Câu đối sử dụng trong từng trường hợp cụ thể và Thơ xướng họa Việt Nam

Bộ sưu tập danh ngôn mở Wikiquote
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm

Những câu đối trong từng trường hợp cụ thể[sửa]

Những câu đối về đề tài giáo dục tự cổ chí kim[sửa]

1 - Câu đối của Lê Tân:

Chấn hưng giáo dục gốc đại kế trăm năm bền vững
Bồi dưỡng hiền tài bầu nguyên khí vạn thuở trường sanh.

2 - Ba câu đối của Phan Quân:

Nhỏ hiếu học thoả lòng cha bụng mẹ
Lớn thành tài đền nghĩa nước tình dân.
Bộ nêu chủ trương, Sở thực hiện chủ trương, dồn sức để chấn hưng giáo dục
Phòng vạch kế hoạch, Trường hoàn thành kế hoạch, góp công đưa giáo dục chấn hưng.
Con cháu hiếu học, cha mẹ ông bà hiếu học, nêu gương sáng gia đình hiếu học.
Xóm thôn cộng đồng, xã phường quận huyện cộng đồng, mở đường lên giáo dục cộng đồng.

3 - Câu đối của Lê Giáo:

Xuân về mừng Đảng đổi mới, đời đổi thay, thầy dạy hay, trò học giỏi.
Tết đến chúc dân tiến bộ, sống văn minh, con hiếu thảo, cháu chăm ngoan.

4 - Câu đối của Trương Bá Linh:

Nâng cao dân trí đào tạo nhân lực bồi dưỡng nhân tài quốc sách ngời ý Đảng.
Vun đắp nhân tâm luyện rèn sức trẻ chăm sóc tương lai chiến lược sáng lòng dân.

5 - Câu đối của Tế Nhị

Tuổi cao chí càng cao, năm mới luyện rèn thân thể khoẻ
Tre già măng lại mọc, ngày xuân bày dạy cháu con ngoan.

6 - Những câu đối chưa rõ tác giả:

LỚP LỚP LỚN LÊN LÊN HẾT LỚP
TRƯỜNG TRƯỜNG THI TUYỂN TUYỂN ĐỦ TRƯỜNG
少壯不經勤學苦 Thiếu tráng bất kinh cần học khổ (Tuổi trẻ không khổ học)
老來方悔讀書遲 Lão lai phương hối độc thư trì (Đến già sẽ hối hận)

Câu đối giáo huấn sử dụng trong phòng khách[sửa]

1. Vinh là lao động

Hạnh là trường sinh

2. Thiên địa công bằng

Đức năng thắng số

3. Mở rộng lòng nhân

Vun trồng cội đức.

4. Rễ sâu chẳng sợ cành lay động

Cây thẳng đừng lo bóng xế chiều

5. Đạo mẹ, đức cha, biển rộng trời cao khôn sánh

Tình chồng, nghĩa vợ, nguồn ân bể ái nào tày.

6. Thiên hạ đều tham châu ngọc quý

Gia đình chỉ chuộng cháu con hiền.

7. Hiếu thảo mới sinh con hiếu thảo

Nhân từ lại có trẻ nhân từ.

8. Thành danh bởi trải thời gian khổ

Toại chí nhờ qua buối khốn cùng.

9. Người hiền tài gánh vác non sông

Con hiếu thảo chăm lo cha mẹ.

Những câu đối liên quan đến nghệ thuật chơi Cờ Tướng[sửa]

  • Câu đối của thầy đồ xứ Nghệ và các O phường Vải:
Các O ra vế đối: Tướng chàng nho sĩ tốt tươi, ước chi thầy mạ (mã) xe đôi cho chàng
Thầy đồ đối: Lên voi xuống ngựa tốt chiều, chàng gan tướng sĩ thiếp liều pháo xe
  • Những câu đối khác:
Trải Hạ Thu Đông gặp tiết Xuân về càng phấn chấn
So Cầm Thi Họa thêm bàn Cờ nữa mới thanh cao
Tiểu liệt, Đại liệt giao tranh kịch liệt
Bình xa, Hoành xa chiến lược cao xa

Những câu đối sử dụng cho tranh Tứ Quý[sửa]

Tranh tứ quý là loại tranh sử dụng các loại cây đặc trung của 4 mùa để miêu tả qua hình vẽ, thông thường là: Mai, Lan, Trúc, Cúc hoặc Tùng, Cúc, Trúc, Mai:

Đời đời nối chí
Lộc lộc trường xuân
Gia gia phú quý
Hạ hạ dư ngân
Thu thu trang trọng
Trẻ trẻ minh tâm
Lão lão mãn nguyện
Đông đông quây quần
Mai mai chớm nụ
Lộc lộc trường xuân
Lan đua phú quý
Hạ rắc kim ngân
Thu thu vàng cúc
Trẻ trẻ vinh thân
Già, đời ấm áp
Đông, trúc quây quần

Những câu đối liên quan đến Hoa Mai[sửa]

Bích đào hồng tươi vui đón tết
Mai vàng hớn hở rộn chào xuân

BS Phạm Thị Mai

Mai trí tuệ yêu kiều tô cảnh tết
Sen từ bi diễm lệ điểm trời xuân

Khất sĩ

Mai vàng nở rộ mừng năm mới
Đào hồng khoe sắc đón xuân sang

ST

Đào mai lộng lẫy mừng vinh phú
Liễn đối rình rang vẫy lộc tài

Nguyên Đán _ Khang Nguyên

Xuân đáo bình an tài lợi tiến
Mai khai phú quý lộc quyền lai

Sưu tầm

Trúc báo bình an toàn gia thịnh
Mai khai phú quý khắp nhà xuân

Sưu tầm

Yêu kiều Mai trắng vương hình cũ
Sắc thắm Đào hồng đọng bóng xuân

BS Phạm Thị Mai

Mai hồng rải ngọc khắp quê hương
Áo trắng tung bay ửng nụ hường

Duyên Quê - Nguyên Xuân

Hân hoan Tùng Trúc vươn cành lộc
E ấp Mai Đào hé nụ hoa

Mừng Tết - Phạm Hồng Thái

Lung Linh mai thắm khoe vài nụ
Lấp lánh đào hồng cũng chớm hoa

Xuân Tình - Mộng Uyên Ương (Mai đỏ Đài Loan)

Đào xinh hé nụ bung đài trổ
Én nhỏ chao mình vỗ cánh bay

Nguyện Ước Xuân - Nguyên Xuân

Ngập cõi huyền mơ đào thắm trổ
Mai vàng thẹn nép tuổi tròn mươi

Hansy

Nở nụ cười tươi mai đón tết
Toả niềm vui mới cúc chào xuân

St

Nghe xuân rung gió gọi cho hoa
Sắc đỏ anh đào rợn thiết tha

Mộng Xuân - Thao Thức

Nhành hoa sắc tỏa theo mây thoáng
Dáng liễu xa đưa ngả ánh hoàng

Dáng Xuân - Trần Mạnh Đan (Mai Nhật Bản)

Hoa xòe cánh điệp chồi duyên dáng
Nụ khép tình thơ lá điệu đàng

Nàng Xuân - Nguyên Xuân

Xuân đáo bình an tài lợi tiến
Mai khai phú quý lộc quyền lai

St

Lộc biếc mai vàng xuân hạnh phúc
Chồi xanh đào thắm tết an khang'

ST

Mai vàng bung nụ reo mừng tết
Đào thắm nở cánh nhắn vui xuân

BS Phạm Thi Mai

Những câu đối khắc tại đền thờ tổ ca trù ở Phượng Cách[sửa]

Đền thờ tổ Ca trù ở xã Phượng Cách huyện Quốc Oai, có tên gọi là Đền bá Vương. Ngôi đền do dòng họ Nguyễn Thế - dòng họ kế truyền giữ nghệ ca trù ở Phượng Cách, dựng lên và chăm nom thờ cúng. Cửa điện treo đôi câu đối:

Phượng yết tiên bà thiên cổ kính
Cầu lưu hậu trạch vạn niên tư

Tạm dịch:

Cảnh đền như tiên soi gương, Phượng vẫy cánh
Ơn dày thấm nhuần lưu lại vạn năm tưởng nhớ

Gian bên trái là ban thờ hai vị tổ nghề Ca trù: Đinh Dự và Mãn Đường Hoa công chúa. Tượng bà đặt bên trái, đầu đội mũ cánh phượng tay phải cầm quạt. Tượng ông đặt bên phải, đầu đội mũ cánh chuồn. Hàng cột trong treo đôi câu đối:

Nam quốc tôn sư thùy giáo quần phương ca vũ
Bắc phương chính khí tạo di vạn cổ sắt cầm

Tạm dịch:

Nước Nam tôn là bậc thày đã dạy cho khắp nơi ca múa
Phương Bắc coi là bậc chính khí để lại muôn đời tiếng đàn

Gian bên phải là ban thờ đào nương, sau là chủ tướng Nguyễn Thị Sáu (tục gọi là Đào Nhu). Truyện rằng, cuối năm 1883 (Tự Đức thứ 3) thành Sơn Tây bị thất thủ, một phòng binh là Dương Hữu Quang (còn gọi là Tự So) chạy về làng Sơn Lộ (Kẻ So) chiêu tập thủ hạ tổ chức chống Pháp. Trước đó do hợp duyên trai tài gái sắc, Đào Sáu và Dương Hữu Quang đã gá nghĩa trăm năm. Khi Tự So bị nội phản ám hại, Đào Nhu đã đứng lên thay chồng tiếp tục cuộc chống Pháp, tiếng tăm vang khắp xứ Đoài. Cửa ban treo đôi câu đối:

Nhất đại trung tâm chinh Pháp tặc
Thiên thu khí tiết khởi trù thanh

Tạm dịch:

Cả một đời giữ lòng trung đánh Pháp
Nghìn thu khí tiết khởi lên từ tiếng hát ca trù

Những câu đối liên quan đến Sân Khấu Ca Kịch Cải Lương[sửa]

  • Tiền thân của nghệ thuật cải lương là các tài tử hát ca trong các buổi lễ gia tư. Năm 1911, ông Tư Triều muốn có nhiều khán giả nên đã thương lượng với ông chủ của một khách sạn ở Mỹ Tho cho nhóm ông biểu diễn cho các khách, họ được khán giả đón tiếp nồng nhiệt và được sự để ý của một ông chủ rạp hát bóng gần đó. Lúc đó sân khấu rất đơn giản, các tài tử bận quốc phục ngồi trên một bộ ván biểu diễn, không giống cải lương bây giờ. Đến nay, nhiều ghi nhận cho thấy tên cải lương xuất hiện vào năm 1920 tại bảng hiệu gánh hát Tân Thinh trên câu liên đối:
"Cải cách hát ca theo tiến bộ
Lương truyền tuồng tích sánh văn minh"
Theo ghi nhận của soạn giả Nguyễn Phương - định cư ở Canada - thì đôi câu đối trên của ông Lâm Hoài Nghĩa - thầy tuồng của gánh Tân Thinh. Gánh Tân Thinh của ông Trương Văn Thông, và câu đối này xuất hiện khi gánh hát khai trương
  • Thuật ngữ “Đờn ca tài tử” có nhiều tên gọi như âm nhạc tài tử, ca nhạc tài tử, nhạc tài tử. Đây là loại hình nghệ thuật dân gian độc đáo của người Nam Bộ, hình thành và phát triển từ cuối thế kỷ XIX, gốc từ nhạc lễ, nhã nhạc cung đình Huế kết hợp làn điệu dân ca ngọt ngào của các địa phương Nam Bộ. Nền tảng của đờn ca tài tử là 20 bản tổ. Giới đờn ca tài tử còn chia bài bản tài tử ra thành 10 loại, do đó dân gian đã lưu truyền câu đối sau:
Thức thời tối thiểu làu thông nhị thập huyền tổ bản
Quán thế thậm đa lịch luyện thất thập nhị huyền công

nghĩa là:

Người hiểu biết về đờn ca tài tử không chỉ am tường tối thiểu 20 bản tổ
Mà còn phải biết thông suốt 72 bài bản khác nhau

Những câu đối Tết đề ở cung điện của vua chúa ngày xưa[sửa]

vế ra: Long phi phượng vũ tung thiên thụy (Rồng bay phượng múa đời tươi đẹp)
vế đối: Nhất lãng phong hòa đại địa xuân (Trời sáng phong hòa đất thắm xuân)
Long phi còn có nghĩa là vua lên ngôi, những gì cao sang, tôn kính liên quan đến nhà vua đều được dùng những thuật ngữ gần nhiều chữ chỉ thuộc tính có thêm các từ như “long”, “hoàng”, “ngự”, “điện”… đặt trước hoặc sau. Riêng về địa danh, di tích ở cố đô Huế còn có các tên gọi Kim Long, Thanh Long, Hàm Long, Hàm Rồng (ở điện Hòn Chén), Long Hồ, Thảo Long, Long Thọ, Chí Long, Ô Long, Bến Ngự, Ngự Bình, Ngự Viên và Giác Hoàng, Long Quang (hai quốc tự)
vế ra: Thủy tú sơn thanh Dương xuân hữu cước (Núi xanh nước bước, Dương xuân chuyển)
vế đối: Niên phong nhân thọ hạnh phúc vô biên (Thời giàu dân thọ, hạnh phúc đầy)
Trong kinh Dịch, quẻ Kiền gồm 6 vạch. Kiền tức là trời, có nghĩa là mạnh. Kiền là đầu muôn vật cho nên là Trời, là Dương, là Cha, là Vua. Kiền lấy con rồng làm Tượng, rồng là loài vật thiêng liêng biến hóa không thể lường được. Kinh Dịch viết: “Long hiện tại điền, lợi kiến đại nhân”, có nghĩa là “Rồng hiện ở ruộng thì lợi cho sự thấy của người lớn”. Ông vua lấy đức lớn để trị nước yên dân, bề tôi có đức lớn làm công thần danh tướng giúp vua khiến cho đất nước thịnh vượng
vế ra: PHỤC BÁT THUẦN KIỀN
vế đối: CẤU BÁT THUẦN KHÔN
Cái “lạ” của đôi câu đối này ở chỗ: không đối chữ mà đối “Quẻ”, đối “hào”, đối Ý: (Vế ra gồm quẻ “Phục” – năm vạch đứt + một vạch liền tức 5 Hào âm + 1 hào dương (có nghĩa là “trở lại”, mang Hành “Thổ”) đứng vị trí quẻ thượng. Dưới quẻ Phục là quẻ “Bát thuần Kiền” – toàn vạch liền tức Hào dương (quẻ hạ, có nghĩa là Trời, mang Hành Kim). Vế đối gồm quẻ “Cấu” – năm vạch liền + một vạch đứt tức 5 Hào dương + 1 hào âm (có nghĩa là “gặp gỡ”, mang Hành “Kim”) đứng vị trí quẻ thượng. Dưới quẻ Cấu là quẻ “Bát thuần Khôn” – toàn vạch đứt tức Hào âm (quẻ hạ, có nghĩa là Đất, mang Hành Thổ)
vế ra: Nào thuở trước dưới rừng cây nghe nhạc ngựa, thấp thoáng bóng dù dáng kiệu, những than dài chí cả trượng phu
vế đối: Mà đến nay ngồi bệ ngọc ngắm tranh người, xôn xao đầu mũ gót hài, lại làm khoảnh ngôi sang hoàng đế
  • Câu đối khắc ở ngoài cung đình Huế nhân một dịp Tết:
Bách hoa thổ diễm xuân phong noãn (Trăm hoa nhả đẹp gió xuân ấm)
Vạn chúng cánh tân quốc vận xương (Vạn nhà thêm mới vận nước lên)
  • Câu đối Tết đặc biệt:
Mai Khai Ngũ Phúc 梅開五福 (Hoa mai nở 5 cánh như mang đến 5 cái phước cho gia đình (5 cái phước đó là: Thọ, Phú, Khang ninh, Du hảo đức và Khảo chung mệnh. 五福 是: 寿,富,康寜,攸好德,考终命。Sống lâu, giàu có, mạnh khỏe, được tiếng tốt và chết an lành. Đó là 5 cái phước mà mọi người đều mong mỏi.)
Trúc Báo Tam Đa 竹報三多 (Một chi nhỏ của nhánh trúc thường có 3 lá, như điềm báo mang đến 3 cái nhiều (Tam Đa ) mà người ta thường mong mõi. Đó là: Đa Phúc, Đa Thọ, Đa Nam Tử 三多 是: 多福,多寿,多男子。Nhiều phước, nhiều thọ, nhiều con trai)

Bây giờ ta khai triển nó thành câu đối 5 chữ:

Mai khai trình ngũ phúc 梅 開 呈 五 福
Trúc báo hiến tam đa 竹 報 献 三 多

Cho nó thành 6 chữ:

Mai khai khai trình ngũ phú 梅 開 開 呈 五 福
Trúc báo báo hiến tam đa 竹 報 報 献 三 多

Cho nó thành 7 chữ:

Mai khai ngũ phúc niên niên phúc 梅 開 五 福 年 年 福
Trúc báo tam đa tuế tuế đa 竹 報 三 多 嵗 嵗 多

Hoặc đảo ngược lại cho nó hay hơn như:

Trúc báo tam đa đa hiến thoại 竹 報 三 多 多 献 瑞,
Mai khai ngũ phúc phúc lâm môn 梅 開 五 福 福 臨 門

Hoặc ta nhập 2 câu đối 4 chữ lại thành câu đối 8 chữ như:

Ngũ phúc lâm môn, tam dương khai thái 五福臨門,三陽開泰
Nhất nguyên phục thủy, vạn tượng canh tân 一元復始,萬象更新

Những câu đối Tết xuất hiện đầu thế kỷ XX[sửa]

Câu đối tết Quý Mùi - Ất Dậu - Bính Tuất - Kỷ Sửu - Canh Dần[sửa]

1 - Câu đối đón xuân Quý Mùi (2003):

Tiễn Ngựa đi, chúc Xuân vui hạnh phúc
Đón Dê về, mừng Tết đạt thành công
Cuối năm dê nâng chén rượu mùi, gặp vận đỏ chớ dương dương tự đắc
Đầu giờ chuột gọi bu cái tí, tụt quần hồng xem thử thử xem (Trọng Khuê)
  • vế ra: TẾT NĂM MÙI, ÔNG LÃO DÊ MUA HOA MÕM CHÓ, GÓI GIẤY MỠ GÀ, ĐEM TẶNG CHO MÈO, MÀ KHÔNG BIẾT HỔ (khuyết danh)
vế đối: XUÂN MẬU THÂN ÐÁM CON KHỈ DẪN BỌN ÐẦU TRÂU, ÁO QUẦN CƯT NGỰA, ÐI GIẾT NÒI RỒNG, ÐỂ LÒI MẶT CHUỘT (Tuệ Quang)
vế đối khác 1: XUÂN QUÝ DẬU, GÃ MA GÀ LÓC THỊT ÐUÔI TRÂU, NHỒI DA CHÂN CHÓ, LẤY VỀ BẪY CỌP, LẠI CHẲNG PHÒNG THÂN (khuyết danh)
vế đối khác 2: Xuân bính Tí, bố thằng Chuột bán quả cà Dê, hầm da xương Lợn, khách chê còn Rắn, đem đổ cho Heo (khuyết danh)
vế đối khác 3: XUÂN CHÚ CHUỘT, BÉ CU TÍ HÁI NỤ MÀO GÀ, VÔ BAO DA RẮN, CÚNG DÂNG ÐẾN CÁO, VẪN KHỔ NHƯ TRÂU (khuyết danh)

2 - Câu đối đón xuân Ất Dậu (2005):

  • Có mới nới cũ:
Dẫu kín bưng rào giậu, cũng giựt mình nghe Tết đâm hông, cựa Ất Dậu hăm he khôn cục cựa
Có co cụm toàn thân, chừa lỗ mũi hửi Xuân nồng nặc, mùi Giáp Thân cũ kỹ ắt phai mùi
  • Tống cựu nghinh tân:
Chuyện cũ bỏ qua, trò khỉ Giáp Thân đừng tái phạm, thiết bảng bởi Tề Thiên Đại Thánh, chửa ê mông?
Xuân tươi tìm tới, cựa gà Ất Dậu nhọn răn đe, bình minh theo Tử Mỵ Linh Kê, rền trỗi giọng !
  • Tặng người nông dân:
Gà gáy rền vang, đứng bờ giậu kéo bình minh sớm sủa
Người siêng làm lụng, dụng toàn thân mà phát triển công năng
  • Tặng người tiểu thương:
Năm mới năm me, buôn may bán đắt, lá lành đùm lá rách, anh ơi
Chuyện làng chuyện khóm, trong ấm ngoài êm, sự nhịn chín sự lành, chị nhé
  • Tặng anh học trò:
Đừng học thói gà quẹt mỏ, ăn quả nhớ kẻ trồng cây
Bỏ qua trò khỉ phá làng, tu thân mai này giúp nước
  • Thỉnh đối:
Thơ thẩn dạo làng thơ, khách mộ điệu thờ ơ, thợ thơ mất thớ ngồi thở dài than ngắn
Gà mái tơ gặp tay gạ gẫm, tưởng gá nghĩa trăm năm, nhắc cưới gả, gã rồ ga tếch thẳng

3 - Câu đối đón xuân Bính Tuất (2006):

Tết với chả xuân, sáng mì gói tối mì gói, sợ vợ buồn ngán mà không bỏ, nuốt vội để mà no
Dậu rồi thì Tuất, xưa kéo cày nay kéo cày, lo chủ đuổi mệt chẳng dám ngưng, làm nhanh không mất việc

4 - Câu đối đón xuân Kỷ Sửu (2009):

Năm Tý qua, cháy nhà mới ra mặt chuột
Xuân Sửu đến, gảy đàn cố lọt tai trâu

5 - Câu đối đón xuân Canh Dần (2010):

  • Vế xuất của Giang Hà:
vế ra: Canh chừng cọp giấy, Dần lấn biển (Giang Hà - nhân dịp tết Canh Dần)
vế đối 1: Quý chi mèo vẽ, Mẹo nhường non (NL)
vế đối 2: Ất ơ mèo mỡ, Mão rơi sông (Vũ Đan Huyền)
vế đối 3: Kỷ gì nghé ọ, Sửu nhường non (Trần Phú Dũng)
  • Câu đối khác:
vế ra: Cuối năm Trâu được bữa thịt lừa, mấy chú nhà văn trơ mắt ếch (Trọng Khuê)
vế đối: Đầu xuân Hổ buông lời hứa hoẵng, một thằng xã toét lộ tim hươu (Đỗ Vĩnh Bảo)
vế ra: Chớ nên Hung Hổ vỗ Bụng Hùm, cần chú ý Canh Dần miệng Cọp (Hung Hổ hán tự cũng có nghĩa là bụng hùm)
vế đối: Nếu muốn Thủ Thỉ chén Đầu Lợn, phải lưu tâm Quý Hợi đàn Heo (Thủ Thỉ hán tự cũng có nghĩa là đầu lợn)

