, phàm sách-vở văn-chương cổ kim, không cái gì là không thiệp-liệp.
  • Thế kỷ 16, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Bạch Vân gia huấn, X
    Bài thứ mười khuyên cần đọc sách,
    Sách là thầy dạy mách cho ta.
    Bao điều đạo lý sâu xa,
    Văn minh khoa học bao la đất trời.
    Ham đọc sách thì trời chẳng phụ.
    Có chí bền ắt sẽ làm nên.
  • Thế kỷ 18, Nguyễn Du, Truyện Kiều, câu 7-8
    稿𦹳吝󰇾𠓀畑
    風情固錄群傳史撑
    Cảo thơm lần giở trước đèn,
    Phong tình có lục còn truyền sử xanh.
  • Thế kỷ 19, quốc ca Đăng đàn cung
    Kìa... núi vàng bể bạc,
    sách Trời, sách Trời, định phần:
    Một dòng ta gầy non song vững-chặt.
  • Thế kỷ 19, Nguyễn Công Trứ, Hàn nho phong vị phú
    Đồ cổ khí bức tranh treo trên vách, khói bay lem luốc, màu thủy mặc mờ mờ,
    Của tiểu đồng pho sách gác đầu giàn, gián nhắp lăm nhăm, dấu thổ châu đo đỏ.
  • Thế kỷ 19, Tuy Lý vương, Hòa Lạc ca
    Nửa bình trà một và cuốn sách,
    Người tương-tri là khách tri âm.
    Khói tùng, lông thỏ âm-thầm,
    Mỉa-mai Lý Quách, sướng-ngâm Mạnh Hàn.
  • ~, Khuyết danh, Bích Câu kỳ ngộ, I
    Đã người trong sách là duyên,
    Mấy thu hạt ngọc Lam-điền chưa giâm.
  • ~, Khuyết danh, Phan Trần, câu 141-2
    Một đèn, một sách, một mình,
    Bướm ong khuất nẻo, én anh khuây đường.
  • ~, Khuyết danh, Nhị độ mai, câu 9-10
    Danh thơm muôn kiếp còn ghi,
    Để gương trong sách, tạc bia dưới đời.
  • ~, Nguyễn Bá Học, Văn chương
    Ngày nay học-trò phải có tư-tưởng cho cao, tập luận-nghị cho rộng; phải đọc những sách có kinh luân trong xã-hội, phải bàn những chuyện có can hệ đến nước nhà, để ngày sau có thể đem học vấn suy ra việc làm. Còn những lối ngâm hoa vịnh nguyệt, dù hay cho quỷ khóc thần kinh, cũng không đáng một đồng tiền kẽm.
  • 1911, Phan Châu Trinh, Các kiến nghị vắn tắt do Roux dịch chuyển cho bộ trưởng thuộc địa và Sarraut
    Mấy năm gần đây, dân chúng An Nam rất xôn xao: những quy định ở Đông Dương cấm nhiều thứ sách Trung Hoa vì cho rằng những sách ấy kích động dân chúng căm ghét Chính phủ Pháp. Nhưng người ta đã không thấy được là tất cả những sách ấy đều có ích cho dân; như là các sách Âu châu cũng như sách Pháp đã được dịch sang tiếng Trung Hoa và cũng nhờ có các sách ấy mà những người biết chữ Nho được mở mang trí tuệ. Người ta cũng lại không nhận ra rằng: nếu triệt bỏ những sách ấy thì mọi người sẽ nghĩ rằng Chính phủ muốn để dân An Nam ngu tối và rằng do Nhà nước đã lập trường học tiếng Pháp nên loại trừ các sách Trung Hoa.
  • 1913, Phan Bội Châu, Vì sao Long Tế Quang bắt tôi hạ ngục?... (Đào Trinh Nhất dịch)
    Chiếc bóng bơ vơ trời biển, ngọn đèn leo lét gió mưa, ta thấm giọt lệ còn lưu lại mấy chục năm nay, gom góp lịch-sử một đời ta, hòa với máu mà viết ra tập sách này. Hỡi 3 ngàn muôn đồng bào chí-ái chí thân, dầu ai biết lòng ta chăng? dầu ai buộc tội ta chăng? khi đọc tập sách này, sẽ thấy giọt máu hầu khô, vẫn còn đầm đìa ở trên mặt tờ giấy vậy.
  • 1917, Phạm Quỳnh, Luận-thuyết
    Nay thử hỏi các nhà tây-học nước ta, sau khi đọc xong một quyển sách hay bằng chữ Pháp, sách văn-chương hay sách nghị-luận, sách tiểu-thuyết hay sách nhàn-đàm, thì cái cảm-giác ra làm sao ? Tất ai ai cũng từng nhận rằng cái cảm-giác ấy có nhẹ-nhàng mà thiết-thực, thơm-tho mà mặn-mà ; cái hương, cái sắc, cái điệu, cái tình nó có một vẻ thiên-nhiên mà đườm-nhuận, thanh-tao mà đậm-đà, thực xưa nay ta chưa từng được hưởng biết bao giờ.
  • 1917, Nguyễn Tấn Hưng, Huấn ấu ca
    Đều chi cho bằng thảo lành,
    Làm đầu trăm nết rành rành sách biên.
  • 1918, Phan Kế Bính, Việt Hán văn khảo
    Ta xem trong sách, nghe những nhời nghị luận của các bậc thánh-hiền, xem những bài trước tác của các nhà văn-sĩ, câu thơ đoạn phú, khúc hát điệu ca, tươi như hoa, đẹp như gấm, vui như tiếng đàn tiếng địch, vang như tiếng khánh tiếng chuông, làm cho vui tai ta, sướng dạ ta, gọi là văn-chương của loài người.
  • 1918, Hoàng Tăng Bí, Việt Hán văn khảo ra đời
    Những người thích văn-chương và muốn làm văn-chương, phần nhiều người đương ước ao được một quyển sách nói về nghề văn-chương để làm người dẫn đường chỉ lối cho mình trong cái nghề rất tao-nhã và rất khó khăn này.
  • 1921, Đặng Trần Phất, Cành hoa điểm tuyết, Đoạn thứ nhất, VI
    Phu-nhân chẳng biết làm sao, đành phải chịu, mợ thì chỉ nghĩ về buôn bán mà thôi, cậu thì vẫn đâu ra đấy, sách một nơi, bụng một chỗ, ngồi gần sách, nhưng sách là mợ, ngồi gần mợ tức cũng là học sách. Mợ là quyển sách bùa mê của cậu.
  • 1921, Nguyễn Mạnh Bổng, Vì nghĩa quên tình, Chuyện đêm xuân
