Khổng Tử

Bộ sưu tập danh ngôn mở Wikiquote
Bước tới: chuyển hướng, tìm kiếm

Tiểu sử[sửa]

Nhà đạo đức học nôi tiếng thời xưa bên Trung Quốc. Ông là người sáng lập ra Đạo Nho , một môn học về cách xử thế và cách cư xử . Ông đã soạn ra kinh sách để dạy người đời dựa trên nền tảng Đạo Lý Luân Thường Những quyển sách làm nền tảng trong việc giáo dục sĩ tử, đề tài vấn đáp trong thi cử vào thời Phong Kiến ở Trung Quốc và Việt Nam

Tứ Thư, Ngũ Kinh[sửa]

Tứ Thư (四書 Sì shū) là bốn quyển sách kinh điển của văn học Trung Hoa, được Chu Hy thời nhà Tống lựa chọn làm nền tảng cho triết học Trung HoaKhổng giáo. Chúng bao gồm:

  1. Đại Học (大學 Dà Xué): Một chương trong Kinh Lễ
  2. Trung Dung (中庸 Zhōng Yóng): Một chương khác trong Kinh Lễ
  3. Luận Ngữ (論語 Lùn Yǔ): Cuốn sách ghi chép lại những lời dạy của Khổng Tử và do học trò của ông ghi chép lại
  4. Mạnh Tử (孟子 Mèng Zǐ): Sách ghi chép lại những cuộc đối thoại của Mạnh Tử và một số vị vua trong thời kỳ ông sống. Bốn bộ sách nầy được các học trò của Khổng Tử biên soạn sau khi ông mất.

Ngũ Kinh (五經 Wǔjīng) là năm quyển kinh điển trong văn học Trung Hoa dùng làm nền tảng trong Nho giáo. Theo truyền thuyết, năm quyển này đều được Khổng Tử soạn thảo hay hiệu đính. Sách kinh điển gồm hai bộ: Ngũ Kinh và Tứ Thư. Năm quyển Ngũ Kinh gồm có:

  1. Kinh Thi (詩經 Shī Jīng): sưu tập các bài thơ dân gian có từ trước Khổng Tử, nói nhiều về tình yêu nam nữ. Khổng Tử san định thành 300 thiên nhằm giáo dục mọi người tình cảm trong sáng lành mạnh và cách thức diễn đạt rõ ràng và trong sáng. Một lần, Khổng Tử hỏi con trai "học Kinh Thi chưa?", người con trả lời "chưa". Khổng Tử nói "Không học Kinh Thi thì không biết nói năng ra sao" (sách Luận ngữ).
  2. Kinh Thư (書經 Shū Jīng): ghi lại các truyền thuyết, biến cố về các đời vua cổ có trước Khổng Tử. Khổng Tử san định lại để các ông vua đời sau nên theo gương các minh quân như Nghiêu, Thuấn chứ đừng tàn bạo như Kiệt, Trụ.
  3. Kinh Lễ (禮記 Lǐ Jì): ghi chép các lễ nghi thời trước. Khổng Tử hiệu đính lại mong dùng làm phương tiện để duy trì và ổn định trật tự. Khổng Tử nói: "Không học Kinh Lễ thì không biết đi đứng ở đời" (sách Luận Ngữ).
  4. Kinh Dịch (易經 Yì Jīng): nói về các tư tưởng triết học của người Trung Hoa cổ đại dựa trên các khái niệm âm dương, bát quái,... Đời Chu, Chu Văn Vương đặt tên và giải thích các quẻ của bát quái gọi là Thoán từ. Chu Công Đán giải thích chi tiết nghĩa của từng hào trong mỗi quẻ gọi là Hào từ. Kinh Dịch thời Chu gọi là Chu Dịch. Khổng Tử giảng giải rộng thêm Thoán từ và Hào từ cho dễ hiểu hơn và gọi là Thoán truyện và Hào truyện.
  5. Kinh Xuân Thu (春秋 Chūn Qiū): ghi lại các biến cố xảy ra ở nước Lỗ, quê của Khổng Tử. Khổng Tử không chỉ ghi chép như một sử gia mà theo đuổi mục đích trị nước nên ông chọn lọc các sự kiện, ghi kèm các lời bình, sáng tác thêm lời thoại để giáo dục các bậc vua chúa. Ông nói: "Thiên hạ biết đến ta bởi kinh Xuân Thu, thiên hạ trách ta cũng sẽ ở kinh Xuân Thu này". Đây là cuốn kinh Khổng Tử tâm đắc nhất, xuân thu có nghĩa là mùa xuânmùa thu, ý nói những sự việc xảy ra.

Kinh Nhạc: do Khổng tử hiệu đính nhưng về sau bị thất lạc, chỉ còn lại một ít làm thành một thiên trong Kinh Lễ gọi là Nhạc ký. Như vậy Lục kinh chỉ còn có ngũ kinh.

Trích dẫn[sửa]

Dạy về con trai[sửa]

Đạo làm trai phải biết Tam Cương, Ngũ Thường. Đức Tính tốt của người con trai theo quan niệm Nho Giáo gồm:

  • Tam Cương
  1. Quân - thần (Vua - tôi)
  2. Phụ - tử (Cha - con)
  3. Phu - phụ (Chồng - vợ)

Cương nghĩa là giềng mối (cương là đầu mối của lưới, nắm được cương thì các mắt lưới sẽ giương lên). Tam cương là ba mối quan hệ căn bản của xã hội. Không nên lầm lẫn với khái niệm quân - sư - phụ.