Câu đối đón Tết Tân Mão (2011)[sửa]

  • Câu đối của Hoàng Hải:
Năm Canh Dần kết thúc, báo cáo lãnh đạo, tổng kết kế hoạch của năm qua, nhìn lại, tuy không ít khó khăn - nhưng đã thu bao nhiêu thắng lợi!
Xuân Tân Mão bắt đầu, kính gửi cấp trên, triển khai chương trình từ xuân mới, xem ra, vì có nhiều thuận lợi - nên sẽ đạt gấp bội thành công!
Năm Canh Dần hết, tiễn cọp đi, tài sức có thừa sao xếp xó!
Xuân Tân Mão tới, đón mèo lại, vuốt nanh tuy nhỏ cũng tung hoành!
  • Câu đối của Trần Hợp:
Đất nước thanh bình vui Tết đến
Xóm làng rộn rã đón Xuân sang
Làng xóm văn minh vui Tết đến
Gia đình hạnh phúc đón Xuân sang
Tết đến hân hoan, dâng trái ngọt hoa thơm, con làm tròn đạo hiếu
Xuân về phấn khởi, thưởng sách hay vở đẹp, bố giữ vẹn tình thương
Tết đến I-meo ĐÔN THƯ vui mừng chờ tri kỷ (chờ chí sĩ)
Xuân về Bờ-lốc QUÊ MẸ phấn khởi đón bạn hiền (đợi thi nhân)
  • Những câu đối khác:
Canh Dần qua, cành đào đã đỏ hoa mừng tết, đón xuân về, thêm thắm tươi màu đỏ, điểm tô phong vị tết (Ngọc Thanh)
Tân Mão tới, cây quất vừa vàng quả chào xuân, vui tết đến, càng rực rỡ sắc vàng, ngời sáng bức tranh xuân (Phạm Vũ Thanh Đôn Thư)
Nâng cành tỉa lá, phát huy luân lý nhân văn, hoa mỹ tục nở bừng khắp nước
Gạn đục khơi trong, chọn lọc tinh hoa tiến bộ,đuốc thuần phong soi sáng mọi nhà
Chúc tết, chúc cán bộ năng động, thanh liêm, kiến tạo cho đời muôn lộc Tết
Mừng xuân, mừng nhân dân chuyên cần, tiết kiệm, vun trồng cuộc sống vạn mầm Xuân
Trời đất giao hòa Xuân ấm áp
Vợ chồng hạnh phúc Tết yên vui
Năm mới, bố quyết tâm mở rộng vườn ao, đưa kinh tế gia đình tiến lên cùng đất nước (Lê Liêm)
Xuân sang, con gắng chí chăm lo đèn sách, mai sau giúp quê hương sánh bước với non sông (Phạm Vũ Thanh Đôn Thư)
Tuổi Dần tính Hổ, hết năm Dần Hổ cái biến Mèo con (Nhạc sĩ Hùng Cường)
Năm Mão nết mèo, sang tuổi Mão Mèo non thành Hổ lớn (Ngọc Thanh)
Tết Tân Mão, mạo muội khuyên mèo chớ than nghèo kể khổ (Trần Đình Thư)
Xuân Canh Dần, thì thầm nhắc hổ nên ôn cố tri tân (Ngọc Thanh)
Đôn THƯ mở trang THI phú, mời THI nhân THI thố THI THƯ (Việt Thanh)
Web VIỆT cung đón SĨ nhân, muốn SĨ tử SĨ danh SĨ VIỆT (Phạm Vũ Thanh Đôn Thư)
THI là THƠ, NHÂN là NGƯỜI, THI NHÂN có NHÂN cách NGƯỜI THƠ (Việt Thanh)
HỌA phải VẼ, SĨ tác NGHIỆP, HỌA SĨ mòn mỏi theo NGHIỆP VẼ (Phạm Vũ Thanh Đôn Thư)

Câu đối Tết Nhâm Thìn (2012)[sửa]

  • Câu đối của Tiến Sĩ Lê Xuân Nghĩa:

TS. Lê Xuân Nghĩa, Phó chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia không giấu tâm trạng của mình khi đăng đàn tại hội thảo “Kịch bản kinh tế Việt Nam 2012: Đâu là cơ hội?”, do Thời báo Kinh tế Việt Nam tổ chức tại Tp.HCM sáng 9/12. Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính tiền tệ Quốc gia, vị chuyên gia rất gần gũi với người đứng đầu Chính phủ, ông Trương Đình Tuyển hơn một lần nhấn mạnh đến thông điệp chính sách với tư tưởng chung là giảm bớt khó khăn cho doanh nghiệp. Thông điệp này không chỉ được thể hiện tại phát biểu của Thủ tướng trước Quốc hội tại kỳ họp thứ hai mà còn ở các hành động cụ thể như giảm tỷ lệ huy động vào ngân sách hay giãn, giảm, miễn thuế cho doanh nghiệp…Dù có vui lên sau khi “chớp” được vài điểm sáng từ “bức tranh” toàn cảnh về nền kinh tế được ông Tuyển phác thảo, song TS. Lê Xuân Nghĩa vẫn chia sẻ tâm trạng qua đôi câu đối “đón xuân” của ông:

Hàng ế chất chồng chờ tết đến
Nợ đòi réo rắt đón xuân sang
  • Những câu đối khác:
Môn đa khách đáo thiên tài đáo (Cửa nhiều khách đến nhiều tiền đến)
Gia hữu nhân lai vạn vật lai (Nhà có người vào lắm vật vào)
Sơn thủy thanh cao xuân bất tận (Phong cảnh thanh cao xuân mãi mãi)
Thần tiên lạc thú cảnh trường sinh (Thần tiên vui thú cảnh đời đời)
Xuân như cẩm tú, nhân như ngọc (Xuân như gấm thêu, người như ngọc)
Khách mãn gia đình, tửu mãn tôn (Khách chật trong nhà, rượu hết chung)
Phúc sinh lễ nghĩa gia đường thịnh (Phúc đem lễ nghĩa trong nhà thịnh)
Lộc tiến vinh hoa phú qúy xuân (Lộc nảy vinh hoa phú quý xuân)
Niên niên như ý xuân (Năm năm xuân như ý)
Tuế tuế bình an nhật (Tuổi tuổi ngày bình an)
Nhập môn tân thị kinh luân khách (Vào cửa toàn khách kinh luân)
Mãn tọa dai đồng cẩm tú nhân (Ngồi chơi toàn người cẩm tú)
Niệm tiên tổ, duật tu quyết đức (Nhớ tổ tiên, đẹp điều nhân đức)
Khải hậu nhân,trường phát kỳ tường (Tin cháu con bền sự lạ hay)
Thảo ốc an cư, tích kim quang đắc đức (Nhà cỏ ở yên, tích kim quang được đức)
Bố y tùy phận, cầu phúc đức lai tài (Áo vải an thân, cầu phúc đức đến tài)
Thiên địa vô tư, tích thiện tự nhiên thiện (Trời đất vô tư, làm điều thiện tự nhiên được thiện)
Thánh hiền hữu giáo, tu thân khả dĩ vinh (Thánh hiền có dạy, lo tu thân có thể được vinh)
Ðịa sinh tài, thế nghiệp quang huy (Ðất sinh tài nghiệp đời sán lạn)
Thiên tứ phúc, gia thanh hiện thái (Trời ban phúc, nhà tiếng tốt tươi)
Phúc mãn đường, niên tăng phú qúy (Phúc đầy nhà, năm thêm giàu có)
Ðức lưu quang, nhật tiến vinh hoa (Ðức ngập tràn, ngày một vinh hoa)
Trúc bảo bình an, tài lợi tiến (Trúc giữ bình yên, thêm tài lợi)
Mai khai phú qúy, lộc quyền lai (Mai khai phú qúy, lại lộc quyền)
Tiên tổ phương danh lưu quốc sử (Tiên tổ danh thơm ghi sử nước)
Tử tôn tích học hiển gia phong (Cháu con tích học nổi cơ nhà)
Liên tọa đài tiền hoa hữu thực (Tòa sen đài trước hoa đầy đủ)
Bồ đề thụ thượng qủa thanh nhàn (Cổ thụ bồ đề qủa thanh nhàn)
Đa lộc, đa tài, đa phú quý (Nhiều lộc, nhiều tài, nhiều của cải)
Đắc thời, đắc lợi, đắc nhân tâm (Gặp thời, được lợi, được lòng người)
Ngoài cửa mừng Xuân nghênh Ngũ Phúc
Trong nhà chúc Tết hưởng Tam Ða
Ngũ phúc lâm môn … còn thiếu
Tam nguyên khai thái … có thừa
Tuế hữu tứ thời xuân tại thủ (Năm có bốn mùa, mở đầu bằng mùa Xuân
Nhân bách hạnh hiếu vi tiên (Người ta có trăm tính nhưng tính hiếu thảo là cần trước hết)
Đêm ba mươi, đếm tờ lịch, ba mươi tờ buồn xa tháng cũ
Sáng mồng một, ngắm cành mai, đơn một cành vui đón năm mới
Tân Mão đã sau lưng, mong việc đến chớ làm như Mèo mửa
Nhâm Thìn vừa kề cửa, chúc lời ra đừng nói tựa Rồng leo
Số lông vịt xác xơ, tiền chỉ mấy xu, sắm nào được gì, nên không mong tết
Đời ve chai tan nát, tuổi đà dăm bó, cho có ai thèm, mới chẳng tiếc xuân
Giáo dục sức khỏe đến muôn nhà
Truyền thông tri thức về bản xa

Câu đối mừng xuân Quý Tị (2013)[sửa]

  • Câu đối của Trần Tam Giáp:
Mừng Nhâm Thìn đối ngoại trưởng thành như hoa nắng sớm
Vui Quý Tỵ ngoại giao khoe sắc, rực rõ chiều xuân
Trai đối ngoại kiên trì hương bản sắc
Gái ngoại giao gìn giữ đức khuê trang
  • Những câu đối khác:
Hồng phát lập trường sinh ý toại
Khai trương trùng điệp đáo lai xuân
Non biển cầm tay đất nước bốn ngàn năm Tuổi Trẻ
Đá vàng tỏ mặt, rồng tiên ba vạn sáu niềm xuân
Xuân an khang đức tài như ý
Niên thịnh vượng phúc thọ vô biên
Nâng chén trà xuân, Câu uống nước nhớ nguồn đừng sao nhãng!
Nhấp ly rượu tết, Chữ đền ơn đáp nghĩa chớ nhạt phai!
Đảng thuỷ chung một dạ vì Dân, Thêu cơ nghiệp nước Nam bền vạn thuở
Dân son sắt vạn niềm tin Đảng , Dệt tương lai đất Việt sáng muôn đời
Phép nước nghiêm minh, Trên dưới đồng tình XUÂN PHÁT LỘC
Nếp nhà bền vững, Anh em hoà thuận TẾT ĐƠM HOA
Đảng kiên trung -Tổ quốc vững bền
Dân cần mẫn - nước nhà giàu mạnh
Bức tranh xuân đường nét rộn ràng, phố xá, xóm làng bừng khí thế
Tờ báo tết tin bài hấp dẫn, công trường, xí nghiệp rộn niềm vui
Chúc Tết, Chúc cả nước nêu cao bầu nhiệt huyết, Dốc toàn tâm sức, Dựng cơ đồ Đất Việt phồn vinh
Mừng xuân, Mừng toàn dân siết chặt khối đồng tâm, Đem hết tài năng, Xây bờ cõi Nước Nam vững chãi
Lộc biếc, mai vàng, xuân hạnh phúc
Đời vui, sức khoẻ, Tết an khang
Giữ lòng thanh bạch, theo lẽ công bằng, sống đời nhân ái - Xuân mãi mãi Xuân
Nêu tính kiên trung, tỏ lời thẳng thật, thương kẻ bần hàn - Tết hoài hoài Tết
Kiên trì đường lối, vững bước tiến lên, xây đất nước huy hoàng ngàn vạn Tết
Đổi mới tư duy, mạnh đà vươn tới, dựng Giang Sơn rạng rỡ triệu muôn xuân
Đảng anh minh, chung thủy vì dân, Đảng vĩ đại do lấy dân làm gốc
Dân trung dũng, sắt son tin Đảng, Dân mạnh giàu bởi có Đảng tiên phong
Đón thời cơ, sáng suốt tiến lên, vững quan điểm hoà đồng không mất gốc!
Vượt thử thách, kiên cường đi tới, sáng chủ trương hội nhập chẳng quên nguồn!
Chắc lập trường hoà nhập chẳng hoà tan, xây đất nước từng ngày phát triển
Sáng quan điểm, Tự cường không tự mãn, giữ Giang Sơn muôn thuở vững bền
Đảng anh minh, cán giỏi, binh hùng, Non sông Việt Tưng bừng đường phát triển
Dân đoàn kết, nhà yên, nước thịnh, Đất trời Nam xán lạn hướng tương lai
Mở con đường Mang túi thuốc Đến với vùng cao Buôn sóc hân hoan Chào Tết đến
Gùi cái chữ, cõng đường dây, về cùng miền núi, bản mường phấn khởi Đón xuân sang
Đi giữa chợ hoa xuân, cảnh sắc tưng bừng, nhớ chốn biên cương sương tuyết phủ
Bước vào khu chợ Tết, âm thanh nhộn nhịp, thương nơi hải đảo gió mưa gào
Đón xuân, đón tết, đón đất nước vươn mình gió lặng trời trong vui mọi nẻo
Mừng Đảng, mừng dân, mừng non sông đổi mới hoa thơm trái ngọt đẹp muôn nhà
Tết trồng cây non nước rộ mầu xanh, xanh vạn thuở ấm tình Người vĩ đại
Xuân kiến thiết quê hương bừng nét đẹp, đẹp muôn đời công đức Đảng quang vinh
Tuế hữu tứ thời xuân tại thủ
Nhân ư bách hạnh hiếu vi tiên
Cán bộ giữ chữ chính, liêm phấn đầu hy sinh, dân hạnh phúc ắt bền gốc rễ
Nhân dân nhớ câu cần, kiệm quên mình lao động, nước phồn vinh do tự ngọn nguồn
Mừng tết luyện quân hùng, chiến thuật tinh thông, tỉnh táo gác canh trời Tổ quốc
Đón xuân rèn tướng giỏi, bài binh bố trận cơ mưu phòng vệ đất quê hương
Trải nghìn năm văn hiến, đất Thăng Long từng quy tụ nhân tài
Tiếp truyền thống hòa hoa, người Hà Nội luôn mở mang tri thức
Hai mươi tuổi trẻ măng, các cụ cũng gọi thầy nghe mà đỏ mặt
Sáu chục xuân già cả, con trẻ tự xưng em nghĩ lại tươi đời
Nhớ thủa rồng lên ngày mới Thăng Long, Vua Lý dâng hương tiên tổ
Vào mùa én liệng, tiết xuân Hà Nội, Bác Hồ chúc Tết nhân dân
Ngày xuân kiến tạo bức tranh xuân, vươn tới đỉnh cao Chân - Thiện - Mỹ
Năm mới dựng xây con người mới, chói ngời gương sáng Đức - Tài - Tâm
Già mẫu mực, tâm đức nêu gương, việc đạo việc đời. truyền con cháu
Trẻ xông pha. nhiệt tình phấn đấu, chữ trung, chữ hiếu, học ông bà
Đổi mới không đổi đường, nối gót ông cha giương cao cờ độc lập
Hoà nhập chẳng hoà tan, noi gương tiên tổ mài sắc chí kiên cường
Mấy nghìn năm giữ nước lấy nhân nghĩa thắng bạo tàn tết đến trời Nam xuân một cõi
Bao thế hệ xây đời, biến khó khăn thành thuận lợi xuân sang đất Việt tết muôn nhà
Tết Canh Dần đi chợ Hàng Da, mua xương Cọp về nấu cao Hổ Cốt
Xuân Quý Tị đến làng Lệ Mật, lấy tim Rắn về ngâm rượu Xà Tâm
Bạch Đằng dậy sóng giữ bình yên
Trường Sa nổi gió nắm chủ quyền

Câu đối Tết Giáp Ngọ (2014)[sửa]

Đón năm mới, Dân tộc vững tin, một lòng đoàn kết
Mừng xuân về, Đất nước vững vàng, tiếp tục vươn xa
Đón xuân sang Tam Đảo vươn tầm mở rộng cửa đón chào du khách
Mừng tết đến Vĩnh Yên mạnh bước đẩy nhanh đà xây dựng quê hương
Bạch mã tráng tâm bôn đại đạo (Bạch mã hùng tâm phi trên đường lớn)
Thanh xuân hạo khí hiến Việt Nam (Xuân xanh hạo khí dâng tặng Việt Nam)
Ngựa rong ruổi xông pha chiến trận vượt chông gai sức vóc dẻo dai
Xuân Giáp Ngọ mã phi nước đại kết vành hoa trên đỉnh tượng đài
Muôn nhà chung sức chung lòng, giữ gìn mỹ tục thuần phong, xây dựng gia đình văn hóa
Cả nước toàn tâm toàn ý, trân trọng luân thường đạo lý, bài trừ lối sống lai căng
vế ra: Phúc rạng rỡ niềm vui tươi hy vọng
vế đối 1: Lộc đủ đầy no ấm suốt quanh năm
vế đối 2: Thọ vững bền niềm tin yêu cuộc sống
Tư tưởng Người tỏa sáng nghĩa nhân, đưa dân tộc qua đêm đen nô lệ
Đường lối Đảng chói ngời chân lý, dắt giống nòi đến bờ bến vinh quang
Gìn giữ kỷ cương, nêu cao đạo đức, ông bà mẫu mực, con cháu thảo hiền
Dựng xây nền nếp, coi trọng nghĩa tình, làng xóm văn minh, phố phường sạch đẹp
Mừng xuân hội nhập đa phương tự chủ giữ bền quốc thể
Vui Tết đầu tư bách lối tài hoa nâng dáng quê hương
Hồng kì chỉ dẫn cường bang lộ (Cờ đỏ chỉ dẫn đường đất nước hùng mạnh)
Tuấn mã trì sính phú quốc đồ (Tuấn mã phi trên đường đất mước giàu mạnh)
Rộng đường Xuân, rộng vốn đầu tư, thị trường đa dạng nguồn thu rộng
Tăng cảnh Tết, tăng cường giáo dục, gia quyến thuận hòa phúc lộc tăng
Tết đủ xuân đầy, gia đình hạnh phúc, thuận hòa hiếu thảo
Dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh
Mỗi độ xuân sang, vào hội trồng cây cùng nhớ Bác
Tặng hoa việc tốt, khắp nơi vui thực hiện lời Người
Đất nước thênh thang đường đi tới, triệu người một dạ xây nước non đàng hoàng to đẹp, sánh kịp toàn cầu, cho câu đối Tết đỏ rực khắp muôn nơi
Giang sơn rộng rãi, hướng vươn xa, muôn nhà một chí dựng giang sơn phồn vinh hạnh phúc, ngang hàng nhân loại, để bài ca xuân vang vọng mọi miền
Tết đã bao đời sau trước ngàn lần Tết lại Tết
Xuân không có tuổi đi về muôn thuở Xuân càng Xuân
Chính sách anh minh dân phóng đảm (Chính sách sáng tỏ nhân dân phát triển)
Thần câu đằng phi quốc dương uy (Vó ngựa thần phi như bay, đất nước dương oai)
Đảng anh minh, trên chính dưới liêm, non nước Việt phồn vinh thịnh vượng
Dân đoàn kết, ngoài hòa trong thuận, đất trời Nam bền vững, trường tồn
Đảng yêu Dân, muôn sức Dân nâng thuyền qua bão táp
Dân quý Đảng, một lòng Đảng vững lái vượt phong ba
Dân kiên trung theo đảng tiến lên
Non nước Việt vững bền thịnh vượng
Xuân sang Giáp Ngọ niềm vui tới
Tết rước vinh hoa phú quý về
Tích đức tu nhân thiện cả đời
Làm lành lánh dữ phúc quanh năm
Tân niên Thánh đức bao Ân đức
Xuân nhật an hòa mãi phú vinh
Lộc biếc mai vàng xuân hạnh phúc
Đời vui sức khỏe tết an khang
Trúc báo bình an tài lộc tiến
Mai khai phú quý lộc quyền lai
Giao thừa hái lộc cung kính ông bà, rượu rót đôi ly nghe lời chúc
Mồng một đơm hoa nhớ ơn cha mẹ, trà dâng ba chén nhận lì xì
Mừng xuân đất nước an toàn giao thông tiến
Đón xuân gia đình hạnh phúc lộc an khang
An khang phú quý thái thái bình
Bách lão bách niên trường trường thọ
Sống tu thân tích đức mở rộng lòng, Sống sao cho đáng sống
Xuân phúc lộc bình an tràn muôn lối, Xuân mãi vẫn là xuân
Làng xóm văn minh vui tết đến
Gia đình hạnh phúc đón xuân sang
Làng văn hóa Tết về tiếng thơm bay chín núi
Bản ấm no Xuân đến lời hát rộn mười mường
Xuân sang cội phúc sinh nhành lộc
Tết về cây đức trổ thêm hoa
Xuân đáo bình an tài lợi tiến
Mai khai phú quý lộc quyền lai
Cạn ly mừng năm qua đắc lộc
Nâng cốc chúc năm mới phát tài
Ô hay! Mai nở Xuân vừa đến
Ừ nhỉ! Én bay Tết đã về
Xuân về tung reo ngàn phúc lộc
Tết đến nở rộ vạn hồng ân
Xuân an khang đức tài như ý
Niên thịnh vượng phúc thọ vô biên
Tống cựu nghinh tân mừng xuân mới
Dân an quốc thái đón thanh bình
Đất nước phồn vinh câu chúc Tết
Gia đình hoà thuận thiệp mừng Xuân
Sắc xuân tô thắm lòng nhân ái
Hương tết đượm nồng nghĩa vị tha
Tăng phước, tăng quyền, tăng phú quý
Tấn tài, tấn lộc, tấn vinh hoa
Tiễn Tỵ đi, khép lại nợ nần, rũ túi áo rớt vỉ Viagra, quà Tết
Mời Ngọ đến, mở ra cơ hội, phủi đít quần văng bao Durex, lộc Xuân
Năm Ngọ đến, tới phố Mã mua con ngựa giấy
Tháng Thìn qua, thăm chợ Rồng kiếm chú giao long
Điện Biên Phủ tròn sáu mươi rừng hoa nở
Võ Nguyên Giáp lẻ trăm năm biển đất bồi
  • Vế ra của Lê Đình Long:
vế ra: Xuân Giáp Ngọ , cưỡi tuấn mã nhập Ngọ môn , giáp mặt chàng tuổi ngựa
vế đối 1: Ngày Canh Tý, thử quấn quýt Bả một tý, canh ba đi mèo chuột (NV Hùng)
vế đối 2: Ngày Canh Tý, quấn quýt thử bã tí một, canh xong đi mèo chuột (NV Hùng, LĐ Long)
vế đối 3: Tết Canh Tý , xuất hành thử vào cửa chuột, áp tí nàng tuổi Tý (NN Tín)
vế đối 4: Tết Tân Mão, bế hồng miêu đến hòn Mão, tâng tiu nàng tên Mẹo (NV Hùng)
vế đối 5: Tết Tân Mão, bế hồng miêu đến hòn Mão, thả dê nàng cung mẹo (NV Hùng, LHL Vân)
vế đối 6: Tết Nhâm Mão, bồng linh miêu đội mão ngọc, nhâm nhi nàng giả mèo (LQ Bình)
vế đối 7: Thu Nhâm Thìn, ôm lưng rồng xuất Long cung, bú tí nàng tuổi Tý (PV Đình)
vế đối 8: Đạp Thăng Long, cưỡi lưng rồng chốn Long môn, thẳng đường rồng mà tiến (LV Truyển)
vế đối 9: Xuân Giáp Ngọ, cưỡi tuấn mã nhập Ngọ môn , áp tí nàng tuổi Tý (NN Tín, VT Tân)
vế đối 10: Ánh Triêu Dương, dắt ấu dương theo Dương cước, tránh nhà lão máu dê (LHL Vân)
vế đối 11: Tết Đinh Mùi, dắt ấu dương truy Dương cước, tới nhà lão máu dê (LHL Vân, LĐ Long)
vế đối 12: Tết Tân Mùi, phi sơn dương, qua Mùi Phủ, tân nhan nàng tuổi dê (LĐ Long, VT Tân)
vế đối 13: Hè Quý Mùi, phi sơn dương đáo Mùi Phủ, canh l….hồn nàng tuổi dê (LĐ Long)
vế đối 14: Hè Ất Mùi, vượt đại dương nếm “mùi” đời, tìm gặp em “dê” 1 cái! (HK Hùng)
vế đối 15: Hè Đinh Mùi, vượt đại dương đến Mùi động, Đinh em xả máu dê (HK Hùng, LĐ Long)
vế đối 16: Thu Ất Mùi, dê nàng tiên toa Bình Dương, tỏa mùi dương dê (LV Tỷ)
vế đối 17: Tết Quý Hợi, bắt con lợn, làm heo quay, quỳ dâng em tuổi hợi (HK Hùng)
Vế đối 18: Tết Canh Thân, nhận tước hầu, thăm thân vương, canh con trai năm khỉ (Thiền Long Nguyễn Phước Thạnh).
  • Những câu đối của Ngọc Châu:

1 - Đối đáp với những nhân vật khác:

vế ra: Giáp năm Giáp Ngọ, lũ Ngựa chứng giở chứng, bung chuồng Ngọ nguậy (Kim Lão Tà)
vế đối: Tân tháng Tân Mùi, bày Dê non ăn non, kiếm bãi Dương dê (Ngọc Châu)
vế đối khác: Tân tháng Tân Mùi, đàn Dê cửng buồn sừng, húc dậu Mùi mè (Phan Tự Trí)
vế ra: Xuân Giáp Ngọ, bác Ngọ mặc áo giáp, vênh vang lên xe xuống ngựa, dạo phố Mã Mây, lễ đền Bạch Mã (Ngọc Thanh)
vế đối: Tết Đinh Mùi, cu Mùi dù lên đinh vẫn thích bịt mắt bắt dê ra đồng Dương Cỏn cầu cụ Hoàng Dương (Ngọc Châu)
vế ra: Quí Tỵ qua, rắn ráo em chiên, nhâm nhi rượu ngũ xà chúc tết (Ngọc Thanh)
vế đối: Nhâm Thân lại, đười ươi một dạ, cố nhóm đoàn tam khỉ bày trò (Ngọc Châu)
vế ra: Năm Quý Tỵ đã quý còn tỵ, chỉ thấy tỵ không thấy quý (Gia Khanh)
vế đối: Tháng Canh Dần, xong canh lại dần, thừa giờ canh, thiếu giờ dần (Ngọc Châu)
vế ra: CHÉN RƯỢU RẮN MỪNG XUÂN VỀ VUI THÔN XÓM (Bạch Hồng Ngọc)
vế đối: MÂM CAO NGỰA ĐÓN TẾT TRẨY HỘI NƯỚC NON (Ngọc Châu)
vế ra: Năm Ngọ đến, tới hàng mã mua con ngựa giấy (Gia Khanh)
vế đối: Tháng Thìn qua, thăm chợ Rồng kiếm chú giao long (Ngọc Châu)
vế ra: Ngựa chạy giáp vòng, năm Ngọ biết tài thiên lý mã (Linh Đàm)
vế đối: Rồng leo quanh cột, tháng Thìn quên tịt hội thanh long (Ngọc Châu)

2 - Câu đối làm trọn cả 2 vế:

Giáp Ngọ, ngựa quen đường cũ, mã đáo thành công, họ Cựu hồn kinh
Nhâm Thìn, long đến nhà tôm, ăn như rồng cuốn, làng Tép chết khiếp
NGỰA thương MÃ đau, ngọ ngoạy đầu bảo XÍCH THỐ ngừng ăn cỏ
DẦN khoái BEO tử, ba mươi thỏ cùng HÙM VẰN cắn ngập răng
GIÁP NGỌ CÂU phi thiên lí đá tung bày NGỰA MÃ
NHÂM THÂN KHỈ giả đười ươi che chẳng kín THÂN TƯỜU
Tết GIÁP NGỌ tới rồi, chuồng NGỰA lộn sòng NHÂN MÃ
Xuân QUÍ TỴ vừa hết, hốc XÀ lèn chặt HỔ MANG

3 - Cuối năm 2013, nổi bật lên có vụ án anh em nhà họ Dương tố cáo một nhân vật lớn dính dáng đến tham nhũng và làm lộ bí mật quốc gia, Ngọc Châu có làm câu đối sau:

vế ra: Chưa Giáp Ngọ, ngựa quí đã lở mồm long móng!
vế tự đối: Hết Canh Dần, hùm thiêng đà rơi bẫy cạn cơ!
vế đối khác 1: Sắp Đinh Mùi, dê non đang mở mắt, mọc râu (Ngọc Châu)
vế đối khác 2: Quá Quý Mùi, dê già còn dương cổ vểnh cằm! (khuyết danh)
vế đối khác 3: Lỡ Tân Mùi dê đen vừa teo cẳng gãy sừng! (khuyết danh)
vế đối khác 4: Chẳng Kỷ Mùi, dê non còn trông mặt đặt tên (khuyết danh)
vế đối khác 5: Sắp Ất Mùi, dê hiếm đừng bán chó treo dê (khuyết danh)
  • Những câu đối của Võ Thị Nhật Lệ:
KÍNH CHÚC NON SÔNG HOAN HỈ TẾT
CẦU MONG GIA TỘC LẠC AN XUÂN
XUÂN SANG PHÚ QUÍ GIA MÔN LẠC
TẾT ĐẾN VINH SANG NỘI NGOẠI HOÀ
XUÂN ĐẾN ĐẦY MÂM XÔI THỊT CỖ
TẾT VỀ RỰC LỐI CÚC HỒNG HOA
RẮN CÕNG ĐÔNG TÀN ĐI NGHĨ DƯỠNG
NGỰA THỒ XUÂN MỚI ĐẾN CHIÊU AN
CỔNG TRƯỚC CỔNG SAU HỒNG PHÁO TẾT
NHÀ TRÊN NHÀ DƯỚI THẮM HOA XUÂN
XUÂN VỀ NON NƯỚC BÌNH-AN-LẠC
TẾT ĐẾN CỬA NHÀ PHÚC-LỘC-KHANG
THỌ TRƯỜNG-LỘC PHÁT-TRIỀN MIÊN PHÚC
HẠ MÃN-ĐÔNG TÀN-VĨNH VIỄN XUÂN
  • Những câu đối của Ngọc Thanh:
Quí Tỵ qua, rắn nghỉ chân, mừng xà qui thắng lợi!
Giáp Ngọ đến, ngựa tung vó, chúc mã đáo thành công!
vế ra: Đất nước bốn mùa xuân, đường hạnh phúc thênh thang tiến bước
vế đối: Gia đình ngàn năm tết, lối vinh hoa bát ngát đưa chân
vế đối khác: Non sông ba miền đẹp, cõi giang sơn mê mải ngắm tranh (Diên Minh)
Quí Tỵ qua, rắn ráo em chiên, nhâm nhi rượu ngũ xà chúc tết
Giáp Ngọ đến, ngựa ô anh thắng, rong ruổi xe tam mã vui xuân
Xuân Giáp Ngọ tới, ngựa "câu đối" đã đóng yên, cứ ngọ ngoạy chờ bác cưỡi
Tết Quí Tỵ qua, rắn "vần thơ" vừa trải ổ, đang tị ti đợi người nằm
vế ra: Xuân Giáp Ngọ, bác Ngọ mặc áo giáp, vênh vang lên xe xuống ngựa, dạo phố Mã Mây, lễ đền Bạch Mã
vế đối: Tết Đinh Mùi, anh Mùi đi giày đinh, tấp tểnh bán chó treo dê, thăm phường Dương Nội, chơi xã Hồng Dương
vế đối khác 1: Tết Canh Thìn, cô Thìn diện quần canh, xúng xính hạ hạc thăng rồng, theo phường Long Bửu, thăm miếu Hoàng Long (Đông Thái Phan Tự Trí)
vế đối khác 2: Tết Đinh Mùi, thằng Mùi thửa đầu đinh, lọc lừa xuỵt chó thành dê, theo phường Dương Tử, thăm miếu Hoàng Dương (Đông Thái Phan Tự Trí)
vế đối khác 3: Tết Đinh Mùi, ông Mùi đi giày đinh, vội vã đến trại xem dê, chơi phường Dương Nội, thăm bến Chương Dương (Nguyễn Văn) (Phường Dương Nội thuộc Quận Hà Đông Hà Nội)
vế đối khác 4: Tết Đinh Mùi cu Mùi dù lên đinh vẫn thích bịt mắt bắt dê ra đồng Dương Cỏn cầu cụ Hoàng Dương (Ngọc Châu)
vế đối khác 5: Tết Canh Thìn, cô Thìn ăn cam canh, thảnh thơi dựa mạn thuyền rồng, lạy thần Long Đỗ, thăm thành Thăng Long (Hoacucvang) (Điều thú vị là thần Long Đỗ cũng chính là thần Bạch Mã)
vế đối khác 6: Tết Nhâm Thìn, cô Thìn đi giầy đinh, lộng lẫy đua thuyền rồng, qua cầu Long Biên, thờ miếu Thăng Long (Nguyễn Khắc Ân)
vế ra: Năm Ngọ, tháng Tuất, nhớ câu "khuyển mã chi tình", cẩu tặc chớ trộm chó, giám mã đừng đánh ngựa!
vế đối: Ngày Tỵ, giờ Thìn, vui cảnh "long xà đắc ý", trằn tinh nên tha rắn, quản long hãy thương rồng!
vế đối khác: Tết Dậu, ngày Thân, nghe sấm “Niên lai Thân Dậu”*, người hầu nên nuôi khỉ, bờ dậu (giậu) để chơi gà! (Diên Minh) (Sấm Trạng Trình: "Long vĩ xà đầu khởi chiến tranh, can qua xứ xứ khổ đao binh, mã đề dương cước anh hùng tận, thân Dậu niên lai kiến thái bình")
vế ra: Phận ngựa, thân trâu, ngựa tốt, trâu hiền, sao kêu "đầu trâu mặt ngựa"
vế đối: Tình dê, tính chó, dê ngoan, chó thảo, lại nói "mũi chó râu dê" (thơ Tố Hữu: "Một toán quỉ rầm rầm, rộ rộ. Mắt mèo hoang, mũi chó, râu dê...")
vế đối khác 1: Dạ hùm, lòng sứa, hùm hung, sứa dữ, mới gọi “gan sứa miệng hùm” (Diên Minh)
vế đối khác 2: Kiếp lang, nàn sói, lang liều, sói ác, nên kêu “lòng sói dạ lang” (Phan Tự Trí)
vế đối khác 3: Vợ loan, chồng phượng, loan xinh, phương đẹp, thật xứng “cánh phượng mình loan” (Nguyễn Hữu Thăng)
vế đối khác 4: Mạng dê, số chó, dê lành, chó khôn lại nói “treo chó bán dê" (khuyết danh)
vế ra: Đón xuân Giáp Ngọ, còn bao kiếp người ngựa, ngựa người, bầu ơi, thương lấy bí cùng, lấy lá lành đùm lá rách, hãy nêu cao đạo lí "con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ"!
vế đối: Vui thu Đinh Sửu, vẫn lắm thân chó trâu trâu chó, mận nhỉ, giúp cho đào với, cho tình lớn bọc tình con, nên xóa bỏ lệ thường “ông trâu ngã toàn xã làm mồi” (Theo lệ thường, sau hội chọi trâu ở Đồ Sơn (Hải Phòng), tất cả trâu tham chiến đều đem mổ thịt chia (bán) cho dân trong làng, trong xã để làm mồi nhậu)
vế đối khác 1: Mơ năm Mậu Tuất, chẳng nhiều kiểu chủ chó, chó chủ, con ạ, đừng chê cha mẹ khó, phải anh chột cõng anh què, nên xem trọng châm ngôn: “Chó không chê chủ nhà nghèo”! (Diên Minh)
vế đối khác 2: Nghĩ tết Canh Dần, thật lắm cướp cọp, cọp cướp, người hỡi, đừng tham của ai, chờ trăng rằm tự trăng tròn, cần nhớ mãi phương ngôn: "Hổ chàng thì xấu luôn cả nàng" (Diên Minh) (Cướp : dùng làm danh từ chỉ bọn cướp, "xấu chàng hỏ thiếp" - tục ngữ)
Hoa thơm bướm lượn, cưỡi ngựa xem hoa vẫn thấy thơm hoa lượn bướm
Cỏ biếc chim chao, chăn trâu cắt cỏ còn mê biếc cỏ chao chim
vế ra: Đường cũ xấu qua rồi, tìm đường mới, đừng theo lối ngựa quen đường cũ!
vế đối: Hướng này vui quá đỗi, chọn hướng hay, hãy tin mình em thuộc hướng này!
vế đối khác: Núi mòn xưa khác hẳn, thích núi nay, hãy nhớ tích “ông” phá núi mòn! (Diên Minh) (Ông phá núi mòn là Ngu Công - nhân vật trong điển tích Tàu NGU CÔNG PHÁ NÚI)
vế ra: Vui tết Sửu, ngựa xe như nước, qua đường Kim Ngưu, đến phố Hàng Mã, xem con trâu vàng đá con ngựa giấy
vế đối: Dạo năm Dần, dê khỉ tựa nêm, tìm ổ Bạch Khuyển sang cầu Chương Dương, ngó cậu chó trắng đùa cậu dê bông
vế đối khác 1: Đón Xuân Dần, rồng cá tựa mây, tới mỏ Bạch Hổ về vịnh Hạ Long, ngắm chú cọp trắng vờn chú rồng tre (Nguyễn Văn)
vế đối khác 2: Dạo xuân Mùi, trai gái tựa hoa, thẳng xã Dương Nội xuôi ngõ Nam Ngư, thấy gã dê đực ve gã trai xinh (Diên Minh)
vế ra: Chân trước ngựa đau, vội đi ngựa trước, kiếm hạt mã tiền
vế đối: Cẳng sau rùa cụt, chờ nấu rùa sau, tìm đương qui tửu (Diên Minh) (Đương qui tửu: loại thuốc đông y bổ tì huyết, tiêu máu bầm...)
vế đối khác: Vó sau trâu mỏi, mau chạy trâu sau, tìm cây ngưu tất (khuyết danh)
  • Câu đối của Ngọc Tình:
XUÂN VỀ CHÁU CON ĐÓN CÂY ĐÀO RỂ THẢO QUÊ CHA BẮC
TẾT ĐẾN ÔNG BÀ NHẬN GỐC MAI DÂU HIỀN ĐẤT MẸ NAM
  • Câu đối của Kim Liên:
Thơ ca làm giàu ngôn ngữ, bè bạn hân hoan, Tết đến Câu đối Tết tưng bừng trang mạng Tết
Văn nghệ thư giãn tinh thần, gia đình vui vẻ, Xuân về Bài ca Xuân rộn rã tiếng đài Xuân
  • Những câu đối của Nguyễn Văn:
Đón Xuân sang cả nước rộn niềm vui, Đảng hoạch định hành trình cho dân tộc
Mừng Tết đến khắp nơi vang tiếng hát, Dân phát huy truyền thống của cha ông
Hiến pháp vừa ban, ý Đảng hợp lòng dân đẹp quá!
Tân niên đã tới, lời thơ hòa điệu nhạc vui thay!
vế ra: Ý đẹp lời hay, sáng tác thơ ca chào Xuân mới
vế đối: Mai vàng đào thắm, trang hoàng nhà cửa đón Tết vui
vế đối khác: Tình sâu nghĩa đậm, chúc mừng hạnh phúc đón Tuổi cao (Diên Minh)
vế ra: Tết Ngọ đến, vào Bạch Mã chơi trò cá ngựa
vế đối: Xuân Thìn sang, xuống Hạ Long đua giải thuyền rồng
vế đối khác: Năm Mùi sang, ghé Hồng Dương ăn lẩu thịt dê (Diên Minh)
Năm Tỵ qua rượu bổ tam xà tăng lực
Tết Ngọ đến xe đua tứ mã tấn tài
vế ra: Tết đến Kim Thư đọc sách vàng, thêm quý miền quê văn hiến
vế đối: Xuân về Bích Động thăm hang biếc, càng yêu mảnh đất cố đô
vế đối khác: Xuân lên Bạch Hạc xem chim trắng, mãi ơn đất tổ cội nguồn (Ngọc Thanh)
Ngựa hý biên cương giữ thanh bình dân ăn Tết Ngọ
Rồng chầu hải đảo gìn an lạc nước đón Xuân Thìn
vế ra: Nước bốn nghìn năm, dòng dõi Tiên Rồng ngời sử sách
vế đối: Dân chín chục triệu, cháu con Hồng Lạc rạng tiền đồ
vế đối khác: Nhà muôn vạn nóc, núi sông Nam Bắc đẹp thơ ca (Diên Minh)
vế ra: Năm Rắn đã qua, quý nhau chưa hề ghen tỵ
vế đối: Tết Khỉ vừa tới, giáp mặt mới thấy quen thân (Nguyễn Văn)
vế đối khác 1: Tháng Khỉ lại đến, giáp rồi thật rất mến thân (Ngọc Thanh)
vế đối khác 2: Tháng Cọp gần tới, nhâm nhi mới thấy hiểu dần (Diên Minh)
  • Những câu đối của Việt Thanh Phạm Vũ Lộc:
vế ra: Quí Tỵ qua, rắn độc hết thời, trườn mình về hang âm u, khuất khúc
vế đối: Giáp Ngọ đến, ngựa hay được nước, tung vó trên đường quang đãng, thênh thang
vế đối khác 1: Nhâm Thìn tiễn, rồng đen còn thế, phóng thân đến cõi sáng rạng, mênh mang (Diên Minh)
vế đối khác 2: Giáp Ngọ tới ngựa nòi gặp vận phi thân lên đỉnh xán lạn vẻ vang (Nguyễn Văn)
vế ra: Lừng danh Xích Thố giúp người trung nghĩa thành tâm phò Hán (ngựa Xích Thố của Lã Bố và Quan Công thời Tam Quốc)
vế đối: Nổi tiếng Ô Truy theo vị anh hùng hăng hái thắng Tần (ngựa Ô Truy của Tây Sở Bá Vương Hạng Võ đời nhà Tần)
vế đối khác: Vang bóng Thiết Câu hộ đấng Thiên vương chiến thắng giặc Ân (Nguyễn Văn) (Thiết Câu là ngựa sắt của Thánh Gióng)
  • Những câu đối của Nguyễn Khắc Ân:
Đất dân, chùa làng, phong cảnh phật
Người đời, của thế, nước non tiên
Đi đất thịt, đường trơn như mỡ
Ngồi gốc da, gió mát tận xương
Kiến đậu cành Mơ bò cuống quýt
Trâu về đường Bưởi chạy lanh chanh
Công ơn cha mẹ luôn ghi nhớ
Nghĩa vụ nước non mãi tạc lòng
Đến Xứ Lạng ăn phở chua, vui Tết
Về Lạng Sơn nhắm khau nhục, đón xuân
Tết đến lợn quay xơi vài miếng
Xuân về nem nướng chén mấy đôi
Kê là gà, gà ăn kê
Ấu cũng trẻ, trẻ chén ấu
“Kê1”, “ấu1” (HV), cùng nghĩa với ”gà”, ”trẻ” (TV). Có thể viết câu đối dưới dạng công thức suy luận : “kê”=”gà”, “ấu”=”trẻ”; và “kꔹ”gà”, “ấu”¹“trẻ”. Ta thấy, chúng phạm quy luật đồng nhất (đã là một thì không thể tự mình “ăn” (huỷ hoại) mình được). Để khỏi phạm luật, “kê2”, “ấu2” phải là những từ khác nghĩa với “kê1”, “ấu1” – đây là hai từ TV (gọi tên hạt kê và quả ấu)
  • Những câu đối của Diên Minh:
Hoa tươi nở, người thêm đông, mẹ già đang trông, cháu con về đón xuân Giáp Ngọ
Mứt dẻo bày, câu đối đẹp, đàn trẻ vẫn nhớ, cha chú mất vào tết Nhâm Thìn
vế ra: Tết Giáp Ngọ, ngồi xe tư mã, chơi bài tam cúc, mất xe - pháo - mã, buồn như "Tái ông mất ngựa"
vế đối: Xuân Nhâm Thìn, nếm quả nhãn long, họa phú luật Đường: hoá phụng – lân - long, vui tựa “Cá chép hoá rồng”
vế đối khác: 'Xuân Quý Mùi, hám tiệc tam dương, hóng khúc bốn mùa, toi chó - trâu - dương, cực quá Tô Vũ chăn dê (Ngọc Châu)
Thằng Ngọ chờ đến đúng giờ ngọ, mùng một năm Giáp Ngọ, đốt vàng mã ở cửa mả để đuổi tà ma, mải ngắm cào cào màu lá mạ mà bị kiến chích cho sưng má
Bác Dần bệnh nặng vào tháng Dần, mười ba tết Canh Dần, đào cái hố bên cạnh hồ mong thần phù hộ, đang mơ ngôi mộ đá hổ phách bỗng ong châm nhức miệng hô!
Năm Ngọ, nàng Ngọ ngồi ngẩn ngơ ngắm nụ non ngây ngất, nào ngờ nòng nọc nhung nhúc nở nằm nơi nụ non, nàng Ngọ nhát nhúa nhảy như nhền nhện né người nắm nó ném...
Tết Thìn, thằng Thìn thấy thòm thèm thích tôm thịt tinh tươm, thật tức tía tô thơm thơm tóp teo trước tôm thịt, thằng Thìn thẫn thờ tìm tựa trẻ trâu trông "thím" tung tiền trao...
Năm Ngọ lò dò ngóng lộc vào, tết Thân lận đận mong tài tới
Tháng Thìn bịn rịn chờ người tới, xuân Mão lao xao đợi bạn về (Ngọc Thanh)
Cô Ngọ đứng đầu ngõ chờ chàng đến dạm ngõ, miệng chàng chưa ngỏ cô đã ngó lên trời, tay nắm áo ngo ngoe...
Anh Dậu ngồi bụi dâu đợi mẹ đi rước dâu, môi mẹ mới dẩu chàng nghe dầu (rầu) trong bụng, mắt rơi lệ dâu dấu... (đọc trại chữ “dân dấn”)
vế ra: Mã đáo thành công, người người đều mong, mừng xuân Giáp Ngọ
vế đối 1: Long phi thắng lợi, chốn chốn vẫn đợi, vui tết Nhâm Thìn (Ngọc Thanh)
vế đối 2: Dương quy thắng lợi, kẻ kẻ ngóng đợi, chào tết Đinh Mùi (Phan Tự Trí)
  • Những câu đối của Đông Thái Phan Tự Trí:
vế ra: Năm Dần, cứ tu sửa dần dần, khỏi hổ danh gái Dốc Mơ vừa dơ vừa mốc
vế đối: Tết Ngọ cần xếp trò ngọ nguậy, đừng lưu tiếng trai Dương Tễ thấy dễ lại tương (Ngọc Châu)
vế ra: Năm Qua Nếp Nền Quý Tỵ Chửa Thôi Hồi Rắn Lượn, Đừng Quên Cảnh Giác Lũ Xà Tinh
vế đối: Xuân Trước Thành Quả Nhâm Thìn Có Tạo Thế Rồng Bay, Đã Tạm Yên Lòng Quân Long Hội
vế đối khác 1: Tết Đến Thời Thế Giáp Ngọ Còn Chán Vạn Ngựa Bay, Hãy Nhớ Đề Cao Quân Mã Kị (Diên Minh)
vế đối khác 2: Tháng tới lệ luật Canh Dần sẽ có lúc beo vờn, hãy nhớ đề phòng phường hổ ác! (Ngọc Thanh)
vế ra: Năm Dần, cứ tu sửa dần dần, khỏi hổ danh gái Dốc Mơ vừa dơ vừa mốc
vế đối: Tháng Tí, nên chỉnh trang tí tí, chớ thử thách trai Đèo Mộng đã động đã...mèo (Ngọc Thanh)
vế ra: Đã bao vòng Giáp Ngọ, nhớ Thánh Gióng vươn vai vụt đứng lên, nào Roi sắt Giáp sắt Nón sắt, với Thiết Mã cưỡi gió tung bờm phóng lửa, thiêu trụi giặc xâm lăng, mong đất nước thanh bình vạn thuở
vế đối: Qua biết mấy Canh Thìn, ơn Long Quân cuốn mình ào vượt sức, sử Kiếm vàng, Mâu vàng, Khiên vàng, thành Hoàng Long vờn mây ngoác miệng xuất chiêu, dập tan bầy thuỷ quái, ước giang sơn phồn thịnh muôn đời
vế đối khác 1: Trải mấy đận Nhâm Thìn, mơ Sơn Tinh nhổm người thoắt ngồi dậy, có Cá thần Tôm thần Rùa thần, thêm Thiên Long vờn mây dựng vảy phun mưa, phá tan quân nghịch tặc, mộng non sông yên ả muôn đời (Ngọc Thanh)
vế đối khác 2: Từ mấy thuở Mậu Thân, nghĩ Quang Trung gióng trống mau tập hợp, với mâm vàng, tiền vàng, kiếm vàng, cùng Voi Ngà bồng súng nhả đạn phun mưa, dẹp tan quân cướp nước, để giang sơn hoà khí ngàn năm (Diên Minh) (Theo Thánh vũ ký của Nguỵ Nguyên, các đội voi của Tây Sơn đều có đại bác trên lưng nã vào đồn. Quân Thanh bị đánh bất ngờ trong đêm tối, chết rất nhiều, tan vỡ bỏ chạy. Sầm Nghi Đống thấy không thể giữ được đồn bèn tự sát trên đài chỉ huy ở Loa Sơn (Khu vực phố chùa Bộc – Hà Nội hiện nay) Một giai thoại được truyền lại về việc Quang Trung lập kế để động viên quân sĩ trước khi ra quân đánh quân Thanh, tại lễ đăng quang ở Phú Xuân. Sau lúc làm lễ, Quang Trung sai mang đến cái mâm, trên để các đồng tiền, có phủ vải điều, rồi tuyên bố với quân sĩ: "Ba quân hãy cùng ta quan sát, nếu cả hai trăm đồng tiền này đều sấp, thì đó là điềm trời báo chúng ta đại thắng. Nhược bằng, có đồng ngửa, thì đó là đại sự của chúng ta có điều trắc trở". Nguyễn Huệ chắp tay khấn vái, đặng bưng mâm tiền, cung kính dâng lên cao, rồi hất tung xuống sân. Quân sĩ thấy các đồng tiền nhất loạt đều sấp, reo hò mừng rỡ, tin chắc trận ra bắc sẽ thắng quân Thanh. Kỳ thực, Nguyễn Huệ đã sai đúc 200 đồng tiền có cả 2 mặt đều là mặt sấp)
vế ra: Giáp Ngọ đến nơi rồi, thói ngựa quen đường cũ xin thôi, chẳng chóng thì chầy, tham nhũng ắt ra vành móng ngựa
vế đối: Đinh Sửu qua chốn ấy, nếp trâu lạ đồng xa* chớ giữ, không nhanh cũng chậm, thâm tình sẽ kết thắm duyên trâu (Ngọc Thanh)
  • Những câu đối của Nguyễn Hữu Thăng:
vế ra: Con NGỰA bày hàng MÃ, mình không NGỌ nguậy
vế đối: Tuổi RỒNG gặp năm THÌN, phận chẳng LONG đong
vế đối khác: Lão DÊ tưởng cường DƯƠNG, dái chẳng MÙI mè (Phan Tự Trí)
vế ra: Nghe vó ngựa xuân Giáp Ngọ dần sang, không hổ thẹn tiễn rắn vàng Quý Tỵ
vế đối: Nhớ bóng hùm năm Canh Dần hầu khắp, thêm thân thương rời rồng bạc Nhâm Thìn
vế đối khác 1: Thấy chân dê tết Đinh Mùi tí đến, chẳng thử tài đưa rồng trắng Nhâm Thìn (Ngọc Thanh)
vế đối khác 2: Thấy chân trâu Tết Đinh Sửu tý tới, chẳng thử chi đón hổ trắng Canh Dần (Phan Tự Trí)
  • Những câu đối của Phạm Thanh Cải:
送蛇岁祝人间和平幸福 Tống xà tuế, chúc nhân gian hòa bình hạnh phúc (Tiễn năm rắn, chúc nhân gian hòa bình hạnh phúc)
迎马年庆祖国独立自由 Nghênh mã niên, khánh Tổ quốc độc lập tự do (Đón năm ngựa, mừng Tổ quốc độc lâp, tự do)
Xuân Giáp Ngọ, cưỡi ngựa trắng qua đèo Bạch Mã, thả thơ Xuân bên chén rượu nồng, ngâm cao ngựa trắng
Tết Đinh Mùi, dong dê vàng lên núi Hoàng Dương, làm đối Tết cạnh nồi lẩu ngọt, nấu thịt dê vàng
Tết đã đến, viết câu đối mừng Xuân, cùng bài thơ chúc Tết tung vần, muôn nhà vui không khí Tết
Xuân đang về, làm bài thơ chúc Tết, bên câu đối mừng Xuân thả ý, vạn nẻo đẹp sắc màu Xuân
  • Những câu đối của Việt Kiều ở Ôxtrâylia:

Câu đối của Nguyên Thạch:

Xuân vắng quê hương, mai trắng héo
Đông về đất nước, rũ màu tang!
Tết đến, nhà không, không bánh mứt
Đầu năm, lặng lẻ, chẳng dưa hành!.
Suốt mùa dân ruộng không thu nhập
Quanh năm nhà nước lúa đầy bồ
Dân đen khốn khổ, ăn không đủ
Quan chức hả hê, nhậu X.O
Đầu năm ra phố, cờ đỏ, băng rôn giăng nhô nhố
Mùng Một xuất hành, màu máu với mớ chữ ngố...cả năm xui!.
Xuân đến không tiền vỗ bụng rau sôi ọp ẹp
Tết nhứt nợ đòi, bấm cật nhói niềm đau!.
Xuân Giáp Ngọ, ước mong tòa mã đáo
Ngựa đầu năm, mau đá án thành công.
Đầu năm mừng xuân, không mừng đảng
Cuối năm mừng đảng hết mùa xuân.
Xuân đến xuân đi bảy mươi năm, vu vi như mây thoáng
Đảng già thất thập cổ lai hy, ắt phải bị gió cuốn đi.

Câu đối của Kim Nguyễn:

Xuân viễn xứ không đào không tết , nhớ mẹ
Tết xa nhà không trà không rượu, nhớ cha
Dân không mứt không dưa, nghèo mạt
Quan đầy tiền đầy bạc, giàu to

Một số giai thoại Thơ đối đáp và Thơ xướng họa độc đáo[sửa]

Thế Lịch và Phạm Văn Uyển[sửa]

Ðời Vua Lê Thánh Tông có 3 người cùng đỗ tiến sĩ một khoa là Thế Lịch, Thế Hiển và Thế Vinh. Khi vinh quy bái tổ, ba người lại cùng về một đường. Thiên hạ thấy vậy, nô nức kéo mhau đi xem. Ðến Nam Lạng, huyện Trực Ninh, Tỉnh Nam Ðịnh, người bạn cũ của Thế Lịch là Phạm Văn Uyển ra đón, có đọc mừng một bài thơ như sau:

Ba ông tam thế hoá trên toà, khéo rủ nhau vào đỗ một khoa, như vậy bụt no nhờ có oản, chẳng thời bụt đói bụt ra ma
Thế Lịch nghe xong, cười mà hoạ rằng: Có tu bụt mới hoá trên tòa, một tháng hai lần diễn giáo khoa, Bụt vẫn ăn chay không sợ đói, Bụt đâu có bụt hoá thành ma?

Trịnh Sâm xướng họa cùng Nguyễn Khản[sửa]

Nguyễn Khản là con trai đầu của Xuân quận công Nguyễn Nghiễm; quê ở xã Tiên Ðiền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà tĩnh. Sau khi đỗ đạt, Khản làm quan ở triều, được Trịnh Sâm hết sức yêu mến, xem như người bạn thân thiết. Nhà riêng của Khản ở gần hồ Kim Âu và xóm Bích Câu, Trịnh Sâm thường lui tới thăm viếng. Mỗi lần Trịnh Sâm đi chơi, thế nào cũng đến rủ Khản cùng đi. Nhà Chúa lại còn đặc ban cho Khản được mặc áo chẽn tay, tự do ra vào nơi cung cấm. Những hôm Trịnh Sâm ngự chơi hồ Tây, chỉ có bà Chúa Chè (Ðặng thị Huệ) và Nguyễn Khản là được ngồi cùng thuyền. Tương truyền, có một hôm Nguyễn Khản mệt không vào chầu, và không theo Trịnh Sâm đi câu được. Trịnh Sâm bèn gửi cho Khản bài thơ như sau:

vế xướng: Ðã phạt năm đồng bỏ buổi chầu, lại phạt năm đồng bỏ buổi câu, nhắn bảo ông bay về nghĩ đấy, hãy còn phạt nữa chửa tha đâu!
Khản liền làm bài thơ trả lời: Váng vất cho nên phải cáo chầu, phiên chầu còn cáo nữa phiên câu, trông ơn phạt đền là thương đến, ấy của nhà vua chớ của đâu
Chúa xem thơ họa, rất hài lòng, lại sai người mang quà đến để tặng Khản.

Lê Quý Đôn xướng họa với sứ thần Triều Tiên[sửa]

Năm 1760 Lê Quý Đôn sang Thanh tuế cống, cũng trong giai đoạn này, ở Triều Tiên có sai đoàn sứ bộ sang Thanh tuế cống do Hồng Khải Hy làm Chánh sứ. Tại đó, hai đoàn sứ bộ Việt, Triều gặp gỡ nhau trong một hoàn cảnh cùng đi lễ hết năm ở Hồng Lô tự. Các sứ thần Triều Tiên bèn đưa tặng cho đoàn sứ của Lê Quý Đôn một chiếc quạt giấy hoa tiên và các thổ vật địa phương, nhân đó Lê Quý Đôn viết tặng bài thơ, và cũng đưa ra hai bộ sách Quần thư khảo biện, Thánh mô hiền phạm lục mời họ xem và đề tựa. Dưới đây là nội dung của 4 bài thơ xướng họa giữa Lê Quý Đôn với các sứ thần Triều Tiên tại Yên Kinh:

Bài số I:

送 朝 鮮 國 史

異 邦 合 志 亦 同 方

學 術 本 從 先 素 王

完 福 共 欣 歌 五 善

逸 才 偏 愧 乏 三 長

側 釐 白 錘 交 投 贈

端 委 洪 疇 覓 表 章

信 筆 書 黃 終歉 歉

粲花 清 論 過 揄 揚

(黎 貴 惇)

Phiên âm:

Tống Triều Tiên Quốc sứ

Dị bang hợp chí diệc đồng phương;

Học thuật bản tòng Tiên Tố Vương.

Hoàn phúc cộng hân ca ngũ thiện;

Dật tài thiên quý phạp tam trường.

Trắc ly, Bạch trụy giao đầu tặng;

Đoan ủy, Hồng trù mịch biểu chương.

Tín bút thư hoàng chung khiểm khiểm;

Xán hoa thanh luận quá du dương.

[Lê Quý Đôn]

Dịch nghĩa:

Tiễn sứ thần nước Triều Tiên

Khác bang nhưng hợp chí, cũng cùng một hướng;

Học thuật vốn cùng theo Tiên Tố Vương.

Cùng vui với cái phúc được trọn vẹn, ca lên bài ca ngũ thiện;

Riêng thẹn cho mình đem khoe tài năng mà lại không đủ tam trường.

Giấy Trắc ly và giấy Bạch trụy trao tặng lẫn nhau;

Phép Đoan ủy và phép Hồng trù tìm thấy ở biểu chương.

Thả sức viết văn sửa chữ, thật uyển chuyển,

Miệng tươi như hoa luận bàn, rõ ràng lại quá đề cao.

Bài số II.

偉 才 端 的 讓 東 方

義 理 淵 源 貫 百 王

尚 友 四 旬 梅 信 重

相 思 二 月 柳 條 長

猥 因 文 字 成 佳好

還 借 兼 從 寄 短 章

欲 寫 風 情 嫌 莫 肖

丹 臺 段 段 想 清 揚

Phiên âm:

Vĩ tài đoan đích nhượng Đông phương

Nghĩa lý uyên nguyên quán bách vương.

Thượng hữu tứ tuần mai tín trọng;

Tương tư nhị nguyệt liễu điều trường.

ổi nhân văn tự thành giai hảo;

Hoàn tá kiêm tòng ký đoản chương.

Dục tả phong tình hiềm mạc tiếu,

Đan đài đoạn đoạn tưởng thanh dương.

Dịch nghĩa:

[Bác là] bậc tài năng lớn, quả nhiên phương Đông phải nhường,

[Hiểu] nghĩa lý đến ngọn nguồn, biết rõ hàng trăm bậc quân vương.

Yêu bạn, cả bốn tuần đều coi trọng tin mai,

Nhớ nhau, mới hai tháng thấy dài như tơ liễu.

Nhân có việc chữ nghĩa, văn chương mà trở thành bạn tốt,

Lại mượn chuyện được sai đi sứ mà gửi gắm chút văn chương.

Muốn viết cho ý vị, nhưng hiềm vì chưa đủ tài,

Tại Đài son từng đoạn, từng đoạn, nghĩ đã rõ ràng.

Bài số III:

朝 鮮 國 使 鴻 啟 禧 和 诗

高碁傳譜藥 傳方

小帙編摩證百王

南記詞華之子最

神州心眼此行長

雲烟吳楚移舟夜

雨雪幽燕伐木章

奇遇只應通紵縞

拙文那得重班揚

Phiên âm:

Triều Tiên quốc sử Hồng Khải Hy Họa thi

Cao kỳ truyền phổ dược truyền phương,

Tiểu trật biên ma chứng bách vương.

Nam Ký từ hoa chi tử tối;

Thần Châu tâm nhãn thử hành trường.

Vân yên Ngô, Sở di chu dạ;

Vũ tuyết U Yên phạt mộc chương.

Kỳ ngộ chỉ ưng thông trữ cảo,

Chuyết văn na đắc trọng ban dương?

Dịch nghĩa:

Bài họa của sứ nước Triều Tiên Hồng Khải Hy

Nước cờ cao được truyền trong sách vở, như truyền phương thuốc,

Quyển trật nhỏ được bách vương dùng biên chép chứng cứ.

Ở Nam Ký, lời thơ đẹp như hoa, ông đứng bậc nhất;

Chốn Thần Châu, khóe mắt, tấm lòng ấy cứ dặc dài.

Khói mây âm u ở Ngô, Sở, nhớ cuộc cùng nhau đi thuyền ban đêm;

Mưa tuyết trắng xóa ở U Yên được tình bạn bè sưởi ấm

Cuộc kỳ ngộ này nên hợp lại thành sợi tơ, dây gai,

Văn chương vụng về sao đáng được biểu dương, coi trọng ?

Bài số IV:

李 徽 中 和 詩

浮木差 渺 渺自何 方

南 指 星 辰 別 友 王

煙 濕 五 湖 衣 帶 緩

芝 倉 三 島 髮 眉 長

倉 茫 膜 外 山 河 遠

絡 續 花 前 錦 繡 章

歸 橐 盎 然 皆 越 字

春 風 燕 薊 馬 蹄 揚

Phiên âm:

Lý Huy Trung họa thi

Phù sà diểu diểu tự hà phương,

Nam chỉ tinh thần biệt hữu vương.

Yên thấp Ngũ Hồ y đái hoãn;

Chi thương Tam Đảo phát my trường.

Thương mang mạc ngoại sơn hà viễn;

Lạc tục hoa tiền cẩm tú chương.

Qui thác áng nhiên giai Việt tự,

Xuân phong Yên kế mã đề dương.

Dịch nghĩa:

Bài họa của Lý Huy Trung

Bè sứ nổi trôi xa tít, từ phương nào đến ?

Trỏ vào chòm sao phương Nam, từ biệt quân vương [mà đến đây].

Ở Ngũ Hồ khói mây ẩm thấp, áo đai nới lỏng;

Tại Tam Đảo cỏ linh chi xanh thẫm, tóc mi mọc dài.

Nơi mạc ngoại mênh mang, non sông xa hút;

Hoa phía trước tiếp nối nhau rực rỡ như gấm thêu.

Chứa đầy túi đưa về đều là chữ Việt;

Gió xuân thổi tới Yên Kế cũng là lúc ngựa cất vó.