    Trên một cái gác cao ở phố Gia-long trông ra đường, bốn bề kín cửa. Ba gian rộng-rãi, theo lối cổ xưa, giữa kê một cái bàn ngang, chồng-chất sách Tây sách Tầu, báo mới báo cũ, truyện cổ truyện kim, nào sách triết-học, sách chính-trị, nào báo quốc-văn, báo ngoại-quốc, nào tiểu-thuyết nôm, tiểu-thuyết các nước; dĩa nghiên lọ mực, ống bút hộp ghim, tập giấy viết thư, bể đựng danh-thiếp, ngọn đèn Tây trùm cái « a-ba-dua » ngũ-sắc in vào gác, nhìn thấy thế cũng biết ngay rằng chủ-nhân là một nhà văn-học ở nước Việt-Nam trong buổi đời này.
  • 1924, Đào Trinh Nhất, Thế lực khách trú và vấn đề di dân vào Nam kỳ
    Quyển sách này ra đời, nếu như có được một vài ý-kiến nào khả thủ, có ích cho đồng-bào, mà được bạn tri-thức trong nước khen, thì tiếng khen ấy tôi với ông cùng hưởng; nếu như là ý-kiến chưa nhằm, nghị-luận chưa xác, mà phải có người chê, thì tiếng chê ấy, tôi với ông ta cùng chịu.
  • 1924, Ngô Đức Kế, Luận về chánh học cùng tà thuyết
    « Kim vân Kiều » là sách gì? Chưa nói đến sự tích thiệt không, chưa kể văn chương hay dở, chỉ nhắc đến cái tên sách thì nghe đã không thể nào ngửi được; vì sao thế? Phàm bộ truyện nào, dầu trong có bao nhiêu nhân vật mặc lòng, chỉ là một người làm chủ nhân: sự tích là sự tích một người chủ nhân ấy, thì tên sách cũng theo đó mà gọi. Nay truyện ấy là sự tích cô Vương-thúy Kiều, mà tên sách đặt ba người: một người thì lấy chữ họ mà mất tên, hai người thì lấy chữ tên mà mất họ, thì thiệt là dốt vô cùng. Cái tên ấy, chắc là tự nhà khắn bản in đặt ra, chứ ông Nguyễn Du chắc không đặt tên dốt như thế?
  • 1928, Phan Khôi, Cấm sách, sách cấm
    Một cuốn sách, in ra cốt để bán, cũng như con người có chơn để đi xứ nọ xứ kia. Nay ví phỏng an trí một người nào ở một nơi mà không cho đi đâu, thì người ấy tức là người có tội rồi, mà trước khi an trí đó, tòa án phải tuyên minh tội trạng của người ấy. Cấm một cuốn sách mà không cho bán, cũng vậy, cũng nên tuyên minh tội trạng của nó.
  • 1929, Nguyễn Tính Yên, Làm thế nào?
    Phải có thật nhiều sách vở để truyền-bá tư-tưởng mới, học-thuật mới, chủ-nghĩa mới, nói tắc lại là « Chủ-nghĩa Duy-Tân ».
  • 1930, Dương Quảng Hàm, Quốc văn trích diễm, 45
    Sang bên ấy ông [Lê Quý Đôn] kiếm được nhiều sách' lạ xem: sách cổ, sách kim, sách Tàu và cả sách ngoại quốc nữa. Ông học lực đã thâm, lại kiến văn rộng, lịch duyệt nhiều, nên khi ông về nước soạn ra rất nhiều sách:
  • 1931, Diệp Văn Kỳ & Phan Khôi, Văn chương và văn chương của nhà báo
    Chúng tôi nói chưa vội, là vì chữ quốc ngữ của chúng ta ngày nay còn phân vân, chưa nhứt định, chưa có sách mẹo cùng các sách khác thuộc về phép làm văn, thì bước thứ nhứt là phải do chúng ta lập cái nền quốc văn cho vững chãi đã, rồi mới nói đến cái hay cái đẹp được; nghĩa là trước hết chúng ta phải tập viết văn cho đúng mẹo, cho thông. Hễ đã đúng mẹo, đã thông, rồi mới nhơn đó mà lập thành sách mẹo tiếng Việt Nam và lại nhơn đó lần lần làm ra các sách dạy phép làm văn, luyện đến cái hay cái đẹp, mà thành ra một nền văn chương Việt Nam vậy.
  • ~, Hàn Mặc Tử, Tài hoa
    Chiều vàng hơn tấm lụa
    Sách đọc thấy tâm bào
    Bóng Nường chưa mất hút
    Tiếng hát còn thanh tao
  • 1943, Lê Văn Trương, Hai hào
    Đây tiền đây, con đem đi mà mua sách nhưng đi mua ngay đi, khéo thầy con biết thì lại lấy mua thuốc phiện mất.
  • 1938, Thạch Lam, Cuốn sách bỏ quên
    Thật ra, sách không bán chạy chưa phải chứng tỏ rằng chàng không có tài; nhiều nhà văn nổi tiếng khắp hoàn cầu lúc mới đầu chẳng bị thiên hạ bỏ quên và hững hờ là gì.
  • 1939, Huỳnh Thúc Kháng, Một cái bệnh dịch trong làng văn nên cùng nhau sớm tìm thuốc chữa
    Ngày nay học chữ Tây, chữ Quốc ngữ, trẻ con ôm vở vào trường, đã có quyển sách chữ in rõ ràng, kẻ lớn muốn học sách gì mua được sách ấy. Đời Hán học xưa, quyển sách không phải vật dễ kiếm, chính sách Tứ truyện Ngũ kinh mà không mấy nhà nho đủ, nhà nghèo lại không trơn; người học chỉ mượn những quyển sách bìa rách chữ mòn mà sao tay
  • 1939, Nam Trân, Tôi và ta
    Bạn ta: Suốt một đời chỉ
    Đọc những sách thường và biết
    Đâu sách Tạo vật nhiệm mầu! Ta, ta quyết
    Quên những bài ta học từ xưa
    Những câu mà ngày trước ta say sưa...
  • 1940, Ngô Tất Tố, Phê bình Nho giáo Trần Trọng Kim, II
    Vì thế, tôi ngờ chữ « thư » đời cổ chỉ có nghĩa là sách, không phải là tên riêng của một thứ sách. Nhưng chỉ ngờ vậy, hiện nay tôi chưa có thêm bằng chứng, chưa dám nói quyết là đích như thế.
  • 1940, Tôn Nữ Thu Hồng, Êm đềm
    Cũng có nhiều đêm, gió rít vang,
    Mẹ em ốm nặng thức trong màn,
    Em ngồi mơ sách người xưa ước,
    Nếu có thì em cũng ước tràn.
  • 1944, Nam Cao, Sống mòn, Phần I
    Thế rồi xách một chiếc ghế và một quyển sách ra hiên, y chúi mũi vào sách, học...
  • 1944, Phan Văn Hùm, Vương Dương Minh, Phần nhì, VI-7
    Đọc sách chỉ cốt là cho hiểu được. Cần gì cốt cho nhớ được? Hiểu được đã là cái nghĩa thứ hai của phép đọc sách rồi. Tất là đọc sách phải cầu sao cho rõ được bổn thể của tự mình.