Quân xử thần tử, thần bất tử, bất trung
(Vua xử tôi chết, tôi không chết, tôi không trung)
(chú thích: Câu trên chỉ là quan điểm của Nho Gia (người theo Nho Học), được xuất phát từ thời Hán Vũ Đế, do một Nho Gia tên Đổng Trọng Thư đã tạo ra hầu "mượn danh Khổng Tử" để bảo vệ trung ương tập quyền... xin đọc thêm tác phẩm Cửa Khổng của Kim Định tại Thư Quán VN và tác phẩm của Giáo Sư H.G Creel : The Chinese Thought: From Confucius to Mao Tse Tung)

Thầy đây là người dạy ta đạo lý, lý lẽ, cách sống. Cho nên ta phải yêu mến Thầy. Cho nên có câu

Nhất tự vi sư, Bán tự vi sư
(Một chữ cũng là thầy, Nửa chữ cũng là thầy)

Cha là người đã nuôi mình khôn lớn và cũng là người có uy quyền tuyệt đối trong gia đình. Cho nên có câu:

Phụ xử tử vong, tử bất vong, bất hiếu
(Cha xử con chết, con không chết, con không Hiếu)
  • Ngũ Thường
  1. Nhân (Nhân Từ)
  2. Lễ (Lễ Độ)
  3. Nghĩa (Trọng Nghĩa)
  4. Trí (Sự hiểu biết, nhận thức),
  5. Tín (Thành Tín)

Dạy về con gái[sửa]

Phẩm Hạnh của người con gái phải biết đến. Đức Tính tốt của người con gái theo quan niệm Nho Giáo gồm:

  • Tam Tòng
  1. Tại gia tòng phụ (Ở nhà thờ cha),
  2. Xuất giá tòng phu (Về nhà chồng thờ chồng),
  3. Phu tử tòng tử (Chồng chết ở với con)
  • Tứ Đức
  1. Công (Công Việc),
  2. Ngôn (Lời Nói),
  3. Dung (Nhan Sắc),
  4. Hạnh (Đức Tính)

Là một người con trai tốt, con gái tốt phải hiểu đạo lý

Trai trung nghĩa không theo hai Chúa,
Gái tiết liệt không thờ hai Chồng

Một số danh ngôn khác[sửa]

  • Đừng lo mình không có chức vị, chỉ lo mình không đủ tài để nhận lấy chức vị
  • Gỗ mục không thể khắc
  • Dùng thì đừng nghi, nghi thì đừng dùng
  • Muốn biết người phải nghe họ nói
  • Dụng nhân như dụng mộc
  • Càng lên cao, chân trời càng xa, tầm mắt càng rộng
  • Ngồi bàn tiệc đừng ra vẻ anh hùng, vì rượu đã làm cho lắm người gục ngã.
  • Học cho rộng, hỏi cho kỹ, nghĩ cho cẩn thận, phân biệt cho rõ, làm cho hết sức.
  • Người quân tử cầu ở mình, kẻ tiểu nhân cầu ở người.
  • Học đi với hành, không chỉ nói cho qua chuyện
  • Đạo thiên thừa chi quốc, kính sự nhi tín, tiết dụng nhi ái nhân, sử dân dĩ thời. (Trong việc trị quốc, phải thận trọng không hứa ẩu, biết đãi người hiền, phải được lòng dân)
  • Trị dân dùng pháp chế, hình phạt là chính, dân không dám làm điều phạm pháp, trị dân dùng đạo đức, dùng phép tắc, lòng tốt và nhân cách sẽ cảm hoá được dân
  • Ngẫm nghĩ việc xưa để hiểu việc nay, hành vi đáng làm thầy người khác
  • Biết thì nói là biết, không biết thì nói là không biết, vậy mới thật là biết
  • Người không có chữ tín, chẳng làm chi nên việc
  • Không nhìn điều sai, không nghe điều tầm bậy, không nói điều trái, không làm điều quấy
  • Bản thân làm điều phải, không ra lệnh người cũng nghe; không đúng thì có ra lệnh người cũng không nghe
  • Tụ họp nhau cả ngày, nói năng tào lao, làm những điều nhỏ mọn, nguy lắm thay!
  • Sinh ra mà đã biết, là bậc tiên; học rồi mới biết, là bậc thứ; gặp cảnh khốn nạn rồi mới chịu học, lại còn thấp hơn nữa. Thấp nhất là gặp cảnh khốn nạn rồi mà vẫn không chịu học
  • No cơm rửng mỡ chẳng có gì để làm. So với giới cờ bạc, họ còn tệ hơn nữa, vì ít ra giới cờ bạc cũng có việc để làm
  • Biết mà học không bằng thích mà học, thích mà học không bằng vui say mà học.
  • Bạn bè giúp ích cho ta có ba hạng, bạn bè làm hại ta cũng có ba hạng. Bạn ngay thẳng, bạn rộng lượng, bạn nghe biết nhiều, là những người bạn giúp ích cho ta. Bạn vờ vĩnh, bạn khéo chiều chuộng, bạn khéo nói, là những kẻ làm hại ta
  • Có ba điều ưa thích có ích, có ba điều ưa thích có hại. Ưa thích lễ nhạc đúng nghi tiết, ưa thích điều thiện của người đạo đức, ưa thích được nhiều bạn hiền, ba điều đó là có ích. Ưa thích thú vui quá đáng, ưa thích chơi bời phóng túng, ưa thích yến tiệc, ba điều đó là có hại vậy.
  • Ngô thập dựu ngũ nhi chí ư học, tam thập nhi lập, tứ thập nhi bất hoặc, ngũ thập nhi tri thiên mệnh, lục thập nhi nhĩ thuận, thất thập nhi tòng tâm sở dục, bất du củ.