Đối đáp xướng họa giữa Phan Văn Trị với Phủ Ba Tôn Thọ Tường[sửa]

Tôn Thọ Tường (1825 - 1877) là người huyện Bình Dương, phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). Sau khi Pháp lấy Nam Kỳ (1862), ông ra giúp việc Chánh phủ Pháp. Tường cũng nhiều lần đi dụ hàng các nhà yêu nước nhưng đều bị chỉ trích mạnh mẽ. Về sau, do công việc dụ hàng không hiệu quả, năm 1871, Tường được người Pháp rút về dạy Hán văn ở trường Hậu bổ (Collège des Stagiaires) Nam Kỳ. Năm 1875, Tường làm việc dưới quyền của Tổng Lãnh sự Pháp De Kergaradec ở Bắc Kỳ. Năm 1877, Tường bị mắc bệnh mất. Tôn Thọ Tường làm quan cho Pháp, Phan Văn Trị trước là bạn rất thân sau trở thành đối địch vì ông là sĩ phu chống Pháp, ông Tường được người Pháp cử đến thuyết phục Đồ Chiểu và Cử Trị ra làm quan cho Tây, do đó diễn ra cuộc xướng họa văn chương quyết liệt giữa 2 người:

Tôn Thọ Tường ra: Giang san ba tỉnh hảy còn đây, trời đất xui chi đến nỗi này? chớp nhoáng thẳng bom dây thép kéo, mây tuôn đen kịt khói tàu bay, xăn văn thầm tính thương đòi chổ, khấp khởi riêng lo biết những ngày, miệng cọp hàm rồng chưa dễ chọc, khuyên đàn con trẻ chớ thày lay!
Tôn Thọ Tường khoa trương lực lượng Pháp: dây thép, tàu thủy, khuyên chớ làm như trẻ con chọc vào miệng cọp hàm rồng.
Phan Văn Trị đối: Hơn thua chưa biết đó cùng đây, chẳng đã nên ta mới thế này, Bến Nghé quản bao cơn lửa cháy, Cồn Rồng dầu mặc bụi tro bay, nuôi muông giết thỏ còn chờ thủa, bủa lưới săn nai cũng có ngày, đừng mượn hơi hùm rung nhát khỉ, lòng ta sắt đá há lung lay!
Cử Trị tả sự tàn bạo của kẻ xâm lăng “ Lửa thiêu Bến Nghé, tro bay Cồn Rồng ”. Nhưng mặc dầu vậy, ta cũng cứ kiên chí nuôi muông bủa lưới, có ngày giết thỏ săn nai, người đừng mượn hơi hùm mà rung cây cho khỉ sợ.
Tôn Thọ Tường lại ra: Thày lay lại chuốc lấy danh nhơ, ai mượn mình lo chuyện bá vơ? trẻ dại giếng sâu lòng chẳng nỡ, đường xa ngày tối tuổi không chờ, áo xiêm chán thấy xăn tay thợ, xe ngựa nào toan gỡ nước cờ, rủi rủi may may đâu đã chắc, miệng lằn lưỡi mối hãy tai ngơ!
Ý của Tôn là bày trò ra thì mang xấu, lo chuyện bâng quơ làm gì: ta thấy giếng sâu, không nỡ cho trẻ lao mình xuống, vả đường xa ngày tối, đi sao cho kịp? Cứ xem các quan ta cố chống trả mà có gỡ được nước cờ đâu? Vậy đừng nên nghe lời xúi dại.
Phan Văn Trị lại đối: Lung lay lòng sắt đã mang nhơ, chẳng xét phận mình khéo nói vơ! người trí mảng lo danh chẳng chói, đứa ngu mới sợ tuổi không chờ, bài hòa đã sẳn trong tay thợ, việc đánh chưa thua giống cuộc cờ, chưa trả thù nhà đền nợ nước, dám đâu mắt lấp lại tai ngơ!
Tôn muốn lung lạc người trí thức, ấy là xấu rồi: trí chỉ lo trọn đạo, ngu mới hành động hấp tấp, ăn xổi ở thì. Bây giờ giảng hoà là ta thua rồi, nhưng đó đã chắc được chưa, chúng ta không thể làm ngơ trước thù nhà nợ nước.
Tôn Thọ Tường tiếp tục ra: Tai ngơ mắt lấp buổi tan tành, nghĩ việc đời thêm hổ việc mình, nghi ngút tro tàn nhà đạo nghĩa, lờ mờ bụi đóng cửa trâm anh, hai bên vai gánh ba giềng nặng, trăm tạ chuông treo một sợi mành, trâu ngựa dầu kêu kêu cũng chịu, thân còn chẳng kể kể chi danh!
Cũng vì tan tành nên không ngơ được: nền lễ giáo đã mất, ta vẫn phải cứu vãn lại nhưng việc thật khó khăn: quả chuông trăm tạ treo bằng sợi chỉ. Thôi thì bảo ta là trâu ngựa ta cũng chịu, ta ra cộng tác thế này còn nghĩ gì đến thân danh nữa; cốt cứu được nước mà thôi.
Phan Văn Trị tiếp tục đối: Tai ngơ sao được lúc tan tành, luống biết trách người chẳng trách mình, đến thế còn khoe danh đạo nghĩa, như vầy cũng gọi cửa trâm anh, khe sâu vụng tính dung thuyền nhỏ, chuông nặng to gan buộc chỉ mành, thân có ắt danh tua phải có, khuyên người ái trọng cái thân danh
Muốn trách người phải trách mình trước. Đã cộng tác thì đừng nói đến đạo nghĩa, trâm anh là gì. Chúng ta đã trót vụng tính để thuyền nhỏ lọt vào khe sâu, thì phải có gan treo chuông bằng chỉ, ấy là bảo trọng thân danh đấy.
Tôn Thọ Tường lại xướng nữa: Kể chi danh phận lúc tan hoang, biển rộng trời cao nghĩ lại càng, lên núi bắt hùm chưa dể láo, vào sông đánh cá há rằng oan, người giương mắt ngạo đôi tròng bạc, kẻ ứa gan trung bảy lá vàng, chiu chít thương bầy gà mất mẹ, cũng là gắng gỏi, dám khoe khoang!
Lúc này kể gì danh phận nữa, nhưng nghĩ vì chống Pháp cũng như lên núi bắt hùm, vào sông đánh cá, nguy hiểm bao nhiêu. Các ông chỉ trích tôi, thật đau đớn cho tôi: vì tôi thương gà con mất mẹ, nên mới gắng ra gánh vác việc nước.
Phan Văn Trị lại họa nữa: Thân danh chẳng kể thiệt thằng hoang! đốt sáp nên tro lụy chẳng càng, hai cửa trâm anh xô sấp ngữa, một nhà danh giáo xáo tan oan, con buôn khấp khởi chưa từng ngọc, người khó xăn văn mới gặp vàng, thương kẻ đồng văn nên phải nhắc, dễ ta đâu dám tiếng khoe khoang
Thân danh mà không đếm xỉa đến, thật là vô liêm sỉ. Khá thương cho kẻ đốt sáp thành tro, làm điếm nhục đến gia thanh. Chỉ trông thấy ngọc đã loé mắt, không biết rằng có chịu khổ sở mới thành công. Vì ông cũng là trong mạch thư hương nên mới nói mà thôi.
Tôn Thọ Tường cố thuyết phục: Khoe khoang sức giỏi cậy tài khôn, múa mép khua môi cũng một phồn, tơ vấn cánh ruồi kinh trí nhện, gió đưa hơi cọp khiếp oai chồn, siêng lo há đợi cơm kề miệng, chậm tính nào ngờ nước đến trôn, hay dở chuyện đời còn lắm lối, múa men xin hãy chớ bôn chôn
Thôi đừng ba hoa nữa: sức các ông như cánh ruồi mà định làm cho nhện sợ; như lũ chồn, ngửi thấy hơi cọp là run. Nếu biết lo thì chẳng nên đợi ai đưa cơm kề miệng cho mình; nước đến trôn lúc nào không biết….
Phan Văn Trị chẳng thèm nghe: Khoe khoang việc phải mới rằng khôn, kẻ vạy người ngay há một phồn! hồng dẫu hư lông đâu sợ sẻ, hùm như thất thế dễ thua chồn, ngươi Nhan sá ngại dao kề lưỡi, họ Khuất nào lo nước đến trôn, tháy máy gặp thời ta sẽ động, muốn nên việc lớn chớ bôn chôn
Kẻ trái người ngay sao lại vơ đãu cả nắm? Chim hông tuy mất ít long đâu có sợ chim sẻ, hùm mà thất thế há thua chồn. Nhan cửu Khanh đời Đường bị giặc bắt, chửi giặc, giặc đem cắt lưỡi, vẫn không hề sợ. Khuất Nguyên can vua Sở, biết vua sẽ ghét mình sẽ nguy, nhưng cũng không lo. Hễ cơ hội đến là ta sẽ hành động.
Tôn Thọ Tường vẫn cố thuyết phục: Hảy chớ bôn chôn việc cửa nhà, sau này còn ngại nỗi đàng xa, ma duồng cơn ngặt lung hai trẻ, trời mỏn lòng thương xót một già, lái đã vững vàng cơn sóng lượn, thoi toan đan dệt lúc mưa sa, ở đời há dễ quên đời được, tình thiệt so hơn cũng gọi là...
Đường xa còn nhiều trở ngại lắm. Nước ta ví như người già trời còn thương, nhưng mà hai trẻ cứ giục chết cho mau. Cơn sóng lượn nay ta đã cầm lái vững, ta lại lo dệt áo phòng mưa nữa. Phải suy hơn thiệt, chớ đừng mai mỉa không công bằng.
Phan Văn Trị cũng chẳng thèm nghe: Bôn chôn cũng bởi bận vì nhà, dám trách người xưa chửa tính xa? hăm hở hãy đang hăng sức trẻ, chìu lòn e cũng mỏn hơi già, mồi thơm cá quý câu không nhạy, cung yếu chim cao bắn chẳng sa, đáy giếng trông trời giương mắt ếch, làm người như vậy cũng rằng là...
Đâu dám trách ông nông nổi: thanh niên đang hăm hở, còn ông thì lòn cúi cũng hết hơi. Ông muốn dụ chúng tôi, nhưng mồi thơm không câu được cá quý, cung yếu không bắn được chim cao. Ông không biết ngó xa trông rộng, như thế không xứng đáng là kẻ sĩ.
Tôn Thọ Tường kiên trì: Cũng gọi là người ắt phải lo, có hay chịu khó mới nên trò, bạc mông mênh biển cầu toan bắc, xanh mịt mù trời thước rắp đo, nước ngược chống lên thuyền một mái, gác cao bó lại sách trăm pho, lòng này dầu hỏi mà không hổ, lặng xét thầm soi cũng biết cho
Người ta phải thực tế không nên viễn vông, bắc cầu trên biển, lấy thước đo trời. Tiếc thay tình thế ngửa nghiêng mà tôi như thuyền một mái, trong khi các ông chỉ ngồi cao xem sách. Tôi tự xét không hổ với mình, đã có trời xét cho.
Phan Văn Trị cương quyết: Rằng là người trí cũng xa lo, nhuần nhã kinh luân mới phải trò, ngay vạy nảy ra cho biết mực, thấp cao trông thấy há rằng đo, xe Châu nào đợi kinh năm bộ, níp Tống vừa đầy sách nửa pho, chuốc miệng khen người nên cắc cớ, đạo trời ghét vạy há soi cho!
Đã là người trí thì phải lo xa, phải cư xử cho đúng đạo thánh hiền. Ai cong ai ngay, ai cao ai thấp, cần gì phải nói. Tôi cũng học nông nổi thôi, nhưng khuyên ông nên ở phải, đạo trời đâu có soi cho kẻ cong queo.
Tôn Thọ Tường tỏ thái độ chưa nản chí: Đã biết cho chưa hỡi những người, xin đừng tiếc hận, chớ chê cười! ví dầu vật ấy còn roi dấu, bao quản thân này chịu dể ngươi, trăng giữa ba thu mây cũng tỏ, hoa trong chín hạ nắng càng tươi, khó lòng mình biết lòng mình khó, òn lỏi công trình kể mấy mươi
Xin đừng chê cười: các ông khinh tôi cũng chẳng ngại, miễn là nước vẫn còn. Rồi ra trắng sáng thì mây mờ; hoa tàn gặp nắng thì tươi, chỉ mình tôi biết cho tôi là công trình luồn lỏi đã nhiều cũng vì thương nước thương dân.
Phan Văn Trị cho thấy sự cứng rắn của mình: Soi cho cũng biết ấy là người, chẳng tiếc thân danh luống sợ cười, ba cõi may dầu in lại cũ, đôi tròng trông đã thấy không ngươi, ngọc lành nhiều vết coi sao lịch, thợ vụng ít màu nhuộm chẳng tươi, đứa dại trót đời già cũng dại, lựa là tuổi mới một đôi mươi
Ông kể cũng lạ, chẳng tiếc than danh lại sợ chê cười! Nếu như đất nước thu về được, thì chẳng ai thèm nhìn đến ông, vì ngọc lành nhiều vết, thơ nhuộm vụng tay. Thật là già đời còn dại.
Tôn Thọ Tường đánh bài lỳ lợm: Kể mấy mươi năm nước lễ văn, ắn dài beo lớn thế khôn ngăn, bốn đời chung đội ơn nuôi dạy, ba tỉnh riêng lo việc ở ăn, hết sức người theo trời chẳng kịp, hoài công chim lấp biển không bằng, phải sao chịu vậy thôi thì chớ, nhắm mắt đưa chân lỗi đạo hằng
Tôi cũng bốn đời gia thế, nay một mình phải lo liệu cho đời sống dân ba tỉnh, tiếc rằng việc nước khó gỡ lại. Chim Tinh Vệ hoài công tha đá lấp biển không bằng, thôi thì nhắm mắt đưa chân, lỗi đạo đành chịu.
Phạn Văn Trị quả là bền gan: Một đôi mươi uổng tính xăn văn, đất lở ai mà dễ dám ngăn? nong nả dốc vun nền đạo nghĩa, xốn xang nào tưởng việc làm ăn, thương người vì nước ngồi không vững, trách kẻ cầm cân kéo chẳng bằng, gió mạnh mới hay cây cỏ cứng, dõi theo người trước giữ năm hằng
Đã đành ngăn sao được đất lở, nhưng mà tính quẩn làm gì, lo gì việc làm ăn, hãy cốt giữ vững lấy đạo nghĩa. Ta những thương kẻ bôn ba lo việc nước và trách trời ở không công. Cây cỏ tuy yếu nhưng gió to mới biết là cứng; nên ở cho đúng đạo làm người thì hơn.
Tôn Thọ Tường không thể nhẫn nại thêm nữa: Đạo hằng chi trước thảo cùng ngay, lỗi đạo sao cho đáng mặt thầy, đất quét đã đành bia lỗ miệng, chén tràn e nỗi trở bàn tay, nghĩa đen dạy trẻ tranh còn lấp, mặt trắng xem trời cánh khó bay, chí muốn ngày nào cho được toại? giang san ba tỉnh hãy còn đây!
Ai chẳng biết đạo thảo ngay, song đi với kẻ thắng đã đành là xấu, nhưng để nước tràn ra ngoài chén thì còn cứu vãn sao kịp; đem lời thực bảo cho mà không nghe thì các ông khó có cánh bay đâu được. Chí muốn của các ông bao giờ thành được? Mà đất có mất đâu: giang san hãy còn đây mà.
Phan Văn Trị khẳng định lòng trung thành với tổ quốc: Năm hằng vốn thiệt thảo cùng ngay, cuộc ấy ai xui khéo bận thầy, gặp lúc chẳng may nên ngậm miệng, chờ khi tháy máy sẽ ra tay, nổi chìm mặt thế tình dày mỏng, cao thấp dầu ta sức nhảy bay, một trận gió đưa xiêu ngã cỏ, hơn thua chưa quyết đó cùng đây
Thật thế: đạo thảo ngay phải giữ, sao ông lại lo giùm cho người ta? Chúng ta gặp bước không may thì ngậm miệng chờ thời cuộc xoay vần. Dân tộc lầm than nhiều ít hãy nán lòng đợi, ta sẽ có lúc đem toàn lực tranh cao thấp. Cỏ bị gió thì ngã xuống, nhưng sự hơn thua đã biết chắc là về ai.
Thấy khó thuyết phục được Phan Văn Trị, Tôn Thọ Tường đem điển cố "Từ Thứ Quy Tào" thời Tam Quốc ở Trung Hoa ra làm ví dụ minh họa: Thảo đâu dám sánh kẻ cày voi, muối xát lòng ai nấy mặn mòi, ở Hán hãy còn nhiều cột cả, về Tào chi sá một cây còi! bâng khuâng nhớ mẹ khôn nâng chén, bịn rịn trông vua biếng giở roi, chẳng đặng khôn Lưu đành dại Ngụy, thân này xin gác ngoại vòng thoi! (kẻ cày Voi: nhắc đến chuyện vua Thuấn đi cày bằng voi)
Tôn tự ví mình như Từ Thứ bất đắc dĩ phải theo Tào, nhưng không theo thật lòng nên chỉ ngậm miệng, không giúp Tào một mưu chước nào: Ý nói mình không dám bảo mình cũng yêu nước như ai, song nước nhà còn nhiều người xứng đáng, thì một người xoàng như mình có theo Tây cũng chẳng đi đến đâu. Tuy theo những vẫn nhớ nước nhớ vua. Thôi thì chẳng được khôn với các ông thì về với Tây làm kẻ dại vậy, từ nay xin đứng ngoài vòng quốc sự.
Phan Văn Trị cũng cho thấy mình là kẻ không dễ bắt nạt: Quá bị trên đầu nhát búa voi, kinh luân đâu nữa để khoe mòi, xăn văn ruổi Ngụy mây ùn đám, dáo dác xa Lưu gió thổi còi, đất Hứa nhớ thân sa giọt tủi, thành Tương mến chúa nhẹ tay roi! về Tào miệng ngậm như bình kín, trân trọng lời vàng đáng mấy thoi? (Đất Hứa: tỉnh Hứa Xương. Ý bài thơ nói rằng vì chữ hiếu mà phải theo Tào Tháo cũng chẳng hé miệng hiến một kế sách nào cả)
Các ông đã theo Pháp ùn ùn như mây kéo, tránh xa cái nước yếu này rồi, tuy thỉnh thoảng nhớ nước mà sa lệ, nhưng lúc ra đi mà tay roi đét ngựa lẹ thế? Ông hứa ngậm miệng không bày mưu gì cho Pháp, nhưng lời ông liệu đáng tin đến mực nào?
Tôn Thọ Tường lại đem một điển tích khác cũng vào thời Tam Quốc gọi là "Tôn Phu Nhân quy Thục" ra để đánh bài ngửa: Cật ngựa thanh gươm vẹn chữ tòng, ngàn thu rạng tiết gái Giang Đông! lìa Ngô bịn rịn chòm mây bạc, về Hán trau tria mảnh má hồng, son phấn thà cam dày gió bụi, đá vàng chi để thẹn núi sông, ai về nhắn với Châu Công Cẩn, thà mất lòng anh, đặng bụng chồng (Tôn Thọ Tường đã mượn tấm lòng băn khoăn, đau khổ lưu luyến giữa Tình và Hiếu của người đàn bà quý phái nước Ngô, đau lòng ra đi theo chồng cho trọn đạo Tòng phu, qua đó để biện hộ cho lập trường “ tiến thoái lưỡng nan” của mình khi ra hợp tác với pháp. Tâm trạng đó đã được phô diễn rõ rệt trong những chữ “bịn rịn. trau tria…” Vì lúc bấy giờ nhóm Nho sỹ công kích Tôn Thọ Tường là bán nước cầu vinh… Vì vậy cho nên ông luôn phải cố gắng vạch rõ thế nào là trung thành hợp lý. Theo ông thì chính sách bảo thủ của triều đình Tự Đức và tầng lớp Nho sỹ đương thời đã đưa dân tộc vào con đường mất nước. Ngày xưa vì Tôn Quyền quá tin lời Chu Công Cẩn mà Tôn Phu nhân phải đau khổ về Thục. Thì ngày nay, Vua tôi nhà Nguyễn cũng đã làm mất Nam Việt khiến ông phải“ dứt áo theo chồng, ông ra đi không phải vì lợi danh mà đeo lấy một nhiệm vụ chính trị, “quyết tâm cứu nước”)
Để kết thúc cuộc chơi, Phan Văn Trị khóa lại bằng mấy vần họa đanh thép sau: Cài trâm sửa áo vẹn câu tòng, mặt ngã trời chiều biệt cõi Đông, ngút tỏa đồi Ngô ùn sắc trắng, duyên về đất Thục đượm màu hồng, hai vai tơ tóc bền trời đất, một gánh cang thường nặng núi sông, anh hỡi Tôn Quyền anh có biết? trai ngay thờ chúa gái thờ chồng (Phan văn Trị có dụng ý muốn cho Tôn Thọ Tường biết bà Phu Nhân họ Tôn cũng như bao nhiêu người con gái khác “ xuất giá tòng phu” thì phải “cài trâm sửa áo” chớ không thể “cật ngựa thanh gươm”. Cử Trị đã ngầm bảo với họ Tôn: Ong đã theo về với Pháp, chịu hàng kẻ thù thì nên “ chỉnh tề khăn áo” chớ có oai vệ nỗi gì mà “cưỡi ngựa đeo gươm”!? Phan văn Trị cho ta thấy Tôn Phu Nhân từ giả quê hương vào một buổi chiều tà, bị bao trùm một màu ảm đạm thê lương. Dùng những chữ “ mặt ngả trời chiều”. Tác giả muốn nói đến cảnh đau thương của dân tộc đang đắm chìm trong khói lửa chiến tranh. Cử Trị muốn cho họ Tôn nhớ rằng người con của đất Giang Đông đã lìa quê trong một hòan cảnh đau buồn, chớ không phải được “rạng tiết gái” cũng như họ Tôn đã đang tâm theo Pháp trong khi nước non suy tàn, như vậy sao lại gọi là rạng rỡ?! Hình ảnh những đám mây trắng vào một buổi chiều thu nắng nhạt gợi lên trong lòng người ly hương mối sầu viễn xứ. Lìa quê trong cảnh buồn bã như thế Tôn Phu Nhân chẳng bao giờ tưởng nhớ tới mẹ già và anh trai. Tác giả muốn ám chỉ việc họ Tôn theo Pháp trong lúc đất nước điêu tàn, nhân dân lầm than trước họa xâm lăng để hưởng sự vui sướng cho thân mình. Họ Phan nói thẳng với họ Tôn rằng: “ Tôn Phu Nhân đã vẹn hai vai tơ tóc” và trọn đạo thờ chồng. Còn ông, ông theo về với Pháp có giữ được “ gánh cương thường” không? Nếu không, ông đã bất trung với Vua, bất nghĩa đối với nước non, vậy còn khoe khoang đạo nghĩa làm gì nữa? Khen Tôn Phu Nhân là người đàn bà, biết giữ tròn đạo nghĩa bao nhiêu thì họ Phan lại chê trách Tôn Thọ Tường bấy nhiêu. Tôn Thọ Tường là người đàn ông thì làm thế nào giống như trường hợp Tôn Phu Nhân được. Gái tiết hạnh phải làm tròn bổn phận người vợ hiền, trai ngay phải trọn đạo làm tôi đối với chúa. Trong lúc non sông nghiêng ngửa, Tôn Thọ Tường ra hợp tác với kẻ thù cướp nước thì sao lại gọi là “trai ngay” được?!)