Tiếng Anh

[sửa]
Những cuốn sách dài thường bị quá khen vì độc giả muốn thuyết phục người khác và chính mình rằng họ đã không phí thời gian. - E. M. Forster
  • 1583, Edward Coke, Spencer's Case
    Observe reader your old books, for they are the fountains out of which these resolutions issue.[2]
    Hãy quan sát những cuốn sách cũ của ngươi, vì chúng chính là nguồn gốc đưa ra những quyết định này.
  • 1625, Francis Bacon, Of Studies
    Some books are to be tasted, others to be swallowed, and some few to be chewed and digested; that is, some books are to be read only in parts; others to be read, but not curiously; and some few to be read wholly, and with diligence and attention.
    Một số sách chỉ nên nếm thử, một số khác nên nuốt, và một số ít nên nhai và tiêu hóa: nghĩa là, một số sách chỉ nên đọc từng phần, một số khác nên đọc nhưng không nên tò mò vào đó, còn một số ít sách nên đọc toàn bộ, chú tâm và siêng năng.
  • 1809, Byron, English Bards, and Scotch Reviewers
    'Tis pleasant, sure, to see one's name in print;
    A Book's a Book, altho' there's nothing in't.
    Thật thú vị khi thấy tên mình được in ra;
    Sách vẫn là sách, dù chẳng có gì trong đó.
  • 1810, George Crabbe, The Borough
    Books cannot always please, however good;
    Minds are not ever craving for their Food.[4]
    Sách không phải lúc nào cũng làm hài lòng, dù hay đến đâu;
    Tâm trí chẳng bao giờ thèm đồ ăn.
  • 1820, Charles Caleb Colton, Lacon
    Many books require no thought from those who read them, and for a very simple reason; they made no such demand upon those who wrote them.[5]
    Nhiều sách không đòi hỏi người đọc phải suy nghĩ, vì lý do rất đơn giản; chúng không yêu cầu người viết phải suy nghĩ.
  • 1835, Thomas Babington Macaulay, thư gửi Ellis
    What a blessing it is to love books as I love them;- to be able to converse with the dead, and to live amidst the unreal![6]
    Thật là phước hạnh khi yêu sách như anh yêu chúng; - có thể trò chuyện với người đã mất, và chìm đắm trong thế giới phi thực!
  • 1838, William Ellery Channing, Self-culture : an address introductory to the Franklin lectures, delivered at Boston, September, 1838
    God be thanked for books. They are the voices of the distant and the dead, and make us heirs of the spiritual life of past ages. Books are the true levellers. They give to all, who will faithfully use them, the society, the spiritual presence of the best and greatest of our race.[7]
    Tạ ơn Chúa về sách. Chúng là tiếng nói của những người xa xôi và người đã khuất, và giúp chúng ta thừa kế đời sống tinh thần những thế hệ đã qua. Sách là công cụ san bằng thực sự. Chúng mang đến cho tất cả những ai trung thành sử dụng chúng, cho xã hội, sự hiện diện tinh thần của những con người tuyệt vời nhất và vĩ đại nhất của nhân loại.
  • 1839, Philip James Bailey, Festus
    Worthy books
    Are not companions — they are solitudes:
    We lose ourselves in them and all our cares.[8]
    Sách giá trị
    không phải là bạn đồng hành—mà là sự cô đơn:
    Chúng ta đánh mất chính mình và mọi quan tâm vào trong đó.
  • 1844, Edward Bulwer-Lytton, Ernest Maltravers Or The Eleusinia
    ...books are but waste-paper, unless we spend in action the wisdom we get from thought.[10]
    Sách chỉ phí giấy nếu chúng ta không hành động theo những hiểu biết mà tư tưởng mang lại.[11]
  • 1856, Elizabeth Barrett Browning, Aurora Leigh, First Book
    Books, books, books!
    I had found the secret of a garret-room
    Piled high with cases in my father’s name;
    Piled high, packed large,—where, creeping in and out
    Among the giant fossils of my past,
    Like some small nimble mouse between the ribs
    Of a mastodon, I nibbled here and there
    At this or that box, pulling through the gap,
    In heats of terror, haste, victorious joy,
    The first book first. And how I felt it beat
    Under my pillow, in the morning’s dark,
    An hour before the sun would let me read!
    My books!
    At last, because the time was ripe,
    I chanced upon the poets.
    Sách, sách, sách!
    Ta tìm thấy bí mật căn phòng áp mái
    Chất cao những chiếc hộp mang danh phụ thân;
    Chất cao, đóng gói lớn,—nơi, bò ra bò vào
    Giữa hóa thạch khổng lồ thời quá khứ,
    Như chuột nhỏ lanh lẹn giữa những xương sườn
    Của voi ma mút, Ta gặm nhấm chỗ này chỗ kia
    Vào hộp này hộp khác, kéo qua khe hở,
    Trong hoảng loạn, vội vã, niềm vui chiến thắng,
    Sách thứ nhất trước tiên. Ta thấy nhịp đập nó
    Ngay dưới gối, trong bóng mờ tinh mơ,
    Một giờ trước khi mặt trời chiếu cho ta đọc!
    Sách của ta!
    Cuối cùng khi thời khắc chín muồn
    ta tình cờ gặp các thi gia.
  • 1865, Lewis Carroll, Alice's Adventures in Wonderland (Alice ở xứ sở thần tiên), chapter 1
    Alice was beginning to get very tired of sitting by her sister on the bank, and of having nothing to do: once or twice she had peeped into the book her sister was reading, but it had no pictures or conversations in it, "and what is the use of a book," thought Alice, "without pictures or conversations?"
    Alice bắt đầu chán ngấy cái việc cứ phải ngồi cạnh chị gái trên bờ đất giữa cánh đồng mà chẳng có việc gì làm cả. Đã đôi lần cô bé ghé mắt vào cuốn sách mà chị cô đang đọc, nhưng trong sách không có tranh ảnh cũng chẳng có lời thoại. “Thế thì đọc làm gì cơ chứ. Sách gì mà không có tranh ảnh cũng chẳng có lời thoại?” Alice thầm nghĩ.[12]
    • Alice đã bắt đầu chán ngấy việc ngồi cạnh chị gái cả ngày trên bờ sông mà chẳng có gì chơi. Một vài lần cô bé liếc vào cuốn sách chị mình đang đọc, nhưng chả có hình hay lời thoại gì cả. “Sách gì đã chẳng có hình lại chẳng có lời thoại, thế thì để làm gì kia chứ?” Alice nghĩ thầm.[13]
    • Alice cảm thấy chán nản khi ngồi bên chị gái ở bờ sông, chẳng có việc gì làm. Mội đôi lần, cô bé lén nhìn vào cuốn sách chị cô đang đọc, nhưng chẳng thấy hình ảnh hay câu chuyện gì trong đó. Alice thầm nghĩ: "Lạ nhỉ, sách không có tranh, cũng chẳng có câu chuyện, vậy thì để làm gì?[14]
  • 1901, Lyman Abbott, Abundant Life
    A book is a friend; a good book is a good friend. It will talk to you when you want it to talk, and it will keep still when you want it to keep still – and there are not many friends who know enough for that.[15]
    Sách là bạn, sách hay là bạn tốt. Sách sẽ nói chuyện với bạn khi bạn muốn nó nói, và nó sẽ yên khi bạn muốn nó đứng yên – không có nhiều bạn bè đủ thấu hiểu để làm vậy.
  • 1906, G. K. Chesterton, Charles Dickens, V
    There is a great deal of difference between the eager man who wants to read a book, and the tired man who wants a book to read.
    Có khác biệt lớn giữa một người háo hức muốn đọc sách với một người mệt mỏi muốn có sách để đọc.
  • 1919, Yale University Press (xuất hiện lại trong 1920, Clarence Day, The Story of the Yale University Press Told by a Friend, tr. 7–8
    The world of books is the most remarkable creation of man. Nothing else that he builds ever lasts. Monuments fall; nations perish; civilizations grow old and die out; and, after an era of darkness, new races build others. But in the world of books are volumes that have seen this happen again and again, and yet live on, still young, still as fresh as the day they were written, still telling men’s hearts of the hearts of men centuries dead. And even the books that do not last long, penetrate their own times at least, sailing farther than Ulysses even dreamed of, like ships on the seas. It is the author’s part to call into being their cargoes and passengers,—living thoughts and rich bales of study and jeweled ideas. And as for the publishers, it is they who build the fleet, plan the voyage, and sail on, facing wreck, till they find every possible harbor that will value their burden.[16]