Giai thoại đối đáp giữa Lão Dương và 4 vị phu nhân[sửa]

  • Đầu tiên Lão Dương viết bài: “Vòi vĩnh vợ, vợ vờ vĩnh”
Chồng Yêu mà vợ chẳng Chiều Ông, lại Tống Lầm đi một Tấm Lòng, Biết Vậy thà ngồi mà Viết Bậy, bế Bồng Khăng khít cũng Bằng Không!
  • Một nhân vật có tên Bùi Tiến trả lời thay Lão Dương đại phu nhân bằng bài thơ: “Có nên chiều ông chồng yêu?”
Không Ông đâu được phải Không Ông, nghe Lóng Rồi ra cũng Rối Lòng, Táo Bạo xưng ông chà Táo Bạo, Chồng Khiêu khích vậy đáng chiều không?
  • Kế tiếp là bài: “Vợ Vẫn Vấn Vương” của Lão Dương nhị phu nhân:
Chồng Ơ thờ mấy cũng Chờ Ông, lêu Lỗng Tầm đâu được Tấm Lòng, Cậy Chàng yên vị ông Càng Chạy, Công Khó chờ ông biết Có Không?
  • Nhằm lên tiếng cho Lão Dương tam phu nhân, một người là Tùng Linh có bài: “Mèo nào cắn Mĩu nào”
Chồng Ôm thủ thỉ bám Chồm Ông, Long Đầu hai vị chớ Đau Lòng. Tắc Tíc gia truyền môn Tíc Tắc, Khởi Công khe hở khẽ Cởi Không!
  • Không ngờ vừa lên tiếng, Tam phu nhân bị Nhị nương và Tứ nương “sửa lưng” qua bài: “Lửa Tam Muội - Quạt Ba Tiêu”
đã Bốc Ăn rồi lại Bắt Ông, buông Lỏng Lừa nhau cướp Lửa Lòng, Quạt Ba tiêu Bạt Qua tam muội, lộc Bổng Kho đầy lại Bỏ Không!
  • Bùi Tiến thấy thế lần nữa thay mặt Lão Dương đại phu nhân nhắn nhủ qua bài: “Gửi các Phu Nhân Bé”
Bồng A ba bốn cũng Bà Ông, lừa Lọc Đường đời cốt Được Lòng, Cát Lũy cố ganh phần Quý Lạt, Công Không yên phận kẻ Công Không!
  • Cuối cùng, Lão Dương nghe các bà om sòm ỏm tỏi, chẳng những không đòi dưỡng lao mà còn dọa sẽ nổi dóa bốc đồng lên qua bài: “Bịt mồm bốn mụ”
mọi Phòng Yên hết chớ Phiền Ông, cả Rống Làm ông rối Rắm Lòng, Xáo Xào không học lo Xào Xáo, ông Bốc Khiêng bà nữa Biết Không!
  • Thế là, cuộc đối đáp vô tiền khoáng hậu giữa Lão Dương và các phu nhân chấm dứt, nhường chỗ cho người kế tiếp là Thảo Am Nguyễn Khoa Vi với bài thơ: “Trách bạn phụ tình”
Mau Sai lời nguyện ước Mai Sau, Niết Bỏ nhau thà Nỏ Biết nhau, Nắng Đổi mưa thay nhiều Nỗi Đắng, Chán Chưa tình lệ Chứa Chan sầu!
  • Thảo Am Nguyễn Khoa Vi tiếp tục chốt hạ với bài thơ: "Trách vợ già hay ghen"
Mơi Tra chiều hỏi chuyện Ma Trơi, Trời Đe ghen chi cứ Trẻ Đời, Cớ sự làm sao mà Cứ Sợ, Dời Chưn không kịp đứng Dừng Chơi

Giai thoại xướng họa giữa nhà nho và hai bà vợ[sửa]

  • Có ông nhà nho nọ đã hay chữ, nhưng lại có hai bà vợ cũng không kém cạnh gì, hôm nọ ông chồng làm bài họa tự cười mình:
vế ra: Năm mươi tư tuổi ngỡ mình già, đời vẫn khen mình trẻ tựa hoa, hội mở văn minh đầu đã hói, chữ nhìn quốc ngữ mắt hơi lòa, ngứa ngề thỉnh thoảng vài câu thổng, ngọt giọng ngâm nga mấy chén khà, nghĩ cái mình ta ghê gớm lạ, buổi đời cạnh tranh thế mà ta…
Vợ cả liền họa: Chưa già ông cứ tảng ông già, còn kém tôi đây một tuổi hoa, nghe chuyện mua hầu tai vẫn thính, khuyên đi bảo trẻ mắt kêu lòa, văn chương đáng giá ba đồng kẽm, danh lợi coi như một tiếng khà, chuốc chén mừng câu “xuân bất lão, có chăn dì nó khéo hơn ta?
Vợ hai cũng góp vui: Vui thú non quê chẳng biết già, mùi đời ông cứ thoảng như hoa, ngâm câu kinh sử dương đầu hói, hỏi chữ A – B Tảng mắt lòa, rượu bữa nay còn ừ chén đã, gạo ngày mai hết chỉ cười khà, cách ông như thế ông còn thọ, khôn khéo phần ai chửa đến ta!

Cuộc đối đáp giữa Bác Sĩ Nguyễn Khắc Viện (1913 - 1997) và Thi Sĩ Tố Hữu (1920 - 2002)[sửa]

Tố Hữu, tên thật là Nguyễn Kim Thành. Năm 1938 ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản. Cuối 1947, ông lên Việt Bắc làm công tác văn nghệ, tuyên huấn. Từ đó, ông được giao những chức vụ quan trọng trong công tác văn nghệ, trong bộ máy lãnh đạo Đảng và nhà nước. Ông bị mất uy tín vì vai trò "nhà thơ đi làm kinh tế" qua những vụ khủng hoảng tiền tệ những năm 1980 nên bị miễn nhiệm mọi chức vụ. Ông mất lúc 9 giờ 15 phút ngày 9 tháng 12 năm 2002 tại Bệnh viện 108.

Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện là nhà tri thức Việt Nam nổi tiếng tại Pháp, quê ở làng Gôi Vị, bên bờ sông Ngàn Phố, nay là xã Sơn Hòa, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Năm 1937, ông được sang Pháp học tại Đại học Y khoa Paris. Tại Pháp, ông nghiên cứu và quảng bá văn hóa Việt Nam ra thế giới, phản đối chiến tranh của thực dân Pháp và hoa Kỳ tại Đông Dương...Năm 1963, Nguyễn Khắc Viện về nước sáng lập và chủ biên Tạp chí đối ngoại Nghiên cứu Việt Nam bằng tiếng Pháp và tiếng Anh (Etudes Vietnamiennes, Vietnam Studies) và làm Giám đốc Nhà xuất bản Ngoại văn (nay là Nhà xuất bản Thế giới). Ngày 10 tháng 5 năm 1997, Nguyễn Khắc Viện qua đời.
  • Tố Hữu ủy viên BCT, trưởng ban VHTT TW vì bất đồng chính kiến, đã cách tuột hết chức của người ban đồng hương là Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện, chỉ để lại làm Giám đốc Nhà XB Ngoại văn, chủ bút tờ Thế Giới Mới, vì thế 2 người hiềm khích nhau sâu sắc lắm. Cuối thập niên 70 đầu thập niên 80 của thế kỷ XX, đất nước Việt Nam kiệt quệ vì chính sách giá, lương, tiền của vị Phó Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng thứ nhất - Nhà thơ lãnh đạo kinh tế (Còn Vị thống chế phải đi đặt vòng!) Khi ngọn gió đổi mới vừa thổi, đã làm bay đổ cả vị Phó Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng thứ nhất đáng kính kia. Ông rất cay cú nhưng không cam chịu và nuôi hy vọng sẽ tái đắc cử vào BCT trong kỳ Đại hội tới, nên đã làm bài thơ giãi bày tâm sự "Đảng và Thơ" như sau:
Tròn năm mươi tuổi Đảng và Thơ, từ ấy hồn vui mãi đến giờ, mái tóc pha sương chưa hết ý, con tằm rút ruột vẫn còn tơ, thuyền con vượt sóng không nghiêng ngả, nghĩa lớn xuôi dòng lộng ước mơ! mới nửa đường thôi còn bước tiếp, trăm năm duyên kiếp Đảng và thơ
Bài thơ được đăng trên báo Nhân dân vào tháng 8/1987. Ngay lập tức Thế Giới Mới cũng có bài "Đảng và Thơ" của ông Chủ bút Doctor họa lại như sau:
Tròn năm mươi tuổi nghiệp làm Thơ, từ ấy bon chen mãi đến giờ, mái tóc pha sương chưa hết dại, con tằm đứt ruột chẳng còn tơ, thuyền con quá tải khôn qua sóng, mộng lớn tài hèn chớ có mơ! vì giá lương tiền dân khốn khổ, trăm năm bia miệng hỡi nhà thơ?
  • Cũng năm 1986, đầu thời kỳ Đổi mới, Đất Cảng trở nên hiện tượng kinh tế dưới chính sách xé rào táo bạo của Bí thư thành ủy HP Đoàn Duy Thành như XK sắt vụn, mua vàng về bán bù giá vào lương, xây dựng được một số công trình hạ tầng cho thành phố v.v… Nhưng cũng thời kỳ này xảy ra cháy Cảng HP, sập Cầu Rào, thụt kè sông Tam Bạc… cũng rất tai tiếng. Giữa lúc ấy Tố Hữu xuống đất cảng vận động bầu cử, có bài thơ dưới đây đăng trên Báo Hải Phòng:
Bốn cống ba cầu năm cửa ô, đào sông lấn biển dựng cơ đồ, “Làm ăn” hai chữ à ra thế! chèo chống nghìn tay một tiếng hô, rạng rỡ Sáu Kho vui Đất Cảng, khang trang Tam Bạc nức Thành Tô, giá còn nữ tướng Lê Chân nhỉ? ắt cũng khen con cháu Bác Hồ!
Lập tức Thế Giới Mới lại có bài phù họa ngay ngày hôm sau: Được “cầu” được “cống” được cả “ô”, buôn vàng bán sắt dựng cơ đồ, “Làm ăn” hai chữ ranh ma thế! lèo lá nghìn tay kẻ cướp hô, cháy trụi Sáu Kho, tàn Đất Cảng, tan hoang Tam Bạc nát Thành Tô, giá còn nữ tướng Lê Chân nhỉ? chắc cũng dẹp đi bọn hàm hồ!
  • Khi ấy Tố Hữu (đang rỗi rãi) từ Đất Cảng vòng về Hà Bắc tiếp tục vận động tranh cử. Trong lúc chén chú chén anh, chắc lãnh đạo tỉnh Hà Bắc lúc bấy giờ cũng nói lấy lòng là “Anh phải ở lại tiếp tục làm việc, chứ đã nghỉ sao được (?)” gì gì đó. Nên Ông lại tràn trề hy vọng sẽ tái đắc cử vào Đại hội tới, nên lại giãi bày tâm sự bằng một bài thơ đăng trên Báo Hà Bắc:
Lắng nghe quan họ đêm thâu, mênh mang mây nước thẳm sâu lòng người. Đắm say gió gọi trăng mời, vấn vương ánh mắt nụ cười duyên quê. Người ơi người ở đừng về, câu ca giã bạn tái tê mạn thuyền. Ai về ai nhớ ai quyên, mình về đến hẹn lại lên cùng người!
Thế Giới Mới lại phải lên tiếng như sau: Vẳng nghe quan họ đêm thu, gọi người trăng gió hẹn hò mây mưa. Đêm say bình rượu hồn thơ, khúc đàn giã bạn ván cờ tàn canh. Người ơi đứng dậy mà về, tàn canh trăng lặn bốn bề gió reo. Cá ươn rau úa chợ chiều, hẹn hò chi nữa những điều gió trăng?

Giai thoại đối đáp của đôi vợ chồng trí thức[sửa]

Một anh nông dân mới cưới vợ đã có việc phải đi xa. Sau vài tháng, cô vợ gửi thư cho chồng, nội dung như sau: Đám ruộng hai bờ ở đầu hông, lâu ngày không cấy vẫn để không, nước non vẫn đủ cỏ mọc tốt, nhờ người cày hộ có được không?

Ông chồng đọc xong trả lời: Đám ruộng hai bờ là của ông, cho dù không cấy vẫn để không, mùa này không cấy chờ mùa khác, nhờ người cày hộ chết với ông
Đọc thơ của ông chồng xong, vợ nóng lòng quá nên gởi thơ tiếp: Ruộng lâu ngày cứ để bỏ không, hạ đi thu đến sắp lập đông, cỏ xanh cũng lạnh dần héo úa, thợ cày đầy rẫy chẳng tính công?
Ông chồng hồi đáp: Biết là ruộng lâu ngày trống không, cỏ dại um tùm mọc mênh mông, nhưng mà tụi nó cày tệ lắm, kỹ thuật thua ta có biết không?
Bà vợ rằng: Ruộng vẫn nơi này quá mênh mông, sao chẳng gieo đi kiếm vài đồng, ông về vẫn đó chi mà ngại, mùa ông thu hoạch khỏi tốn công!
Chồng tiếp bực mình: Này này ông nói có nghe không, ruộng ông ông kệ cứ chơi ngông, khi nào ông rảnh ông gieo giống, còn không kẻ khác cấm cho trồng!
Bà vợ chịu không nổi… gửi tiếp: Ông à… cỏ dại lên quá mông, dân cày quê mình cứ ở không, thôi tui làm phước cho họ cấy, ông về thu hoạch… thế là xong!
Ông chồng càng tức giận hơn: Cỏ dại có mọc lên quá mông, thì bà vẫn cứ phải để không, ông mà biết được bà cho cấy, ông vể nhổ sạch thế là… xong!
Bà tiếp: Ruộng kia cỏ đã mọc đầy đồng, ông về gấp gấp có nghe không? Ruộng đang thiếu nước lại khô cạn, ông về tưới hộ tôi trả công!
Chồng nghe thế liền gởi lại: Ừ thì bà ráng mà kiềm lòng, bà mà léng phéng chết với ông, ông về ông cấy cho tơi xốp, cho thỏa bao ngày bà đợi mong
Hôm sau, chồng nhận được thư vợ như sau: Luật mới ban hành ông biết ko? Ruộng mà không cấy sẽ sung công, vậy ông thu xếp mà về sớm, kẻo mất ruộng rồi ông trách ông

Những cuộc xướng họa trong vườn hoa Gia Long của Việt Kiều ở Hợp Chủng Quốc Châu Mĩ[sửa]

Giai thoại vịnh Con Voi[sửa]

Vào dịp tết Mậu Tý (2008), tại vườn hoa Gia Long trên đất Mĩ, nhân ngày quốc tế phụ nữ mồng Tám tháng Ba, các lưu học sinh Việt Nam đã có buổi giao lưu gặp gỡ giữa các thân hữu bằng cách đối thi. Ðề tài xướng hoạ là “con voi”. Qua những bài thơ xướng hoạ, độc giả theo dõi sẽ thấy sự biến hoá tài tình của các thi sĩ, đem lại cho chúng ta nhiều thích thú, ngạc nhiên. Khởi đầu là bài xướng “Trói voi” của Ngọc Anh. Bài này Ngọc Anh đã ví làm thơ Ðường khó như trói một con voi. Trói làm thế nào cho voi được chặt, được gọn, không để lòi, cũng giống như làm một bài thơ Ðường, sao cho hợp vần, hợp vận, đúng luật, đúng niêm:

vế xướng: Sao chàng nỡ ép thiếp trói voi, bốn vó gom chung với cái vòi, lượm thượm trên đầu đôi ngà ló, loay hoay dưới cuối cọng đuôi lòi, tơ hồng đan lưới bung toang toác, chỉ thắm bện dây đứt tả tơi, tháo quách cho xong đời đỡ khổ, chàng ơi thiếp muốn cưỡi coi chơi
Bài họa thứ nhất của Sơn Khê nhan đề “Chiều nàng”: Nàng rằng chỉ thích cưỡi con voi, nếu thế ta đây chẳng dám vòi, khúm núm khoanh tay e gươm tuốt, lom khom chấp gối sợ giáo lòi, thiên hương diệu võ dần xương nát, quốc sắc dương oai xẻo thịt tơi, kế nghiệp hai bà nghìn năm trứớc, ta nào dám lấy đó làm chơi
Kế đến, có người tên TVB đồng tình bày tỏ đức “thờ bà” qua bài “Hãi vợ”: Hiền thê nhà tớ tướng như voi, tính nết hung hăng lại thích vòi, quát mắng chồng nghe tai thành điếc, hăm he vợ quắc mắt muốn lòi, đảm đang việc bếp thân mền rách, xốc vác chuyện nhà xác áo tơi, số kiếp long đong không kịp thở, thờ bà hãi vợ để mà chơi
Sơn Khê thấy vậy cũng xin được hai chữ bình an bằng một bài nữa nhan đề “Sợ vợ”: Vợ tôi tướng chẳng bự như voi, vậy đó mà tôi cũng cụp vòi, gót ngọc xoay ngang vèo hàm méo, tay ngà móc ngược hự ruột lòi, nghe hơi đằng hắng lòng hồi hộp, thấy bóng lờn vờn dạ rối tơi, miệng ngậm tăm thôi nào dám hé, nát xương chứ phải chuyện vui chơi
Nhân vật TVB thủ thế “Vợ giỏi”: Thì ra phái nữ khoẻ hơn voi, võ giỏi nên ta phải kéo vòi, cước tấn trung khu toang rốn hở, chưởng công thượng đỉnh giập tai lòi, người tay bụm chặt che vành rách, kẻ gối co cao giấu chỗ tơi, đã thế từ nay mình phải luyện, "tịch tà kiếm pháp" trả thù chơi
Một anh bạn không nêu tên anh dũng tuyên bố không sợ vợ “Không sợ”: Ừ cho bà xã khoẻ ngang voi, có thế sợ chi phải rụt vòi, vài ba thế võ gan không thụt, sáu bảy thước gươm ruột chẳng lòi, nhất chỉ dương cương công chính điện, hàm mô áp đảo địch mê tơi, "tịch tà kiếm phổ" khi mà luyện, khốn khổ thân mình chứ chẳng chơi
Tuy nhiên nhân vật tên TVB vẫn một mực thờ bà, em chả vì bà xã của anh sinh ra ở Hà Ðông “Chả dám đâu”: Thôi đi lỡ chuyện tới tai voi, vỡ mặt bầm môi ấm sứt vòi, bu nó hăm he tay xắn ngược, bố mày lấm lét mắt thời lòi, dương công nhất chỉ bà bằm nát, bạch cốt tam chiêu tớ xé tơi, "bảo điển Quỳ Hoa" mang nhát hả? đứa nào khốn khổ thử xem chơi
Có người tên Nhân Sâm, nãy giờ ngồi im, bỗng lên tiếng “Sợ gì chứ”: Sợ gì dẫu chuyện tới tai voi, chẳng lẽ thân trai lại sợ vòi, quắc mắt một lời im miệng toác, giơ tay chỉ mặt cụp đuôi lòi, nam nhi chí lớn không cho nhụt, mãnh hổ lông vằn chẳng để tơi, bạch tượng dù to còn phải phục, lôi thôi ông tước hết đồ chơi
Nhưng nhân vật TVB vẫn run lên cầm cập “Sợ chứ”: Sợ lắm ông ơi số hãi voi, ngồi xa để ngó nó vung vòi, to như trâu mộng sừng còn gẫy, dữ giống cọp khoang ruột vẫn lòi, ngà sắc song đao đâm bụng thủng, chân to tứ trụ đạp xác tơi, hiền thê của tớ kinh hơn thế, vớ vẩn rồi đời nát kiếp chơi
Sơn Khê cũng bắt chước Nhân Sâm ra oai, nhưng chỉ dám làm trong giấc mơ “Chỉ có mơ”: Phải rồi cứ quát thẳng tai voi, hùng hổ như ta há sợ vòi, loạng quạng đè đầu cho khỏi ngóc, lôi thôi cưỡi cổ để đừng lòi, cung tay đấm thẳng xông lên tấp, xoạc cẳng đạp ngay xục đến tơi, mộng mị trong đêm ôm ước muốn, tỉnh cơn lại tiếc mỉm cười chơi
Nhân Sâm vẫn cương quyết làm thật, phen này phải nhất định chém rơi vòi “Chẳng mơ”: Chẳng mộng chẳng mơ chẳng ngán voi, phen này ta quyết chém rơi vòi, đè lên trói chặt không cho giẫy, lôi xuống bó tròn chẳng để lòi, vung kiếm khoe đường Long Vẩy Bạc, múa quyền trổ ngón Hổ Da Tơi, chỉ cần một nhát lìa ba đoạn, nhặt lấy đem hầm thuốc nhậu chơi
Sơn Khê vội lên tiếng can ngăn “Hãy khoan”: Chết chửa ai kia dám giết voi, hươi gươm loang loáng đứt lìa vòi, còn đâu vắt vẻo người vui thấy, hết cả ngo ngoe kẻ thích lòi, thế giới im lìm tình chán ngắt, thời gian hờ hững cảnh buồn tơi, xin lòng độ lượng khoan tay chém, cứ để vòi kia ngúng nguẩy chơi
Nhân Sâm nể lời bạn tạm tha cho voi “Tạm tha”: Nể bạn dừng tay hoãn giết voi, khôn hồn mau hãy tự co vòi, gươm này không nể phường đầu rối, kiếm nọ chẳng tha kẻ móng lòi, lớn xác tai dầy nhưng bụng rỗng, to thân miệng rộng lại da tơi, ừ thôi ta tạm tha cho đấy, nhớ nhé coi chừng mất chỗ chơi
Chợt Sơn Khê chuyển đề sang sờ voi “Sờ voi”: Chuyện rằng lắm kẻ thích sờ voi, khổ nỗi là không nắm cái vòi, chổi lúa quân sư làm đuôi điếc, quạt mo cố vấn khiến tai lòi, cưỡi lưng dựa thế con trâu ngốc, luồn bụng ôm chân cái cột tơi, voi hỡi mong mi đừng tủi phận, thế gian trăn quấn chuyện vui chơi!
Đang cao hứng Sơn Khê lại bày ra vẽ voi “Vẽ voi”: Thừa giấy nên ta lại vẽ voi, xong ngay trước hết với cái vòi, vờn cong hai nét cho mình ưỡn, vẻ thẳng tám đường để cẳng lòi, vạch miệng cong lên đôi tháp cứng, khoanh đuôi cụp xuống cọng lông tơi, tô thêm vài nét lên đôi mắt, hình dáng xem ra rất chịu chơi
Nhân Sâm gật gù khen bạn và xin tranh voi đem về đóng khung “Khen họa sĩ đại tài”: Kìa xem ai khéo vẽ chàng voi, hai mắt hai tai với một vòi, mình ưỡn lưng bồ đuôi phẩy phẩy, ngà cong chân thép móng lòi lòi, nhìn ngang trông nó oai nghi quá, ngó lại thấy ta dạ nát tơi, họa sĩ đại tài vung mấy nét, xin về nhất định đóng khung chơi
Sơn Khê thấy thế đổi nghề mộc “Ðóng khung”: Thử ra nghề mộc đóng khung voi, khổ nỗi bày sao rõ cả vòi, kẽo lại người lầm con hải tượng, e rằng kẻ lộn chú heo lòi, bào ngàm ráp khít lay không lỏng, đục mộng tra vừa lắc chẳng tơi, đóng chặt vài đinh cho chắc cú, trét keo gắn dính giữ lâu chơi
Nhân Sâm khen Sơn Khê giỏi với bài “Ða tài”: A nay anh lại đóng khung voi, gọn ghẽ thân chân lẫn cả vòi, nhát búa đường đinh ôi sắc sảo, màu sơn nét vẽ tuyệt không lòi, hiền huynh chỉ ướm đà ngay chóc, tiểu đệ tuy gò vẫn thấy tơi, nhất quyết phen này em phải học, vừa văn vừa võ bớt rong chơi
Tiện thể, Nhân Sâm cũng bày cách trói voi cho Ngọc Anh “Cách trói chân voi”: Ngồi đây anh dạy trói chân voi, giữ chặt không cho nó cuốn vòi, thắt nút luồn qua đừng để vuột, căng dây rút mạnh chẳng cho lòi, xoa xoa tay phủi vui khoan khoái, ngắm nghía miệng cười sướng quá tơi, cứ bảo trói voi là chuyện khó, em ra thật dễ chỉ như chơi!
Sơn Khê thì cho rằng chính danh thủ phạm của vấn đề chính là “Cái vòi”: Thật là rõ chán với con voi, rắc rối chỉ do mỗi cái vòi, lủng lẳng trên đầu làm mắt ngứa, đong đưa dưới bụng khiến tai lòi, bờ rau rậm rạp bằm cho nát, bụi mía lưa thưa dập đến tơi, xẻo quách cho xong là hết khổ, bởi vì nó chỉ biết ăn chơi
Thế rồi Sơn Khê lại muốn thắt nó để chơi “Thắt vòi”: Thế thì ta lại vật con voi, lấy thúng úp lên để thắt vòi, tránh thịt sùng lên đâm mắt lõ, phòng gân nổi dậy chọc gan lòi, thừa hơi hút nước sông hồ cạn, dư sức đùn non đá sỏi tơi, lồng chỉ thòng vòi cho khỏi lắc, buộc vào cột cái để vần chơi
Nhưng Nhân Sâm vẫn nhất định đổ tội cho voi “Tại voi”: Chẳng phải tại "vòi" ấy tại voi, có ai mũi lại hoá thành vòi, đít to đầu bé cùng tai cụp, mắt hí chân lùn với móng lòi, để khổ cho ai tìm cách trói, mang sầu đến kẻ đóng khung tơi, thôi thì ta cất mày vào xó, lúc rảnh đem ra ngắm chút chơi
Đến lúc này người xướng là Ngọc Anh mới lên tiếng nói là “chẳng phải tại vòi hay tại voi” mà chính là tại anh chàng hậu đậu “Tại chàng”: Người nói tại "vòi" kẻ bảo "voi", bởi ai không khéo tội voi vòi, túm chân bó chặt tròn vừa khít, cưa gỗ làm khung gọn hết lòi, pha mực tô màu khoe nét đẹp, thêm hoa vẽ lá giấu nơi tơi, khuyên chàng quân tử gây nên nỗi, chăm chỉ chuyên cần bớt ăn chơi
Nhân Sâm thấy vậy liền viết thay cho Ngọc Anh với ý là sau cùng voi chịu hết nổi phải xin làm dê “Xin được làm dê”: Kiếp sau thôi tớ chẳng làm voi, xin được làm dê dẫu cụt vòi, tất cả tai to cùng mắt hí, không còn ngà ló với đuôi lòi, be he thong thả tìm vui thú, há há tà tà kiếm hoa tơi, sướng quá cuộc đời dê sướng quá, suốt ngày ăn ngủ úm rồi chơi
Bấy giờ có cô Giáng Hương thấy nóng tiết, không đồng ý với Nhân Sâm, cho là voi sướng hơn dê nên họa bài “Voi sướng hơn dê”: Làm dê chẳng có sướng hơn voi, kẹt nhất là không được phép vòi, một nắng mài sừng kiêng ngủ nướng, hai sương dũa móng tránh ăn lòi, âm dương hỗn loạn vì ngầu pín, nhật nguyệt thăng trầm bởi mép tơi, bảnh mắt tinh sương ra đứng cổng, chuyên làm tôi mọi kẻ cười chơi
Lúc ấy, nhân vật TVB mới lại chen vào “Không muốn giống voi, cũng chẳng muốn làm dê”: Tớ đây cóc muốn giống như voi, cũng chẳng làm con bị mất vòi, ngọc giống tranh phong thua lợn nọc, ngà ròng thử lửa kém heo lòi, lang thang húc sảng đâm hành nát, đủng đỉnh đi quàng nghiến tỏi tơi, bởi thế làm thân dê mệt lắm, sự đời mất tiệt lấy gì chơi
Để kết thúc cuộc giao lưu, Sơn Khê viết bài “Chát chơi”: Vung vít vờ về việc vẽ voi, vào vây vớ vẩn vụ vờn voi, lơ là lắc lẻo làm lừa ló, lì lợm lê la lại lợn lòi, tình tụ tưng tưng toan tính tả, tiết tan toang toác tại tình tơi, chụm chia chua chát chan chằng chịt, chung chọc chính chuyên chẳng chịu chơi
Cuối cùng, Sơn Khê viết thêm một bài nữa tên gọi “Con vê” dùng hoàn toàn bằng vần V: Vì vợ ví von với vóc voi, vớ va vớ vẩn vẽ vờn vòi, vái van vút vút vào vòi vĩnh, vênh váo vèo vèo vụ vác vôi, ve vãn vờ vin vào vương vấn, vội vàng vít vế vục vẽ vời, vẻ vang vô vác vui vần vũ, vi vút vu vi vụ vạ vơi

Giai thoại có tựa đề Tuyển Phu[sửa]

Vế xướng của Thị Mốc: Ham vui cũng muốn muốn tìm chồng, của ối sợ nhầm chớ trách ngông, gối chiếc trăng tàn soi bóng lẻ, mền đơn gió tạc gọi sầu đông, trai tơ háo sắc hoài son phấn, già khú bong gân uổng má hồng,gắn bảng chiêu phu gan cứ thử, thiếp nguyền khăn gói thuận theo không
Mục Đồng xin đăng ký luôn: Mừng quá nghe ai muốn kiếm chồng, nhảy vào đăng ký định chơi ngông, gối mới êm đầu khi say xỉn, mền thêm ấm cật lúc gió đông, quà cheo xin tặng hai viên ngọc, lễ cưới kính dâng một bó hồng, nếu được xin người mau cho biết, thêm kẻ theo phò tốt phải không
Thị Mộc trả lời Mục Đồng: Quả thật cô nương cũng muốn chồng, ngặt vì phải cái tính hơi ngông, nhà tuy chẳng rộng nuôi mươi nghé, đất độ trăm công mượn tớ đông, lão bạn ê hề chê ngọc xấu, đào lan tươi tốt chẳng tham hồng, Mục Đồng còn thiếu đôi ba trẻ, cơm áo ngon lành phải tốt không?
Phú Điềm xin họa vần bằng bài “Chịu Thua”: Cái Thị hôm ni lại muốn chồng, Mốc thì chịu mốc tại sao ngông, thân này cô lẻ vui đơn lẻ, mền rách lạnh đông chịu cảnh đông, chúc chị chiêu phu ra sĩ tử, mong cô mở cửa được tơ hồng, tớ đây phong nguyệt vui đời thả, vướng bận đường tơ mượn chữ không
Có người là TVB nối tiếp cuộc chơi bằng bài “Cho không”: Chị ơi em phát khiếp ông chồng, chớ trách già đầu lại thích ngông, mấy chục tìm đâu ra của tốt, vài trăm kiếm khó được con đông, trai khôn rặc giống chàng mặt trắng, gái khéo to hông chị má hồng, quá sợ cái giường nên phải vất, ai mà có thích lạy cho không!
Một nhân vật tên ST viết bài tự đề PHÍ CỦA: Ai mà có thích lạy cho chồng, phận mướp ước ao cánh hoa hồng, xuân muộn đào phai thôn quán vắng, hạ tươi phượng thắm chợ hàng đông, câu duyên lỡ đợi còn toàn dại, tiếng phận thừa chờ thấy những ngông, cố đấm xôi thiu chẳng nuốt nổi, người sao phí của trời cho không!
Nhân Sâm giờ mới lên tiếng với bài COI CHỪNG: Coi chừng những ả muốn tìm chồng, chỉ thích chai lơ thế mới ngông, hàng tốt đồ ngon vui tháng Hạ, vai u thịt bắp ấm mùa Ðông, dẻo dai suốt sáng nuông chiều phấn, liên tục thâu đêm phục vụ hồng, đêm bảy ngày ba đầu gối lỏng, vài tuần đứt bóng cũng như không
Một nhân vật khuyết danh chấm dứt mạch thơ với bài TUYỂN PHU XE: Phu đâu mà quảng cáo tìm chồng, dở chứng phòng the thé rõ ngông, của quý đừng trương hàng mất giá, đồ chơi chớ dạm bán cầu đông, trai tàn vẫn luyến màu son sắc, gái bạc còn vương chút phận hồng, tréo cổ lưng còng thôi chớ dại, phen nầy chắc lại vác xe không

Giai thoại vịnh Mùa Thu[sửa]

Nhâm Sâm ra vế xướng mang tên THU BUỒN: Thu đến lá vàng rụng khắp nơi, Thu về gió lạnh tạt ngang trời, Thu sang nắng nhạt nghiêng nghiêng rọi, Thu tới mưa buồn lất phất rơi, Thu dỗ giấc nồng thôi mộng mị, Thu ru hồn lạc bớt chơi vơi, Thu buồn thân phận người cô phụ, Thu khóc cuộc tình đã cách đôi
Ngọc Anh họa với bài thơ EL NINO: Mấy hôm nắng quái chiếu nơi nơi, mây trắng lang thang trốn mặt trời, lá úa cây buồn thu chẳng đến, nhựa khô cành gãy hạ còn rơi, nơi này hơi nóng mồ hôi đổ, chỗ khác bão tuôn giọt đầy vơi, chuyển tiếp El Nino quái đản, khác chi lòng dạ chẳng vừa đôi
Sơn Khê cũng góp lời với tựa đề LINH THỜI: Thu lập đài mây đã đến nơi, chốn vui chốn tẻ dưới khung trời, phận chung trước gió đang mong kết, danh thủy đầu cành cứ muốn rơi, lá thắm là không khi tiết gợn, hoa tươi cũng chẳng lúc tình vơi, cái sinh cái tử quanh vòng nguyệt, đệm giá màn sương nhẹ tách đôi
Phú Điềm phụ họa bản MÂY THU: Mây cũng buồn vui chạy khắp nơi, Mây mù che khuất cả bầu trời, Mây giăng đầu núi bay dồn tới, Mây đọng từng không nhỏ giọt rơi, Mây báo cùng ta thôi nắng giọi, Mây hùa với gió đón sương rơi, Mây ơi bay tới nhà bên đó, Mây nhắn dùm ta chuyện lứa đôi
Van Lu (04-9) tham gia với tư cách: ĐÊM THU CHƠI THUYỀN: Ánh thu biêng biếc rải muôn nơi, vài cánh chim khuya lạc cuối trời, bến vắng đèn mờ vùng úa rớt, sông thanh trăng tỏ mảnh vàng rơi, rì rầm sóng gợn ưu phiền vợi, êm ái gió ru sầu muộn vơi, chiếc bách lững lờ trời nước rộng, đâu người tri kỷ mộng chung đôi?
Quỳnh Hương cũng có mặt ở buổi xướng họa hôm đó mang tên NGUYỆT SẦU: Hoàng hôn vàng ánh tỏa muôn nơi, gió thổi mây ngàn tận cuối trời, nhung nhớ người xưa lòng lại thắt, vấn vương tình cũ lệ còn rơi, bên thềm nắng quái hoa buồn đợi, dưới gốc sim già lá héo vơi, gác lạnh đìu hiu sầu bóng Nguyệt, ngậm ngùi cay đắng chuyện chung đôi
Tiếp đến là bài QUỲNH THU của Sang Trang: Thu nức nở sầu tím khắp nơi, tiếng quỳnh thổn thức trách than trời, tối mờ lộng lẫy hương thơm rũ, sáng rọi tả tơi cánh héo rơi, đoản kiếp vui mau tình phút cạn, vắn đời mơ vội mộng giờ vơi, thương thay một cánh hoa đêm nở, khóc tủi số phần chẳng được đôi
Van Lu (04-9) nổi hứng viết thêm bài nữa gọi là THƠ HỌA KHÔNG DÁN: Bài họa "thu buồn" dán một nơi, chị tôi không thấy phải kêu trời, hàn huyên bạn tới quên thơ dán, xao xuyến thu về nhớ lá rơi, xướng họa Đường Thi trang rộng hẹp, nhâm nhi mỹ tửu chén đầy vơi, đêm thu thoang thoảng mùi hoa nở, thơ họa nằm trơ khóc lẽ đôi!
Đường Nhị Thu tham gia một bài tên THU: Rừng phong nhẹ trải Thu nơi nơi, mây tím giăng giăng Thu lộng trời, nắng chếch xuyên cành Thu tiếng gọi, lá sầu nương cánh Thu nhàn rơi, nai vàng lặng ngắm Thu hờ hững, sóc xám ngoảnh nhìn Thu cạn vơi, ta đứng giữa chiều Thu lắng đọng, hỏi thầm có được Thu chung đôi
Cuối cùng Nhâm Sâm cảm động vì mọi người đã họa vần thơ của mình rất độc đáo mới viết một bài kết thúc GIÓ THU: Gió về tung bụi đỏ muôn nơi, Gió đến hoa bay nhuộm đất trời, Gió viếng đẩu thôn cành liễu động, Gió thăm cuối xóm lá vàng rơi, Gió mơn man nỗi sầu thăm thẳm, Gió vuốt ve tình nhớ chẳng vơi, Gió gởi nụ hôn từ viễn xứ, Gió lau ngấn lệ chảy hàng đôi

Giai thoại mang tên Sân Khấu Cuộc Đời[sửa]

Thiên Tâm viết liên tiếp 2 bài xướng: Vẫn hay số phận thích đùa trêu, thắng bại hơn thua có nhẹ hều, cõi thế bùn đen từng lặn lội, đường tình mắt trắng đã lêu bêu, trường đua cá độ lòng sôi nổi, mồi nhử giăng câu sóng phập phều, sân khấu cuộc đời ai phận nấy, sau lưng nào biết kẻ đầu têu...Thế giới bây giờ lắm quỷ yêu, dân lành chẳng dám tiếng kêu rêu, thân dê trót gửi bầy lang sói, mình cá đành dâng lũ quạ diều, bóc lột chực chờ tay cướp trộm, tranh giành đưa đẩy phận cò nghêu, giáo điều chủ thuyết chia quyền lợi, đạn nổ bom rơi xác bập bều
Hai bài bài họa của Thi Sĩ Trường Giang: Thiên hạ bày ra cảnh trớ trêu, đã coi gia pháp nhẹ hều hều, buôn non đạo lý toàn ưa chửi, bán đứng cương thường rặt thích bêu, trai hám rượu chè công tử bột, gái mê cờ bạc mỹ nhân phều, tướng quân Thương Ưởng gương dâu bể, tầy liếp sao đời vẫn cứ têu...Quỷ dữ luôn kiềng kính chiếu yêu, tận tường chân tướng loại rong rêu, tranh giành miếng lạ như loài sói, cướp giật mồi ngon tựa giống diều, chẳng biết thân cô như cáy tép, không hay phận mỏng tựa sò nghêu, bạn bè ví giữ câu tương kính, thì đạo nhân luân chẳng nhẹ bều
Nhân Sâm họa bài thứ nhất lấy tên KỆ ĐỜI và bài thứ hai tiêu đề ĐỜI NHÀN: Mặc kệ đứa nào thích ghẹo trêu, đường ta ta bước nhẹ thân hều, mấy người dốt đặc thường hay nói, những kẻ vô tài lại khoái bêu, chữ nghĩa như bèo trôi lấp lửng, văn chương tựa rác nổi lều phều, buồn cho thế giới đầy gian xảo, thú đội lốt người thật ”tớ têu”...Bỏ oán bỏ thù học chữ yêu, thả hồn bên suối với rong rêu, la đà giữa áng như loài bướm, lơ lửng trời cao tựa cánh diều, sáng sớm thả câu vài chú cá, hoàng hôn buông vớt mấy chàng nghêu, tâm hồn thanh thoát không phiền muộn, quên cõi trần gian rác lều bều
Trần Việt Bắc cũng đóng góp 2 bài với cái tên THỬ HỌA: Chả hiểu sao ngài lại khoái trêu, ra chiêu quá độc với vần “hều”, lăm le cũng muốn đành đeo thử, lấp lửng còn lo chả dám bêu, lẩm bẩm vài hàng môi mím chặt phì phò mấy chữ miệng sưng phều, trò đời quái ác chưa ngưng hẳn, phút chót vẫn còn cái tiếng “têu”...Gặp phải thơ Đường giống ngải yêu, dù rằng thiếu chữ cũng rao rêu, thèm xôi chịu đấm phình da bụng, đón gió căng dây gắn sáo diều, đợi giọt mưa sa vui vận cóc, gặp mùa nước xuống há mồm nghêu, lỡ trớn cũng thử mò cho biết, mắc cạn rong rêu cái phận “bều”
Van Lu (04-9) có hai bài là KHI NGƯỜI YÊU CHƠI ÁC và NGƯỜI YÊU KHÔNG ĐỢI như sau: Tránh mặt không xong gặp lại trêu, đau đòn hơn bị đánh trăm hều, vì yêu nên mới thầm lời ngõ, dẫu giận sao đành lớn tiếng bêu, lửa đỏ tình thơ thiêu trụi lủi, sông xanh kỷ vật nổi lêu phêu, đã thương đâu nở tâm chơi ác, chắc hẳn sau lưng có chủ têu...Em bảo vừa quen đã chớm yêu, anh người lãng tử kiếp bèo rêu, sương chiều chưa xuống ngồi ngâm vịnh, nắng sáng vừa lên đứng thả diều, tám hướng mây ngàn trôi mải miết, bốn phương hạc nội hót lêu nghêu, vườn xuân mái ấm hoa hồng nở, giả biệt tình anh quá bấp bêu!
Ngô Phu kết thúc với hai bản TUỒNG ĐỜI: Dẫu biết tuồng đời lắm trớ trêu, không quan hoài tới nhẹ hều hều, cố tình cất bước thây người chế, nghịch lối phăng chân mặc kẻ bêu, còn trẻ mừng đi chưa ngoẹo ngọng, tới già đố tránh khỏi phào phêu, tuổi thừa còn mấy mà tâm bận, têu được lúc nào mặc sức têu...Têu sao khoái chí lắm người yêu, hơn để thời gian phủ bám rêu, gặp hợm đừng nề phanh xác cáo, thấy gian chớ ngại đập đầu diều, thị phường láo táo bầy tôm tép, coi lũ tầm phào đám ốc nghêu, khán giả dư bình tuồng tích diễn, chỉ lo bại hoại cảnh lều bều

Giai thoại có tên gọi Men Rượu Hồn Thơ[sửa]