    Thế giới sách là sáng tạo đáng chú ý nhất của con người. Không gì con người dựng nên có thể trường tồn. Những di tích sụp đổ; các quốc gia lụi tàn; những nền văn minh già cỗi và tàn tạ; rồi sau thời kỳ đen tối, những chủng tộc mới lại kiến ​​tạo nên những nền văn minh khác. Nhưng trong thế giới sách, có những tập sách đã chứng kiến ​​điều này lặp đi lặp lại, nhưng vẫn sống mãi, vẫn trẻ trung, vẫn tươi mới như ngày mới được viết ra, vẫn kể cho tâm hồn con người nghe về tâm hồn của những người đã khuất hàng thế kỷ trước. Và ngay cả những cuốn sách không tồn tại lâu dài, ít nhất cũng đã đi vào thời đại của chính chúng, dong buồm đi xa hơn cả những gì Ulysses từng mơ ước, tựa thuyền giữa đại dương. Nhiệm vụ của tác giả là khơi dậy hàng hóa cùng hành khách trên tàu có được suy nghĩ sống động, kho tàng nghiên cứu phong phú và ý tưởng quý giá. Còn đối với nhà xuất bản, họ chính là người xây dựng hạm đội, lên kế hoạch hành trình, rồi tiếp tục lên đường, đối mặt với những vụ đắm tàu, cho đến khi họ tìm thấy mọi bến cảng có thể trân trọng gánh nặng mình.
  • 1940, Mortimer Adler, How to Read a Book
    Why is marking a book indispensable to reading it? First, it keeps you awake — not merely conscious, but wide awake. Second, reading, if it is active, is thinking, and thinking tends to express itself in words, spoken or written...Third, writing your reactions down helps you to remember the thoughts of the author...Marking a book is literally an expression of your differences or your agreements with the author, It is the highest respect you can pay him.[17]
    Vì sao khi đọc sách lại không thể thiếu việc đánh dấu trang? Thứ nhất, nó giúp bạn tỉnh táo — không chỉ tỉnh táo mà còn hết sức tỉnh táo. Thứ nhì, chủ động đọc cũng chính là tư duy, và tư duy thường được thể hiện bằng lời nói hoặc chữ viết... Thứ ba, việc ghi lại phản hồi giúp bạn ghi nhớ suy nghĩ của tác giả... Đánh dấu sách thực sự là việc thể hiện những khác biệt hoặc đồng tình với tác giả. Đó là sự tôn trọng cao nhất bạn có thể dành cho tác giả.
  • 1945, Logan Pearsall Smith, All Trivia
    What I like in a good author is not what he says, but what he whispers.[18]
    Điều tôi thích ở tác giả hay không phải là những gì ông nói mà là lời thì thầm.
  • 1952, Kendell Foster Crossen, Startling Stories, The Hour of the Mortals
    I sometimes think there is nothing so lovely as an artistically-designed book.[19]
    Đôi khi tôi nghĩ không có gì hay hơn cuốn sách được thiết kế một cách nghệ thuật.
  • 1953, Ray Bradbury, Fahrenheit 451
    The books leapt and danced like roasted birds, their wings ablaze with red and yellow feathers[20]
    Các cuốn sách nhảy nhốt múa may như lũ chim bị quay trên lửa, đôi cánh với những cái lông màu đỏ màu vàng bùng cháy.[21]
  • ~1955, Walt Disney
    There is more treasure in books than in all the pirates' loot on Treasure Island...[22]
    Có nhiều báu vật trong sách hơn tất cả kho báu của cướp biển trên Đảo Giấu Vàng.[23]
  • 1962, Robertson Davies
    A truly great book should be read in youth, again in maturity and once more in old age, as a fine building should be seen by morning light, at noon and by moonlight.[24]
    Một cuốn sách thực sự hay nên đọc trong tuổi trẻ, rồi đọc lại khi đã trưởng thành, và một lần nữa lúc tuổi già, giống như một tòa nhà đẹp nên được chiêm ngưỡng trong ánh bình minh, nắng trưa và ánh trăng.[25]
  • 1983, Daniel J. Boorstin, The Discoverers
    After Gutenberg, realms of everyday life once ruled and served by Memory would be governed by the printed page. ...A man could now refer to the rules of grammar, the speeches of Cicero, and texts of theology, canon law, and morality without storing them in himself.
    The printed book... [was] superior in countless ways to the internal invisible warehouse in each person. ...by the sixteenth century, then the only essential feat of Memory was to remember the order of the alphabet. ...The technology of Memory retrieval... played a much smaller role in the higher realms of... knowledge. Spectacular feats of Memory became mere stunts.[28]
    Sau Gutenberg, các lĩnh vực cuộc sống hàng ngày từng được trí nhớ cai quản sẽ do trang in quản lý. Một người giờ đây có thể tham khảo các quy tắc ngữ pháp, bài phát biểu của Cicero và văn bản thần học, luật giáo hội và đạo đức mà không cần lưu trữ chúng trong đầu mình.
    Sách in... [đã] vượt trội hơn về vô số mặt so với kho lưu trữ vô hình bên trong mỗi người. ...khoảng thế kỷ 16 thì kỳ công thiết yếu duy nhất của trí nhớ là ghi nhớ thứ tự bảng chữ cái. ...Công nghệ truy xuất trí nhớ... đóng vai trò nhỏ hơn nhiều trong những lĩnh vực kiến thức cao hơn. Kỳ công ngoạn mục của trí nhớ chỉ còn là những pha nguy hiểm.
  • 2000, George W. Bush
    A love of books, of holding a book, turning its pages, looking at its pictures, and living its fascinating stories goes hand-in-hand with a love of learning.[29]
    Yêu sách, cầm sách, lật từng trang, ngắm nhìn hình ảnh và sống trong những câu chuyện cuốn hút trong sách song hành với tình yêu học tập.
  • 2001, Harold Bloom, How to Read and Why
    Reading well is one of the great pleasures that solitude can afford you.[30]
    Đọc sách tốt là một trong những thú vui tuyệt vời mà nỗi cô đơn có thể mang lại.
  • 2003, Laura Bush
    One of the great things about books is sometimes there are some fantastic pictures.[31]
    Một trong những điều tuyệt vời nhất của sách là đôi khi có hình ảnh tuyệt đẹp.
  • 2004, Warren Buffett, Chairman's Letter - 2003
    A 2003 book that investors can learn much from is Bull! by Maggie Mahar. Two other books I’d recommend are The Smartest Guys in the Room by Bethany McLean and Peter Elkind, and In an Uncertain World by Bob Rubin. All three are well-reported and well-written. Additionally, Jason Zweig last year did a first-class job in revising The Intelligent Investor, my favorite book on investing.[32]
    Một cuốn sách xuất bản năm 2003 mà các nhà đầu tư có thể học hỏi được nhiều điều là Bull! của Maggie Mahar. Hai cuốn sách khác tôi muốn giới thiệu là The Smartest Guys in the Room của Bethany McLean và Peter Elkind, và In an Uncertain World của Bob Rubin. Cả ba cuốn đều viết hay và tường thuật rất tốt. Ngoài ra, năm ngoái, Jason Zweig đã hoàn thành xuất sắc việc hiệu đính cuốn The Intelligent Investor, sách tôi yêu thích nhất về đầu tư.
  • 2004, Isabel Allende, Conversations with Isabel Allende
    How can one be in the limelight and still write? Books deserve compassion. They are delicate creatures born to be accepted or rejected as a whole; they can't endure dissection under the microscope of the pathologist. Most writers are as vulnerable as their work.[33]
    Xếp sách sai chỗ chẳng khác gì ăn cắp sách. Thực ra còn tệ hơn nhiều.
  • 2005, David Baldacci, The Camel Club
    Why can't people just sit and read books and be nice to each other?[34]
    Sao mọi người không thể ngồi xuống đọc sách và đối xử tử tế với nhau?
  • 2006, Roxanne J. Coady, The Book That Changed My Life
    There is an undeniable correlation between functional illiteracy, poverty, and crime—in fact, eleven states predict their future need for prison cells based on the reading levels of their fourth graders. Books can change lives, yes, and so can the lack of them.[35]
    Có mối tương quan không thể phủ nhận giữa mù chữ chức năng, nghèo đói và tội phạm - thực tế, mười một tiểu bang dự đoán nhu cầu về số phòng giam tương lai dựa trên trình độ đọc hiểu của học sinh lớp bốn. Sách có thể thay đổi cuộc sống, đúng vậy, nên việc thiếu sách cũng vậy.
  • 2007, Holly Black, Paper Cuts Scissors
    Books were something that happened to readers. Readers were the victims of books.[36]
    Sách là thứ đã xảy đến với độc giả. Độc giả là nạn nhân của sách.
  • 2011, Cecil Castellucci, Better to Light a Candle than to Curse the Darkness
    A shame really, because putting the right book in the right kid’s hands is kind of like giving that kid superpowers. Because one book leads to the next book and the next book and the next book and that is how a world-view grows. That is how you nourish thought.[37]
    Thật đáng tiếc, bởi vì đưa đúng sách vào đúng tay đứa trẻ cũng giống như trao cho trẻ siêu năng lực vậy. Vì một cuốn sách dẫn đến cuốn tiếp theo, rồi cuốn tiếp theo, rồi cuốn tiếp theo nữa, và đó là cách thế giới quan phát triển. Đó là cách bạn nuôi dưỡng tư duy.
  • 2014, Paul Acampora, I Kill the Mockingbird
    Shelving books incorrectly is as good as stealing them. It's almost worse.[38]
    Xếp sách sai chỗ chẳng khác gì ăn cắp sách. Thực ra còn tệ hơn nhiều.