Khởi đầu là hai bài xướng liên hoàn đảo vận của Thi Sĩ Văn Lang: Gió về lay động cánh hoa vương, tô thắm vườn xuân điểm mặt đường, khẽ gại cung tơ tìm cảnh mộng, khéo đùa men rượu kiếm mùi hương, chiều dâng chiếc én về duyên hải, đêm lắng ngàn lau khép chiến trường, nhẹ lái thuyền mơ qua bến nhạc, đón chùm sao rụng toả trong sương...Đón chùm sao rụng toả trong sương, thức tỉnh tâm tư giữa mộng trường, bớt ngọn đèn khuya trăng giãi bóng, mở rèm trúc lạnh gió đưa hương, khơi nguồn thi hứng bên song liễu, dệt khúc ca ngâm trước thảo đường, say tỉnh bâng khuâng lòng rộn rã, tình quê ý nhạc mảnh hồn vương
Đăng Thanh là người họa đầu tiên: Quen thói đa tình lắm vấn vương, thú thơ thú rượu vẹn đôi đường, bên đèn mấy vận trêu thanh sắc, dưới nguyệt lưng bầu cợt phấn hương, thấm thía men cay khi giấc quế, chứa chan ý đẹp lúc canh trường, thả hồn phiêu lãng chung say tỉnh, nào biết mái đầu tóc điểm sương...Nào biết mái đầu tóc điểm sương, buồn vui tâm sự gởi thi trường, nâng ly rượu đắng thương nhân thế, tạo khúc thơ sầu chạnh cố hương, canh vắng ngâm nga câu tuyệt diệu, đêm thanh nghĩ ngợi chuyện hoang đường, thảnh thơi không vướng vòng danh lợi, phó mặc ai người mộng bá vương
Kế tiếp là Thanh An cũng góp vui: Nhắp chén men nồng cảm súc vương, bâng khuâng ngắm lá rụng bên đường, xa xa giọng dế hoà êm nhạc, thoang thoảng mùi hoa toả nhẹ hương, chạnh khách chinh nhân ngoài hoả tuyến, mơ trang dũng sĩ chốn sa trường, hồn thơ hứng cảnh vừa len đến, bỗng chốc tan hoà với gió sương...Bỗng chốc tan hoà với gió sương, chìm trong ảm đạm của đêm trường, cho tâm lắng đọng sầu ly quán, để trí phai mờ hận cách hương, đàn thảm im ngân cung Bắc oán, thơ sầu biếng nhả vận thi Đường, quỳnh tương đã cạn bao bầu lớn, sao khổ tương tàn chửa hết vương
Đăng Chiêu cũng gửi niềm cảm xúc của mình: Gặp mối tơ tằm đã vấn vương, cầm tay xiết chặt hiệp chung đường, hơi trầm phảng phất thơm mùi đạo, men rượu nồng nàn ngát vị hương, sóng nhạc trùng dương sầu cố quận, oan hồn chiến địa hận sa trường, mượn vần xướng hoạ xoa phiền lụy, đồng hội đồng thuyền lướt gió sương...Đồng hội đồng thuyền lướt gió sương, tâm đầu ý hiệp sống miên trường, hoà vui người thế gây tình cảm, tô điểm tranh đời đượm sắc hương, thanh khiết hồn thơ về núi Phụng, mê ly ấm điệu vượng thi Đường, tao đàn hạnh ngộ trao duyên thắm, chia sẻ đạm nồng nghĩa đậm vương
Lê Lực cũng có nhã hứng tham gia: Hồn thơ lai láng trúc tơ vương, nhuận thắm nồng men giá thịnh Đường, thơ thẩn bút hoa cao ngút mộng, say sưa Quỳnh tửu ngát lên hương, thung dung xướng hoạ tình miên cửu, khoái hoạt tạc thù nghĩa đại trường, lưu áng thanh bình cơn túy lúy, trọn tình non nước giữa phong sương...Trọn tình non nước giữa phong sương, chinh chiến liên miên hận dạ trường, tắt lửa loạn ly bừng ánh nước, mở màn sáng lạng nức trời hương, dốc bầu thế sự hưng kim mã, nong túi giang sơn thịnh ngọc đường, mơ mộng tỉnh say ai biết tá, hồn quê đất Việt nặng lòng vương
Đến lượt Chim Hoàng lên tiếng hót: Chẳng có duyên gì cũng vấn vương, ai buông tơ liễu dịu ven đường, văn chương giá ấy bừng châu ngọc, bèo bọt thơ mình thẹn phấn hương, tang tóc buồn chăng hai thế hệ, thi ca mừng có một môi trường, chết thôi chưa góp bao đèn sách, mà mái đầu xanh suýt điểm sương...Mà mái đầu xanh, suýt điểm sương, trong khi đêm cứ mãi đêm trường, gấm hoa chưa đẹp trời tinh đẩu, khói lửa thêm buồn dặm cố hương, tờ mỏng e dè trao cánh nhạn, lời quê bỡ ngỡ hoạ thơ Đường, năm cung khi đã tay dìu dặt, thì sợi tơ lòng khó chẳng vương
Lan Đình là nhân vật nối tiếp mạch cảm xúc: Hồn thơ men rượu tiếp xuân vương, ngàn cánh hoa lòng ngát nẻo đường, cẩm tú muôn màu tranh điểm cú, đan thanh một vẻ nét thư hương, vườn xưa cảm mến tình dân tộc, bến cũ hoài mơ cảnh thế trường, khúc nhạc suy tư say tử lý, lan đài vẹn cánh mở then sương...Lan đài vẹn cánh mở then sương, chuốc chén hoa sinh hiệp nhất trường, đàn trỗi tơ lòng khơi mỹ sắc, bút vờn hoa ý ngát kỳ hương, tỉnh say bên giấc lên đài các, xuất hiện trong mơ ngõ hạnh đường, quê mẹ truyền lưu nền thiện lý, bao mùa lịch sử vẫn còn vương
Bài thơ của Đường Ngạc cũng rất day dứt: Mối tình thi hoạ vẫn còn vương, khó nỗi ngơ đi chẳng mở đường, thơ thảo vài câu vui bạn hữu, giấy đề mấy chữ tặng quê hương, tâm hồn khoáng đãng ngây cành phượng, trí óc bâng khuâng chạnh mái trường, dun dủi người tôi say cốc tửu, ôm đàn hoà điệu giữa đêm sương...Ôm đàn hoà điệu giữa đêm sương, gởi tiếng ca ngâm đến chiến trường, xoa ấm lòng ai đêm vắng nguyệt, làm êm trí nọ lúc hoài hương, não nùng trưa nắng oanh xa tổ, man mác chiều mưa én lạc đường, thương bấy cho ai còn bận bịu, tình nhà nợ nước mối sầu vương
Bài thơ của Mạnh Cử: Nghe khúc Tao đàn dạ vấn vương, hoà đồng thanh khí trỗi lên đường, một bầu non nước mang theo bạn, mấy đoạn tơ lòng cảm mến hương, mượn chén tiêu sầu tình khách địa, bình thơ đuổi giặc hận sa trường, đáp lời thi hữu bao nhiêu tứ, kết nghĩa kim bằng mái tóc sương...Kết nghĩa kim bằng mái tóc sương, cùng nhau giải tỏ nỗi can trường, đau lòng đất nước cơn ly loạn, hổ mặt râu mày phận lứa hương, con cháu tiên rồng chung một mối, Bắc Nam hồng nhạn rẽ đôi đường, trông mau chấm dứt mùa chinh chiến, cho cảnh quê nhà khỏi hận vương
Minh Đạt tiếp tục cuộc chơi: Đã thấy cành Xuân bụi cát vương, chìm trong ngõ vắng rũ theo đường, tủi dòng suối gợi trơ mày đá, xót mối duyên hờ nhạt cánh hương, núi gục đầu ôm trời khói loạn, cây xoè tay đỡ xác đêm trường, trên nguồn sóng nhạc dừng chân ngắm, tìm lại hoa mùa nhẹ gót sương...Tìm lại hoa mùa nhẹ gót sương, nguồn thơ lai láng thấm can trường, vườn khuya ngõ nhớ mờ canh mộng, cổng mới ai dìm bặt gió hương, đành gởi tâm tư vào bến hẹn, chờ theo ý nhạc rót ven đường, hoà chung sáo ngọc tầng cao dội, vơi bớt hận lòng mãi vấn vương
Ngạc Thần cũng có bài thơ đầy ưu tư: Tiếng tơ lay động mảnh hồn vương, ngơ ngẩn sầu đan mái thảo đường, nhìn bóng trăng gầy treo suối bạc, nhớ đêm gió lạnh nhạt thềm hương, chén say chưa mỏi dòng tâm sự, giọng hát đâu đưa khúc đoạn trường, giữa buổi giao thời qua bến hận, bước đời còn điểm giọt ngàn sương...Bước đời còn điểm giọt ngàn sương, reo rắc đêm đen khắp dặm trường, những phiến đá mòn dang dở mộng, bao cành hoa rũ nhạt phai hương, tiếng ru trăm tuổi mài khung đất, lá rụng muôn phương khoá cổng đường, tiếp nối vô cùng trong ảo ảnh, thế thì vạn vật mãi buồn vương
Đến lượt Trọng Thu tỏ bày tâm sự: Nực cười họ Thạch với chàng Vương, kình chống khoe khoang đủ mọi đường, cầm bút ngậm ngùi thương chiến sỹ, nâng ly tức tưởi nhớ quê hương, ít nhiều khó sánh bề sinh hoạt, mắc rẻ khôn dương giá thị trường, nghĩ chuyện xa xôi mà chán ngán, lần lừa mái tóc đã pha sương...Lần lừa mái tóc đã pha sương, đoái cảnh tang thương oán hận trường, mở túi Ðông Pha ngời mỹ phẩm, nghiêng bầu Thái Bạch nức kỳ hương, thương ai dốc chí hưng tiền Hán, ghét kẻ mảnh tâm loạn hậu Đường, mình biết lấy mình theo cảnh huống, lo gì mắc phải chuỗi sầu vương
Đông Tùng ngâm nga: Ðã trót ơn dâu phải nợ vương, gọi là năm vận cũng yêu Ðường, khúc hoà chuyết bút non tay thợ, bài xướng giai chương đượm vẻ hương, chén rượu anh hùng nhiều trí đoản, men thơ nhi nữ lắm tình trường, trăng khuya gió sớm kho vô tận, vỡ nợ tang bồng với nắng sương...Vỡ nợ tang bồng với nắng sương, xích khi cũng đoản thốn thi trường, sông ngăn núi cách cầu thông nhịp, bến đợi đò chờ lọ ngút hương, ví bở thuyền tình không ghé bến, cho nên đò đợi phải lên đường, trúc se ngọn thỏ thơ chùm phiếm, hồn vấn vương mà dạ cũng vương
Bấy giờ, Thi Sĩ Văn Lang quay trở lại bán bộ vận thơ của Chim Hoàng: Chẳng có duyên gì cũng vấn vương, tâm tư giao động khách qua đường, gấm hoa lời bạn gieo hình bóng, bèo bọt thơ mình thẹn phấn hương, nghiêng bút ngại còn muôn ý tưởng, thi ca mừng có một môi trường, cuộc đời chua ngọt nhiều dâu biển, mà mái đầu xanh xuýt điểm sương...Mà mái đầu xanh xuýt điểm sương, mua vui văn phẩm góp thi trường, nước non gợi cảm tình tâm khách, khói lửa thêm buồn dặm cố hương, lối mộng dạt dào rung tiếng nhạc, lời quê bỡ ngỡ hoạ thơ Ðường, tao đàn chung điệu hồn lai láng, thì sợi tơ lòng khó chẳng vương
Đến lượt con trai của Thi Sĩ Văn Lang là Nhân Sâm gửi gắm lòng mình: Thao thức mình ta một mối vương, say say tỉnh tỉnh lạc hoang đường, vần thơ ý nhạc phai màu mực, khúc hát cung đàn nhạt sắc hương, nuối tiếc tương tư trong giấc quế, xót xa khắc khoải giữa miên trường, rượu ngon cô lẻ không bầu bạn, đêm lạnh trăng tàn buốt gió sương...Đêm lạnh trăng tàn buốt gió sương, xa xa tiếng dế vọng đêm trường, hồn thơ lúc tỉnh đùa phong nguyệt, men rượu khi say cợt phấn hương, an ủi tình yêu nuôi ảo mộng, hoài nghi duyên số hẹn thiên đường, Lưu Linh cạn chén quên nhân thế, biết tỏ cùng ai nỗi vấn vương
Một nhân vật dấu tên gọi là HMH lên tiếng: Xuân đến bên thềm gây vấn vương, lối cũ xôn xao mấy dặm đường, muốn đập gương xưa tìm lại bóng, mong tìm ý mới góp thêm hương, gió thoảng hư không mùi chinh chiến, mây loang vũ trụ bóng sa trường, đêm lạnh lắng nghe lời tinh tú, đang cùng trăng nhạt tắm hơi sương...Đang cùng trăng nhạt tắm hơi sương, Bát Nhã bỗng đâu thức mộng trường, buông rượu oán thù cay tiếng nói, nhận trà bằng hữu ngọt mùi hương, nắng rơi thanh thản ngoài khung cửa, hoa nở bình an trước thảo đường, dư âm còn đọng trên trang giấy, ngồi đây gom vội chút thơ vương
Bài họa của Sơn Khê mang tính chất nửa mộng nửa thực: Trăng tròn rung cảm đám mây vương, soi dáng chư tiên chốn thẳm đường, tha thướt in hình êm ả sắc, nhẹ nhàng hắt bóng lả lơi hương, thế gian chìm xuống màn sân khấu, tiên giới nổi lên cảnh vũ trường, hiu hắt phong cầm êm nhạc điệu, bùi ngùi cảnh sắc dưới màn sương...Bùi ngùi cảnh sắc dưới màn sương, hoa rượu bày ra chốn vũ trường, đêm bạc đơn côi sầu héo xác, ngày vàng hiu quạnh nhạt tàn hương, thời gian đùn mục đời phiêu bạt, thế cuộc xoáy mòn kiếp bụi đường, tạo hoá gây chi nhiều kịch tính, lòng sầu ảo não cảnh tình vương
Có người tên TBV đưa ra bài họa với tựa đề KHÁT NƯỚC: Nửa khuya khát nước mắt còn vương, tỉnh rượu giấc mơ nửa đoạn đường, khấn nguyện quê nhà hoa đổi sắc, cầu xin đất tổ lúa thêm hương, vần thơ cát bụi buồn sa mạc, giọt rượu bờ môi buốt dặm trường, thổn thức hoang mang âm nấc vội, xa bầy chim lạc giọng kêu sương...Xa bầy chim lạc giọng kêu sương, quạnh quẽ đêm thâu buốt hận trường, đợi sớm mai về sao ảo ảnh, mong chiều nắng tới gió dư hương, câu thơ vội vã đời quên lối, cuộc rượu dửng dưng phận đổi đường, chẳng tỉnh chưa say lòng vất vưởng, nhện sầu đêm mộng mắc tơ vương
Trường Phong là người nối điêu cho buổi giao lưu thơ phú hôm ấy: Ngao du bốn bể ngắm chiều vương, bầu rượu túi thơ vạn nẻo đường, lãng tử tang bồng thân viễn xứ, tao nhân hồ thủy phận tha hương, rượu hời đối ẩm trăng say ngất, men nhạt ly bôi gió đoạn trường, túy lúy bước quàng thơ lạc vận, thăng trầm thế sự phó phong sương...Thăng trầm thế sự phó phong sương, tỉnh giấc mơ hoang vỡ mộng trường, bến cũ chạnh lòng tình khởi sắc, thuyền xưa xao xuyến dạ hoài hương, mạch sầu quay ngoắt sông chia nhánh, khúc nhạc du dương sóng rẽ đường, ta hận ta làm ta mất nước, nửa đời còn lại khối sầu vương
TƠ LÒNG là bài thơ của Chu Hà: Từ lúc thu về lại vấn vương, tình theo lá chết rụng bên đường, hồn thơ đắm đuối thương thương mộng, men rượu mơ hồ nhớ nhớ hương, những tưởng tê lòng giây phút ngắn, nào hay ngây dại tháng năm trường, tơ lòng lỡ vướng thời niên thiếu, tình mãi hoài đeo buổi tóc sương...Tình mãi hoài đeo buổi tóc sương, cớ chi mộng thực cợt can trường, tương tư khổ quả nhăn hình vóc, mòn mỏi sầu đông nhạt sắc hương, mưa gió bao phen đà cản lối, biển dâu mấy độ đã che đường, chiều qua gió vọng lung lay nhớ, tiếng nhạn ven trời giục mối vương
Mi Vi có bài họa cũng rất hay: Lắng tiếng tơ đồng dạ vấn vương, hồn thơ trỗi dậy khúc thi Đường, nâng nâng điệu nhạc cung cầm sắt, réo rắt lời thơ vận sắc hương, men rượu nồng cay khi tối vắng, ý thơ thắm thiết lúc canh trường, tỉnh say say tỉnh đời lưu lạc, cố quốc xa rồi khuất khói sương...Cố quốc xa rồi khuất khói sương, còn nghe văng vẳng súng sa trường, quê người mượn rượu sầu vong quốc, đất khách nhờ thơ nhớ cố hương, tâm sự u hoài nâng cốc tửu, nỗi niềm cay đắng vịnh thơ Đường, non sông gấm vóc giờ thay chủ, nhớ nước ngậm ngùi ngấn lệ vương
Cuối cùng Huyền Châu Tử chấm dứt cuộc chơi với hai bài thơ sau: Tằm xuân đến chết vẫn còn vương, rút ruột ươm tơ ngọt lịm đường, cay đắng ngậm ngùi nhìn đất khách, nỗi niềm chua chát nhớ quê hương, Tần Lĩnh mờ xa nhà đâu thấy, Lam Quan trắng xóa tuyết rơi trường, bao giờ xin hỏi bao giờ nhỉ, vương tình non nước đượm phong sương...Vương tình non nước đượm phong sương, gác nhỏ cài then nghịch thế trường, nung nấu gạo Men cười ảo tưởng, ngả nghiêng bầu Rượu thoảng già hương, đưa Hồn lãng đãng về an dưỡng, dõi bước lơ thơ viếng hạnh đường, gió lốc trùng thông bên cổ tượng, vui nhìn mây bạc ý vương vương

Cuộc xướng họa bài “CÂY VẠN TUẾ Ở ĐỀN HÙNG” ngày 18/04/2013[sửa]

Bài xướng của Thi Sĩ Nguyễn Văn: Đẹp sao Vạn Tuế dáng hùng anh, tô điểm Đền Hùng một bức tranh, óng ả ba cành mầu lá biếc, lung linh ngàn tuổi bóng cây xanh, ông cha thuở trước ươm mầm tốt, con cháu đời nay hái lộc lành, ân đức Tổ Tiên lưu sử sách, cội nguồn dân tộc sáng lừng danh
Bài họa mang tên BÁC HỒ THĂM ĐỀN HÙNG của Ngọc Thanh: Nhớ khi Người đến nét tinh anh, dẫn lối chỉ đường cuộc đấu tranh, gần gũi ân cần cùng chiến sĩ, chan hòa tha thiết với rừng xanh, tác phong giản dị sao yêu quí, giọng nói thân thương mãi ngọt lành, vua trước mở nền xây đất nước, cháu con giữ vẹn rạng công danh
Bài họa có tựa đề BÊN NGÀI VẠN TUẾ của Trần Như Tùng: Bên Ngài Vạn Tuế được cùng anh, góp chút màu tươi điểm xuyết tranh, lá biếc ba cành mang dáng ẩn, dân ngoan muôn đóa lãm đời xanh, nhớ về tiên tổ xây nền vững, cho cả nước non hưởng phúc lành, mộc mạc khiêm nhường nơi ngọn gió, tâm hồn con cháu mãi lưu danh
Bài họa kết thúc của Nhà Báo Nguyễn Hữu Thăng: Trước tự bao đời tôi với anh, Đền Hùng vạn tuế đẹp như tranh, hồn thiêng Đại Việt gom màu biếc, sức sống Lạc Hồng tỏa sắc xanh, trải bấy bão giông càng rắn rỏi, qua bao binh lửa vẫn nguyên lành, vững bền cội rễ lòng dân tộc, “Muôn Tuổi” loài cây mãi xứng danh!

Giai thoại xướng họa chiết tự chữ Hán của Huỳnh Hiệp Hòa và Đức Huỳnh Giáo Chủ[sửa]

Ông Huỳnh Hiệp Hòa (người làng Bình Thủy, tỉnh Long Xuyên), có bài xướng đặc biệt về vấn đề chiết tự như sau:

“Phiến ngôn đại chấn điểm nam cương
Khẩu tụng Văn vương vị bốc tường
Dữ thiện ngôn ngôn tung nhứt nhị
Hành nhơn tịch tịch muội tâm lương
Mã lai thủ thị danh thương pháp
Thủy kiệt chưởng thâm tẩy khổ trường
Thi vấn hồi âm tri bửu hiệu
Tứ minh tam vị hiển văn chương
Chiết tự câu “Phiến ngôn đại chấn điểm nam cương”: Chữ Phiến (片) thêm chữ đại (大) và chữ điểm (tức là một chấm.) thành ra chữ TRẠNG (狀)
Chiết tự câu “Khẩu tụng Văn Vương vị bốc tường”: Chữ Khẩu (口) trên và chữ Vương (王) dưới. Thành ra chữ TRÌNH (呈)

Hai câu: Phiến ngôn đại chiến điểm nam cương, Khẩu tụng Văn Vương vị bốc tường. Chiết tự ra thành TRẠNG TRÌNH. (狀 呈) Ý của ông Hòa hỏi Đức Thầy có phải là ông Trạng Trình hay không?

Chiết tự câu: “Dữ thiện ngôn ngôn tung nhứt nhị”. Chữ Dữ (與), cùng chữ Tung (鏦), thêm nét sổ xuống một gạch, cộng với chữ Nhị (二), hai gạch ngang, thành chữ CỬ (舉)
Chiết tự câu “Hành nhơn tịch tịch muội tâm lương”. Hai chữ Tịch (夕) cộng lại thành chữ ĐA (多)

Hai câu: Dữ thiện ngôn ngôn tung nhứt nhị, Hành nhơn tịch tịch muội tâm lương. Chiết tự ra thành CỬ ĐA (舉 多). Ý của ông Hòa hỏi Đức Thầy có liên hệ gì với ông Cử Đa hay không?

Chiết tự câu “Mã lai thủ thị danh thương pháp”. Chữ Thủ (手) đi với chữ Thị (是) là chữ ĐỀ (提)
Chiết tự câu “Thủy kiệt chưởng thâm tẩy khổ trường”. Chữ Thâm (深) mất nước (水) còn lại chữ thâm (không còn bộ Thủy). Chữ Chưởng (掌) và chữ Thủ (手) đều chỉ về bàn tay, cánh tay. Bỏ bộ Thủy thay chữ Thủ, thành ra chữ THÁM (探)

Hai câu: Mã lai thủ thị danh thương pháp, Thủy kiệt chưởng thâm tẩy khổ trường. Chiết tự thành ĐỀ THÁM (提 探). Ý ông Hòa muốn hỏi Đức Thầy, có liên quan gì với ông Đề Thám hay không?

  • Đại ý từng câu của bài HÁN THI trên đây như sau:

1)- Một lời nói ra làm cho mọi sự được an lành, khắp nơi đều yên ổn

2)- Mặc dù chưa nói ra nhưng ông Hòa đã biết Đức Thầy có danh tiếng và ngôi vị như vua Văn Vương thuở trước

3)- Cùng với việc làm lành, đối với Ngài trên đời có một không hai

4)- Nghĩa đen: Người đi trong đêm tối. (Nghĩa rộng: Ý nói tuy có lòng lành mà vẫn còn nơi tối tăm, tâm lành chưa được mở rộng)

5)- Ngựa đã đến, tay cầm thương lên tuấn mã, trong bụng sẵn có binh thư đồ trận. (Ý nói vốn là một danh tướng tài ba xuất chúng)

6)- Nghĩa đen: Gặp lúc nước cạn, dùng bàn tay tìm nước. (Ý nói khi gặp cơn hoạn nạn thì ra tay gánh vác, dìu dắt ra khỏi chỗ ấy)

7)- Dùng bài thi để xin hỏi cho biết quý tánh tôn danh

8)- Ba ông: Trạng Trình, Cử Đa và Đề Thám mà Ngài có nhắc đến trong văn thơ

Đại ý toàn bài: Ông HÒA cho rằng: Đức Huỳnh Giáo Chủ khai Đạo, tiếng tăm vang dội miền Nam Việt Nam. Vậy Ngài có liên hệ gì với ba ông: Trạng Trình, Cử Đa và Đề Thám, mà ông đã nói trong văn thơ ? Sau đây là bài thơ của Ông Nguyễn văn Chơn lược dịch từ bài HÁN THI trên:

Một lời chấn động cả miền Nam,
Chưa nói nhưng tôi hiểu rõ ràng.
Việc thiện của Ngài như có một,
Điều lành dân thứ khó gìn kham.
Trận tiền thương ngựa đều dành sẵn,
Cứu chúng ra tay diệt khổ nàn.
Thi hỏi hiệu danh xin đáp lại,
Một trong ba vị ở thi văn.

Và bài lược dịch theo lối Chiết tự:

Phiến chấm đại bên TRẠNG hữu tình,
Dưới vương, trên khẩu hợp nên TRÌNH.
Sau tung, trước dữ thành nên CỬ,
Hai tịch là ĐA chữ lập thành.
Thủ thị tay ĐỀ tên bảng hổ,
Thủ thâm mất thủy THÁM là danh.
Làm thơ xin hỏi tôn danh hiệu,
Ba vị văn chương hiển hiện rành.

Bài HÁN THI của Ông Huỳnh Hiệp Hòa xướng được Đức Thầy đáp họa như sau:

“Hồi đầu điểm đạo chuyển phong cương,
Háo thắng bi ly đạo khổ tường.
Tề tướng cam phong an diện nhị,
Hàn nhơn thọ khóa tác tâm lương.
Thiên tôn mật sát nhơn gian pháp,
Phật lý di khai đại hội trường.
Tam bá ngoại niên chơn bút hiệu,
Hàn lâm nhứt đấu vịnh thiên chương.”

Đại ý: Đức Thầy khuyên ông Huỳnh Hiệp Hòa hãy sớm quày đầu hướng thiện, nếu còn tranh hơn thua cao thấp sẽ không gần được Đạo. Ngài cho biết có sứ mạng vâng lịnh Phật Tổ lâm phàm khai Đạo, lập hội Long Hoa, chọn người hiền đức. Trên ba trăm năm Ngài là quan Đại học sĩ, đứng đầu một triều vua, có sáng tác một ngàn bài thơ).

  • Bài đáp họa của Đức Thầy cũng được Ông Nguyễn Văn Chơn lược dịch bằng bài thơ theo thể Đường luật như sau:
Hãy quay tìm Đạo ở phương Nam,
Tranh luận đạo xa khá rõ ràng.
Tề Tướng hai bề an ổn được,
Hàn Nhơn một mặt khó gìn kham.
Nhơn gian Phật giáo Thiên tôn vị,
Thích đạo hoằng khai đại hội trường.
Ta đã ba trăm năm có lẻ,
Làm quan sáng tác ngàn bài văn.