Tiếng Do Thái

[sửa]
Cuộn sách Thi Thiên
Bài chi tiết: Cựu Ước
  • זֶ֣ה סֵ֔פֶר תּוֹלְדֹ֖ת אָדָ֑ם בְּי֗וֹם בְּרֹ֤א אֱלֹהִים֙ אָדָ֔ם בִּדְמ֥וּת אֱלֹהִ֖ים עָשָׂ֥ה אֹתֽוֹ׃ (בראשית ה)
    Đây là sách chép dòng-dõi của A-đam. Ngày mà Đức Chúa Trời dựng nên loài người, thì Ngài làm nên loài người giống như Đức Chúa Trời; (Sáng thế ký 5:1)
  • וַיֹּ֥אמֶר יְהֹוָ֖ה אֶל־מֹשֶׁ֑ה מִ֚י אֲשֶׁ֣ר חָֽטָא־לִ֔י אֶמְחֶ֖נּוּ מִסִּפְרִֽי׃ (שמות לב)
    Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: Kẻ nào phạm tội cùng ta, ta sẽ xóa nó khỏi sách ta. (Xuất Ai Cập ký 32:33)
  • וְ֠כָתַ֠ב אֶת־הָאָלֹ֥ת הָאֵ֛לֶּה הַכֹּהֵ֖ן בַּסֵּ֑פֶר וּמָחָ֖ה אֶל־מֵ֥י הַמָּרִֽים׃ (במדבר ה)
    Kế đó, thầy tế-lễ phải viết các lời trù-ẻo nầy trong một cuốn sách, rồi lấy nước đắng bôi đi. (Dân số ký 5:23)
  • אִם־לֹ֨א תִשְׁמֹ֜ר לַעֲשׂ֗וֹת אֶת־כׇּל־דִּבְרֵי֙ הַתּוֹרָ֣ה הַזֹּ֔את הַכְּתֻבִ֖ים בַּסֵּ֣פֶר הַזֶּ֑ה לְ֠יִרְאָ֠ה אֶת־הַשֵּׁ֞ם הַנִּכְבָּ֤ד וְהַנּוֹרָא֙ הַזֶּ֔ה אֵ֖ת יְהֹוָ֥ה אֱלֹהֶֽיךָ׃ (דברים כח)
    Nếu ngươi không cẩn-thận làm theo các lời của luật-pháp nầy, ghi trong sách nầy, không kính-sợ danh vinh-hiển và đáng sợ nầy là Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, (Phục truyền luật lệ ký 28:58)
  • לֹֽא־יָמ֡וּשׁ סֵ֩פֶר֩ הַתּוֹרָ֨ה הַזֶּ֜ה מִפִּ֗יךָ וְהָגִ֤יתָ בּוֹ֙ יוֹמָ֣ם וָלַ֔יְלָה לְמַ֙עַן֙ תִּשְׁמֹ֣ר לַעֲשׂ֔וֹת כְּכׇל־הַכָּת֖וּב בּ֑וֹ כִּי־אָ֛ז תַּצְלִ֥יחַ אֶת־דְּרָכֶ֖ךָ וְאָ֥ז תַּשְׂכִּֽיל׃ (יהושע א)
    Quyển sách luật-pháp nầy chớ xa miệng ngươi, hãy suy-gẫm ngày và đêm, hầu cho cẩn-thận làm theo mọi đều đã chép ở trong; vì như vậy ngươi mới được may-mắn trong con đường mình, và mới được phước. (Giôsuê 1:8)
  • וַיְדַבֵּ֨ר שְׁמוּאֵ֜ל אֶל־הָעָ֗ם אֵ֚ת מִשְׁפַּ֣ט הַמְּלֻכָ֔ה וַיִּכְתֹּ֣ב בַּסֵּ֔פֶר וַיַּנַּ֖ח לִפְנֵ֣י יְהֹוָ֑ה וַיְשַׁלַּ֧ח שְׁמוּאֵ֛ל אֶת־כׇּל־הָעָ֖ם אִ֥ישׁ לְבֵיתֽוֹ׃ (שמואל א י)
    Sa-mu-ên tuyên-giảng luật-pháp của nước tại trước mặt dân-sự, chép trong một cuốn sách mà người để trước mặt Đức Giê-hô-va. Đoạn, Sa-mu-ên cho cả dân-sự ai về nhà nấy. (I Samuên 10:25)
  • וַֽיְהִי֙ כִּשְׁמֹ֣עַ הַמֶּ֔לֶךְ אֶת־דִּבְרֵ֖י סֵ֣פֶר הַתּוֹרָ֑ה וַיִּקְרַ֖ע אֶת־בְּגָדָֽיו׃ (מלכים ב כב)
    Vua vừa nghe các lời của sách luật-pháp, liền xé quần-áo mình. (II Vua 22:11)
  • וּבְהוֹצִיאָ֣ם אֶת־הַכֶּ֔סֶף הַמּוּבָ֖א בֵּ֣ית יְהֹוָ֑ה מָצָא֙ חִלְקִיָּ֣הוּ הַכֹּהֵ֔ן אֶת־סֵ֥פֶר תּוֹרַת־יְהֹוָ֖ה בְּיַד־מֹשֶֽׁה׃ (דברי הימים ב ט)
    Khi người ta đem bạc đã đem vào đền Đức Giê-hô-va ra, thì Hinh-kia, thầy tế-lễ, tìm được cuốn sách luật-pháp của Đức Giê-hô-va truyền lại bởi Môi-se. (II Sử ký 34:14)
  • וַיִּקְרָא־בוֹ֩ לִפְנֵ֨י הָרְח֜וֹב אֲשֶׁ֣ר ׀ לִפְנֵ֣י שַֽׁעַר־הַמַּ֗יִם מִן־הָאוֹר֙ עַד־מַחֲצִ֣ית הַיּ֔וֹם נֶ֛גֶד הָאֲנָשִׁ֥ים וְהַנָּשִׁ֖ים וְהַמְּבִינִ֑ים וְאׇזְנֵ֥י כׇל־הָעָ֖ם אֶל־סֵ֥פֶר הַתּוֹרָֽה׃ (נחמיה ח)
    Người đứng tại phố ở trước cửa Nước, đọc trong quyển ấy từ rạng-đông cho đến trưa, có mặt các người nam và nữ, cùng những kẻ có thể hiểu được. Cả dân-sự lắng tai nghe đọc sách luật-pháp. (Nêhêmi 8:3)
  • לַּ֣יְלָה הַה֔וּא נָדְדָ֖ה שְׁנַ֣ת הַמֶּ֑לֶךְ וַיֹּ֗אמֶר לְהָבִ֞יא אֶת־סֵ֤פֶר הַזִּכְרֹנוֹת֙ דִּבְרֵ֣י הַיָּמִ֔ים וַיִּהְי֥וּ נִקְרָאִ֖ים לִפְנֵ֥י הַמֶּֽלֶךְ׃ (אסתר ו)
    Đêm đó, vua không ngủ được; nên truyền đem sách sử-ký, đọc tại trước mặt vua. (Êxơtê 6:1)
  • מִי־יִתֵּ֣ן אֵ֭פוֹ וְיִכָּתְב֣וּן מִלָּ֑י
    מִי־יִתֵּ֖ן בַּסֵּ֣פֶר וְיֻחָֽקוּ׃ (איוב יט)
    Ôi! Chớ chi các lời tôi đã biên-chép!
    Ước gì nó được ghi trong một quyển sách!
    (Gióp 19:23)
  • אָ֣ז אָ֭מַרְתִּי הִנֵּה־בָ֑אתִי
    בִּמְגִלַּת־סֵ֗֝פֶר כָּת֥וּב עָלָֽי׃ (תהלים מ)
    Bấy giờ tôi nói: Nầy tôi đến;
    Trong quyển sách đã có chép về tôi:
    (Thi Thiên 40:7)
  • וְיֹתֵ֥ר מֵהֵ֖מָּה בְּנִ֣י הִזָּהֵ֑ר עֲשׂ֨וֹת סְפָרִ֤ים הַרְבֵּה֙ אֵ֣ין קֵ֔ץ וְלַ֥הַג הַרְבֵּ֖ה יְגִעַ֥ת בָּשָֽׂר׃ (קהלת יב)
    Lại, hỡi con, hãy chịu dạy: người ta chép nhiều sách chẳng cùng; còn học quá thật làm mệt-nhọc cho xác-thịt. (Truyền Đạo 12:12)
  • וַתְּהִ֨י לָכֶ֜ם חָז֣וּת הַכֹּ֗ל כְּדִבְרֵי֮ הַסֵּ֣פֶר הֶחָתוּם֒ אֲשֶֽׁר־יִתְּנ֣וּ אֹת֗וֹ אֶל־יוֹדֵ֥עַ הספר סֵ֛פֶר לֵאמֹ֖ר קְרָ֣א נָא־זֶ֑ה וְאָמַר֙ לֹ֣א אוּכַ֔ל כִּ֥י חָת֖וּם הֽוּא׃ (ישעיהו כט)
    Vậy nên mọi sự hiện-thấy đối với các ngươi đã nên như lời của quyển sách đóng ấn, đưa cho người biết đọc, mà rằng: Xin đọc sách nầy! thì nó trả lời rằng: Tôi không đọc được, vì sách nầy có đóng ấn; (Êsai 29:11)
  • וְהָיָה֙ כְּכַלֹּ֣תְךָ֔ לִקְרֹ֖א אֶת־הַסֵּ֣פֶר הַזֶּ֑ה תִּקְשֹׁ֤ר עָלָיו֙ אֶ֔בֶן וְהִשְׁלַכְתּ֖וֹ אֶל־תּ֥וֹךְ פְּרָֽת׃ (ירמיהו נא)
    Khi người đã đọc sách nầy xong, thì khá cột vào sách một cục đá, mà ném xuống giữa sông Ơ-phơ-rát, (Giêrêmi 51:63)
  • וָאֶרְאֶ֕ה וְהִנֵּה־יָ֖ד שְׁלוּחָ֣ה אֵלָ֑י וְהִנֵּה־ב֖וֹ מְגִלַּת־סֵֽפֶר׃ (יחזקאל ב)
    Ta bèn xem, nầy, có một cái tay giơ đến ta, cầm một bản sách cuốn. (Êxêchiên 2:9)
  • וְאַתָּ֣ה דָֽנִיֵּ֗אל סְתֹ֧ם הַדְּבָרִ֛ים וַחֲתֹ֥ם הַסֵּ֖פֶר עַד־עֵ֣ת קֵ֑ץ יְשֹׁטְט֥וּ רַבִּ֖ים וְתִרְבֶּ֥ה הַדָּֽעַת׃ (דניאל יב)
    Còn như ngươi, hỡi Đa-ni-ên, ngươi hãy đóng lại những lời nầy, và hãy đóng ấn sách nầy cho đến kỳ cuối-cùng. Nhiều kẻ sẽ đi qua đi lại, và sự học-thức sẽ được thêm lên. (Đaniên 12:4)
  • מַשָּׂ֖א נִֽינְוֵ֑ה סֵ֧פֶר חֲז֛וֹן נַח֖וּם הָאֶלְקֹשִֽׁי׃ (נחום א)
    Gánh nặng của Ni-ni-ve. Sách sự hiện-thấy của Na-hum, người Ên-cốt. (Nahum 1:1)
  • וַיֹּ֣אמֶר אֵלַ֔י זֹ֚את הָֽאָלָ֔ה הַיּוֹצֵ֖את עַל־פְּנֵ֣י כׇל־הָאָ֑רֶץ כִּ֣י כׇל־הַגֹּנֵ֗ב מִזֶּה֙ כָּמ֣וֹהָ נִקָּ֔ה וְכׇ֨ל־הַנִּשְׁבָּ֔ע מִזֶּ֖ה כָּמ֥וֹהָ נִקָּֽה׃ (זכריה ה)
    Người bảo ta rằng: Ấy là sự rủa-sả tràn ra trên khắp mặt đất: hễ ai trộm-cắp sẽ bị dứt đi theo chữ trên mặt nầy của cuốn sách nầy; hễ ai thề sẽ bị dứt đi theo chữ trên mặt kia của cuốn sách nầy. (Xachari 5:3)
  • אָ֧ז נִדְבְּר֛וּ יִרְאֵ֥י יְהֹוָ֖ה אִ֣ישׁ אֶל־רֵעֵ֑הוּ וַיַּקְשֵׁ֤ב יְהֹוָה֙ וַיִּשְׁמָ֔ע וַ֠יִּכָּתֵ֠ב סֵ֣פֶר זִכָּר֤וֹן לְפָנָיו֙ לְיִרְאֵ֣י יְהֹוָ֔ה וּלְחֹשְׁבֵ֖י שְׁמֽוֹ׃ (מלאכי ג)
    Bấy giờ những kẻ kính-sợ Đức Giê-hô-va nói cùng nhau, thì Đức Giê-hô-va để ý mà nghe; và một sách để ghi-nhớ được chép trước mặt Ngài cho những kẻ kính-sợ Đức Giê-hô-va và tưởng đến danh Ngài. (Malachi 3:16)

Tiếng Hy Lạp

[sửa]
Kinh Thánh Tân Ước
Bài chi tiết: Tân Ước
  • ἢ οὐκ ἀνέγνωτε ἐν τῷ νόμῳ, ὅτι τοῖς σάββασιν οἱ ἱερεῖς ἐν τῷ ἱερῷ τὸ σάββατον βεβηλοῦσι, καὶ ἀναίτιοί εἰσι; (Κατά Ματθαίον)
    Hay là các ngươi không đọc trong sách luật, đến ngày Sa-bát, các thầy tế-lễ trong đền-thờ phạm luật ngày đó, mà không phải tội sao? (Mathiơ 12:5)
  • περὶ δὲ τῶν νεκρῶν, ὅτι ἐγείρονται, οὐκ ἀνέγνωτε ἐν τῇ βίβλῳ Μωσέως, ἐπὶ τῆς βάτου, ὡς εἶπεν αὐτῷ ὁ Θεός, λέγων, Ἐγὼ ὁ Θεὸς Ἀβραάμ, καὶ ὁ Θεὸς Ἰσαάκ, καὶ ὁ Θεὸς Ἰακώβ; (Κατά Μάρκον)
    Còn về những người chết được sống lại, thì trong sách Môi-se có chép lời Đức Chúa Trời phán cùng người trong bụi gai rằng: Ta là Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, Đức Chúa Trời của Y-sác, Đức Chúa Trời của Gia-cốp, các ngươi há chưa đọc đến sao? (Mác 12:26)
  • Εἶπε δὲ αὐτοῖς, Οὗτοι οἱ λόγοι, οὓς ἐλάλησα πρὸς ὑμᾶς ἔτι ὢν σὺν ὑμῖν, ὅτι δεῖ πληρωθῆναι πάντα τὰ γεγραμμένα ἐν τῷ νόμῳ Μωσέως καὶ προφήταις καὶ ψαλμοῖς περὶ ἐμοῦ. (Κατά Λουκάν)
    Đoạn, Ngài phán rằng: Ấy đó là đều mà khi ta còn ở với các ngươi, ta bảo các ngươi rằng mọi sự đã chép về ta trong luật-pháp Môi-se, các sách tiên-tri, cùng các thi-thiên phải được ứng-nghiệm. (Luca 24:44)
  • Ἔστι δὲ καὶ ἄλλα πολλὰ ὅσα ἐποίησεν ὁ Ἰησοῦς, ἅτινα ἐὰν γράφηται καθ’ ἕν, οὐδὲ αὐτὸν οἶμαι τὸν κόσμον χωρῆσαι τὰ γραφόμενα βιβλία. Ἀμήν. (Κατά Ιωάννην)
    Lại còn nhiều việc nữa mà Đức Chúa Jêsus đã làm; ví bằng người ta cứ từng việc mà chép hết, thì ta tưởng rằng cả thế-gian không thể chứa hết các sách người ta chép vậy. (Giăng 21:25)
  • ὁμολογῶ δὲ τοῦτό σοι, ὅτι κατὰ τὴν ὁδὸν ἣν λέγουσιν αἵρεσιν, οὕτω λατρεύω τῷ πατρῴῳ Θεῷ, πιστεύων πᾶσι τοῖς κατὰ τὸν νόμον καὶ τοῖς προφήταις γεγραμμένοις· (Πράξεις των Αποστόλων)
    Trước mặt quan, tôi nhận rằng theo như đạo mà họ gọi là một phe-đảng, tôi thờ-phượng Đức Chúa Trời của tổ-phụ tôi, tin mọi đều chép trong sách luật và các sách tiên-tri; (Công vụ 24:14)
  • φανερωθέντος δὲ νῦν, διά τε γραφῶν προφητικῶν, κατ’ ἐπιταγὴν τοῦ αἰωνίου Θεοῦ, εἰς ὑπακοὴν πίστεως εἰς πάντα τὰ ἔθνη γνωρισθέντος, (Προς Ρωμαίους)
    mà bây giờ được bày ra, và theo lịnh Đức Chúa Trời hằng sống, bởi các sách tiên-tri, bày ra cho mọi dân đều biết, đặng đem họ đến sự vâng-phục của đức-tin, — (Rôma 16:26)
  • ἀλλ’ ἕως σήμερον ἡνίκα ἂν ἀναγινώσκεται Μωσῆς, κάλυμμα ἐπὶ τὴν καρδίαν αὐτῶν κεῖται. (Προς Κορινθίους Β')
    Ấy vậy, cho đến ngày nay, mỗi lần người ta đọc sách Môi-se cho họ, cái màn ấy vẫn còn ở trên lòng họ. (II Côrinhtô 3:15)
  • ὅσοι γὰρ ἐξ ἔργων νόμου εἰσίν, ὑπὸ κατάραν εἰσί· γέγραπται γάρ, Ἐπικατάρατος πᾶς ὃς οὐκ ἐμμένει ἐν πᾶσι τοῖς γεγραμμένοις ἐν τῷ βιβλίῳ τοῦ νόμου, τοῦ ποιῆσαι αὐτά. (Προς Γαλάτας)
    Vì mọi kẻ cậy các việc luật-pháp, thì bị rủa-sả, bởi có chép rằng: Đáng rủa thay là kẻ không bền-đỗ trong mọi sự đã chép ở sách luật, đặng làm theo những sự ấy! (Galati 3:10)
  • καὶ ἐρωτῶ καί σε, σύζυγε γνήσιε, συλλαμβάνου αὐταῖς, αἵτινες ἐν τῷ εὐαγγελίῳ συνήθλησάν μοι, μετὰ καὶ Κλήμεντος, καὶ τῶν λοιπῶν συνεργῶν μου, ὧν τὰ ὀνόματα ἐν βίβλῳ ζωῆς. (Προς Φιλιππησίους)
    Hỡi kẻ đồng-liêu trung-tín, tôi cũng xin anh giúp hai người đờn-bà ấy, nhơn hai bà ấy cùng tôi đã vì đạo Tin-lành mà chiến-đấu; Cơ-lê-măn và các bạn khác đồng làm việc với tôi cũng vậy, có tên những người đó biên vào sách sự sống rồi. (Philíp 4:3)
  • ἕως ἔρχομαι πρόσεχε τῇ ἀναγνώσει, τῇ παρακλήσει, τῇ διδασκαλίᾳ. (Προς Τιμόθεον Α')
    Hãy chăm-chỉ đọc sách, khuyên-bảo, dạy-dỗ, cho đến chừng ta đến. (I Timôthê 4:13)
  • τὸν φαιλόνην ὃν ἀπέλιπον ἐν Τρωάδι παρὰ Κάρπῳ, ἐρχόμενος φέρε, καὶ τὰ βιβλία, μάλιστα τὰς μεμβράνας. (Προς Τιμόθεον Β')
    Khi con sẽ đến, hãy đem áo choàng mà ta để lại tại nhà Ca-bút, thành Trô-ách, cùng những sách-vở nữa, nhứt là những sách bằng giấy da. (II Timôthê 4:13)
  • τότε εἶπον, Ἰδού, ἥκω (ἐν κεφαλίδι βιβλίου γέγραπται περὶ ἐμοῦ) τοῦ ποιῆσαι, ὁ Θεός, τὸ θέλημά σου. (Προς Εβραίους)
    Tôi bèn nói: Hỡi Đức Chúa Trời, nầy tôi đến —
    Trong sách có chép về tôi —
    Tôi đến để làm theo ý-muốn Chúa.
    (Hêbơrơ 10:7)
  • καὶ εἶδον τοὺς νεκρούς, μικροὺς καὶ μεγάλους, ἑστῶτας ἐνώπιον τοῦ Θεοῦ, καὶ βιβλία ἠνεῴχθησαν· καὶ βιβλίον ἄλλο ἠνεῴχθη, ὅ ἐστι τῆς ζωῆς· καὶ ἐκρίθησαν οἱ νεκροὶ ἐκ τῶν γεγραμμένων ἐν τοῖς βιβλίοις, κατὰ τὰ ἔργα αὐτῶν. (Αποκάλυψις Ιωάννου)
    Tôi thấy những kẻ chết, cả lớn và nhỏ, đứng trước tòa, và các sách thì mở ra. Cũng có mở một quyển sách khác nữa, là sách sự sống; những kẻ chết bị xử-đoán tùy công-việc mình làm, cứ như lời đã biên trong những sách ấy. (Khải Huyền 20:12)

Tiếng Pháp

[sửa]
Đọc sách của Honoré Daumier thế kỷ 19
  • 1678, Jean de La Fontaine, Le Coq et la Perle, (Con gà trống với ngọc trân châu - Trương Minh Ký dịch)
    Un ignorant herita
    D’un manuſcrit qu’il porta
    Chez ſon voiſin le Libraire.
    Je crois, dit-il, qu’il eſt bon ;
    Mais le moindre ducaton
    Seroit bien mieux mon affaire.
    Người kia dốt nát có một bổn sách, nó đem cho người bán sách ở gần nó mà rằng: “Tôi tưởng bổn sách nầy hay; mà đồng tiền đồng bạc cho tôi thì là hay hơn.”
  • 1844, Alexandre Dumas, Le Comte de Monte-Cristo (Bá tước Monte Cristo), chương XVIII
    Je lègue à mon neveu bien-aimé mes coffres, mes livres, parmi lesquels mon beau bréviaire à coins d’or, désirant qu’il garde ce souvenir de son oncle affectionné.
    Ta để lại cho cháu ta các tủ, các quyện sách, mà trong các quyện sách ấy thì có một cuốn sách-kinh rất tốt, mấy góc khãm vàng, ý là muốn cho cháu ta giữ sách ấy mà làm cũa kỷ-niệm (đồ nhớ) chú. (Kỳ Lân Các dịch Tiền căn báo hậu, XVIII)
    ...di chúc để lại cho người cháu những đồ đạc và sách vở trong đó có một cuốn kinh thánh mạ vàng, in rất đẹp được truyền lại cho các con cháu đời sau...[39]
  • 1926, Henri Cucherousset, Đông Dương ngày xưa và ngày nay (Vũ Công Nghi dịch) tr. 83
    Les lettrés n'étudiaient que les caractères et toujours les mêmes livres, considérés comme parfaits.
    Những ông nhà nho chỉ học có chữ nho, và chỉ học trong những sách vẫn học xưa nay, vì các ông cho những sách ấy là hoàn-toàn lắm rồi.
  • 1937, Georges Duhamel, Défense des Lettres
    Le livre est l'ami de la solitude. Il nourrit l'individualisme libérateur. Dans la lecture solitaire, l'homme qui se cherche lui-même a quelque chance de se rencontrer.[40]
    Sách là người bạn của sự cô độc. Nó nuôi dưỡng chủ nghĩa cá nhân tự do. Khi đọc sách một mình, độc giả sẽ có cơ hội tìm thấy chính mình.

Tiếng Tây Ban Nha

[sửa]
  • 1960, Jorge Luis Borges, El hacedor, Poema de los Dones
    Siempre imaginé que el Paraíso sería algún tipo de biblioteca.
    Tôi luôn mường tượng rằng Thiên đường cũng từa tựa như một thư viện vậy.[43]
    Tôi luôn luôn tưởng tượng rằng thiên đường sẽ giống như một thư viện.[44]

Tiếng Trung

[sửa]
  • Thế kỷ 2 TCN, Tư Mã Thiên, 報任少卿書
    草創未就,會遭此禍,惜其不成,是以就極刑而無慍色。僕誠已著此書,藏諸名山,傳之其人通邑大都,則僕償前辱之責,雖萬被戮,豈有悔哉!
    • (Thơ trả lời cho Nhiệm An, Phan Khôi dịch): Không ngờ mới làm cái nảo ra, chưa thành sách, thì vừa gặp cái họa nầy; vì tôi tiếc cho nó sẽ không thành sách, nên mới chịu cực hình mà không hề làm mặt giận. Thật tôi nghĩ rằng làm pho sách nầy ra, rồi giấu nó nơi núi có tiếng, truyền nó cho người của mình, khắp nơi thành to đô lớn, thế là tôi đã đền cái nợ mang nhục trước kia rồi, tuy bị giết một muôn lần cũng chẳng ăn năn nữa.
    • (Bức thư trả lời Nhậm Thiếu Khanh, Nhượng Tống dịch): Tiếc không thành sách, cho nên chịu cực hình mà mặt không có vẻ tức giận. Ví phỏng sách ấy tôi đã viết xong rồi, cất giấu vào danh-sơn, truyền cho « người của nó » để phát ra các ấp lớn đô to, thì đem thân tôi liều với cái nhục kia, dù bị giết muôn lần, nào có gì là ân-hận!
  • Thế kỷ 14, Tống Liêm, 秦士錄 (Tần sĩ lục - Phan Khôi dịch)
    四庫書從君問,卽不能答,當血是刃!
    Thôi thì bây giờ, sách bốn kho, cho mặc các anh cứ hỏi, đứa nào trả lời không được, sẽ phải trây máu trên con dao nầy!
  • 1913, Từ Chẩm Á, 玉梨魂, 第02章 (Dưới hoa, II - Nhượng Tống dịch)
    《石頭記》一書,弄才之筆,談情之書,寫愁之作也。夢霞固才人也、情人也,亦愁人也。每一展卷,便替古人擔憂,爲癡兒叫屈。
    « Hồng-lâu-mộng » là ngọn bút khoe tài, bộ sách tả tình, câu chuyện gây sầu gợi cảm, mà chàng lại là kẻ có tài, kẻ đa tình kẻ lắm sầu giầu cảm, nên mỗi khi cầm đến sách là lại lo hộ cho người thiên-cổ, kêu oan cho khách si-tình.
  • 28/6/1933, Lỗ Tấn, 華德焚書異同論 (Hoa và Đức đều đốt sách mà có khác nhau - Phan Khôi dịch)
    不錯,秦始皇燒過書,燒書是為了統一思想。但他沒有燒掉農書和醫書;他收羅許多別國的「客卿」,並不專重「秦的思想」,倒是博采各種的思想的。
    Phải, Tần Thủy Hoàng từng đốt sách, đốt sách để mà thống nhất tư tưởng. Nhưng ông không đốt những sách về nông học và y học ; ông thu dùng nhiều "khách khanh" các nước khác, cũng không chuyên trọng "tư tưởng của Tần", mà là lượm lặt đủ các thứ tư tưởng.

Tiếng Ý

[sửa]
Con mọt sách của Carl Spitzweg ~ năm 1850
  • 1980, Umberto Eco, Il nome della rosa (Tên của đóa hồng)
    … il libro è creatura fragile, soffre l’usura del tempo, teme i roditori, le intemperie, le mani inabili. Se per cento e cento anni ciascuno avesse potuto liberamente toccare i nostri codici, la maggior parte di essi non esisterebbe più. Il bibliotecario li difende dunque non solo dagli uomini ma anche dalla natura, e dedica la sua vita a questa guerra contro le forze dell’oblio, nemico della verità[46]
    ...sách là một sinh vật yếu đuối, nó chịu đựng sự bào mòn của thời gian, sợ các loài gậm nhấm, kỵ thuỷ, kỵ hỏa, và e ngại những bàn tay vụng về, cục mịch. Nếu mấy trăm năm nay ai cũng được phép đi lại tự do trong thư viện cầm nắm các bản chép tay của chúng tôi thì phần lớn đã chẳng thể tồn tại đến ngày nay. Do đó, quản thư viện bảo quản sách chống lại sự tàn phá của cả con người lẫn thiên nhiên, tận tuỵ cống hiến cả đời mình cho cuộc chiến đấu chống lại những thế lực lãng quên, vốn là kẻ thù của Chân lý.[47]
    Cuốn sách là một sinh vật mong manh, nó chịu đựng sự tàn phá của thời gian, nó sợ chuột bọ, các yếu tố thời tiết và những bàn tay vụng về. Nếu qua hàng trăm năm, con người tùy thích sử dụng những cuốn sách thế nào cũng được, phần lớn chúng sẽ chẳng còn tồn tại. Bởi vậy người quản lý thư viện bảo vệ chúng không chỉ trước nhân loại mà còn trước tự nhiên, và cống hiến cuộc đời mình cho cuộc chiến này chống lại những lực lượng của sự lãng quên, kẻ thù của sự thật.[48]
  • 1988, Italo Calvino, Lezioni americane
    … chi siamo noi, chi è ciascuno di noi se non una combinatoria d’esperienze, d’informazioni, di letture, d’immaginazioni?[49]
    Chúng ta là ai, mỗi người trong chúng ta là ai nếu không phải tổ hợp của kinh nghiệm, thông tin, những cuốn sách chúng ta đã đọc, những điều chúng ta đã tưởng tượng ra?[50]

Xem thêm

[sửa]

Tham khảo

[sửa]
  1. ^ “Nam quốc sơn hà”, Thi viện, 1 tháng 7 năm 2005, lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 1 năm 2025, truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2025
  2. ^ Sir Edward Coke (1680), The Reports of Sir Edward Coke, Kt ... The Second Edition Carefully Compared with the French ... With a Table to the Whole, H. Twyford, tr. 283
  3. ^ Tuyển tập tác phẩm William Shakespeare, Đặng Thế Bính dịch vở Rômêô và Juliet, Hà Nội: Nhà xuất bản Sân khấu; Trung tâm Văn hoá Ngôn ngữ Đông Tây, 2006, tr. 69Quản lý CS1: khác (liên kết)
  4. ^ George Crabbe (1810), The borough: a poem (bằng tiếng Anh), J. Hatchard, tr. 344
  5. ^ Charles Caleb Colton (1821), Lacon: Or, Many Things in Few Words: Addressed to Those who Think (bằng tiếng Anh), E. Bliss and E. White, tr. 158
  6. ^ Trevelyan (1876), The Life and Letters of Lord Macaulay (bằng tiếng Anh), 3, Tauchnitz, tr. 216
  7. ^ William Ellery Channing (1838), Self-Culture: An Address Introductory to the Franklin Lectures, Delivered at Boston, September, 1838 (bằng tiếng Anh), Dutton and Wentworth, tr. 40
  8. ^ Philip James Bailey (1854), Festus (bằng tiếng Anh), Boston: B. B. Mussey, tr. 123
  9. ^ “Danh ngôn về Sách - Thomas Carlyle”, Từ điển danh ngôn, lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 7 năm 2025, truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2025
  10. ^ Edward Bulwer Lytton Baron Lytton (1844), Ernest Maltravers Or The Eleusinia (bằng tiếng Anh), 8, Saunders and Otley, ... Simpkin, Marshall, and Company, ... Bell and Bradfute, Edinburgh; and J. Cumming, Dublin, tr. 67
  11. ^ “Danh ngôn về Hành động - Edward Bulwer Lytton”, Từ điển danh ngôn, lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 9 năm 2022, truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2025
  12. ^ Lewis Carroll (2013), “1”, Alice ở xứ sở diệu kỳ, Lê Thị Oanh biên dịch, Nhà xuất bản Văn học
  13. ^ Lewis Carroll (2020), Alice lạc vào Xứ sở Diệu Kỳ & Đi qua tấm gương, Đặng Kim Trâm & Đinh Việt Hiệp biên dịch, Nhà xuất bản Văn học
  14. ^ Lewis Carroll (2024), Alice ở xứ sở thần tiên, Cẩm Nhượng biên dịch, Nhà xuất bản Kim Đồng, tr. 11, ISBN 978-604-2-37829-1
  15. ^ Lyman Abbott, Hamilton Wright Mabie, Ernest Hamlin Abbott, Francis Rufus Bellamy biên tập (1901), The Outlook (bằng tiếng Anh), Outlook Company, tr. 588Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách biên tập viên (liên kết)
  16. ^ Topics (bằng tiếng Anh), 4–10, 1919, tr. 452
  17. ^ Mortimer J. Adler, Charles Van Doren (2001), How to Read a Book (bằng tiếng Anh), Simon and Schuster, tr. 49, ISBN 9781439144831
  18. ^ Logan Pearsall Smith (1945), All Trivia (bằng tiếng Anh), Harcourt, Brace
  19. ^ Kendell Foster Crossen (1952), Startling Stories (bằng tiếng Anh), tr. 81
  20. ^ Ray Bradbury (2003), Fahrenheit 451 (bằng tiếng Anh), Simon and Schuster, tr. 142, ISBN 9780743247221
  21. ^ Ray Bradbury (2015), 451 độ F, Dick Trương biên dịch, Nhà xuất bản Văn học
  22. ^ Wisdom (bằng tiếng Anh), 32, 1959, tr. 27
  23. ^ “Danh ngôn về Sách - Walt Disney”, Từ điển danh ngôn, truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2025
  24. ^ Robertson Davies (16 tháng 6 năm 1962), “Too Much, Too Fast”, Peterborough Examiner (bằng tiếng Anh)
  25. ^ “Danh ngôn về Sách - Robertson Davies”, Từ điển danh ngôn, lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 7 năm 2025, truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2025
  26. ^ Roland Barthes (1967), “The Death of the Author”, Aspen (bằng tiếng Anh) (5–6)
  27. ^ , Trần Đình Sử biên dịch, “Roland Barthes – Cái chết của tác giả”, Wordpress, 12 tháng 4 năm 2011, lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 6 năm 2023, truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2025
  28. ^ Daniel Joseph Boorstin (1991), The Discoverers (bằng tiếng Anh), 2, H.N. Abrams, tr. 715, ISBN 9780810932074
  29. ^ Biography Today Vol. 12 No. 2: Profiles of People of Interest to Young Readers (bằng tiếng Anh), Omnigraphics, 2003, tr. 34, ISBN 9780780806399
  30. ^ Harold Bloom (2001), How to Read and Why (bằng tiếng Anh), Simon and Schuster, tr. 19, ISBN 9780684859071
  31. ^ U.S. News & World Report (bằng tiếng Anh), 3 tháng 1 năm 2000
  32. ^ Berkshire Hathaway (PDF) (bằng tiếng Anh), 27 tháng 2 năm 2004, tr. 21, lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 25 tháng 9 năm 2025, truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2025
  33. ^ Isabel Allende, John Rodden (2004), Conversations with Isabel Allende: Revised Edition (bằng tiếng Anh), University of Texas Press, tr. xii, ISBN 9780292702110
  34. ^ David Baldacci (2009), The Camel Club (bằng tiếng Anh), Pan Macmillan, tr. 584, ISBN 9780330506908
  35. ^ Roxanne J. Coady, Joy Johannessen (2007), The Book That Changed My Life: 71 Remarkable Writers Celebrate the Books That Matter Most to Them (bằng tiếng Anh), Penguin, tr. xvi, ISBN 9781101043462
  36. ^ Holly Black (2010), The Poison Eaters: and Other Stories (bằng tiếng Anh), Small Beer Press, tr. 150, ISBN 9781931520874
  37. ^ Better to Light a Candle than to Curse the Darkness (Cecil Castellucci) (bằng tiếng Anh), The official blog of the staff of the Los Angeles Review of Books, 5 tháng 6 năm 2011, Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 6 năm 2011
  38. ^ Paul Acampora (2025), I Kill the Mockingbird (bằng tiếng Anh), Macmillan + ORM, tr. 36, ISBN 9781626720572
  39. ^ Alexanđrơ Đuyma (2010), Bá tước Môngtơ Crixtô, Mai Thế Sang biên dịch, Nhà xuất bản Văn học
  40. ^ Georges Duhamel (1937), Défense des lettres: Biologie de mon métier (bằng tiếng Pháp), Mercure de France, tr. 22
  41. ^ “The Project Gutenberg eBook of Don Quijote, by Miguel de Cervantes Saavedra”, Project Gutenberg (bằng tiếng Tây Ban Nha), 1999, lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 4 năm 2024, truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2025
  42. ^ Mighel đê Xervantex Xaavêđra (2001), Đôn Kihôtê - Nhà quý tộc tài ba xứ Mantra, 2, Trương Đắc Vị biên dịch, Hà Nội: Nhà xuất bản Văn học, tr. 12
  43. ^ Rosie Nguyễn (13 tháng 1 năm 2023), “Review sách: Tuổi trẻ đáng giá bao nhiêu?”, Nguyễn Phương Liên, lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 8 năm 2025, truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2025
  44. ^ Phạm Công Luận / Phương Nam Book và NXB Thế giới, “Với ngày như lá tháng như mây”, Znews, truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2025
  45. ^ Đantê Alighiêri (2009), Thần khúc, Nguyễn Văn Hoàn biên dịch, Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội, tr. 591
  46. ^ Umberto Eco (2012), Il nome della rosa (bằng tiếng Ý), Giunti, tr. 54, ISBN 9788858706152
  47. ^ Umberto Eco (1989), Tên của đóa hồng, Đặng Thu Hương biên dịch, Nhà xuất bản Trẻ
  48. ^ “Danh ngôn về Sách - Umberto Eco”, Từ điển danh ngôn, lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 9 năm 2021, truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2025
  49. ^ Italo Calvino (2012), Marcovaldo (bằng tiếng Ý), Edizioni Mondadori, ISBN 9788852027369
  50. ^ “Danh ngôn về Sách - Italo Calvino”, Từ điển danh ngôn, lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 3 năm 2023, truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2025

Liên kết ngoài

[sửa]