Câu đối và giai thoại Thơ xướng họa về Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890 - 1969)

Bộ sưu tập danh ngôn mở Wikiquote
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Hồ Chí Minh là một nhà cách mạng, tên lúc nhỏ của ông Nguyễn Sinh Cung, tự là Tất Thành. Ông được sinh ra ở quê ngoại là làng Hoàng Trù (tên Nôm là làng Chùa). Năm 1911, ông lấy tên Văn Ba, lên đường sang Pháp với nghề phụ bếp. Ông trở về Việt Nam năm 1941 với bí danh Già Thu. Ngày 16 tháng 8 năm 1945, Tổng bộ Việt Minh triệu tập Đại hội quốc dân tại Tân Trào (Tuyên Quang), cử ra Ủy ban dân tộc giải phóng tức Chính phủ lâm thời, do Hồ Chí Minh làm chủ tịch. Ngày 6 tháng 1 năm 1946, quốc hội khóa I của Việt Nam đã cử ra Chính phủ Liên hiệp kháng chiến do Hồ Chí Minh làm chủ tịch. Từ khoảng nửa cuối thập niên 1960, Hồ Chí Minh giảm dần các hoạt động chính trị. Hồ Chí Minh qua đời vào hồi 9 giờ 47 phút sáng ngày 2 tháng 9 năm 1969 (tức ngày 21 tháng 7 âm lịch) tại thủ đô Hà Nội.

Với thầy dạy học Vương Thúc Quý[sửa]

  • Năm 1902, ở quê Kim Liên, Nguyễn Sinh Cung (sau này là chủ tịch Hồ Chí Minh) thọ học Cử Nhân Vương Thúc Quý. Ở huyện Nam Đàn có hai ngọn núi Chung Sơn (núi Chung) và Trắc Lĩnh (non Lĩnh), ông Quý lấy hai ngọn núi này để làm nhân cho vế trên và vế dưới của một câu đối, Nguyễn Sinh Cung đã có câu đối như sau:
Chung sơn vượng khí thành kiên cố

钟山旺气成坚固 (Núi Chung khí vượng nên bền vững)

Trắc Lĩnh đa vân thị lão niên

昃岭多云是老年 (Non Lĩnh nhiều mây ắt lâu đời)

  • Một hôm Vương Thúc Quý lỡ tay làm đổ dầu xuống đế đèn. Nhân đó ông ra cho học trò một vế câu đối:
Thắp đèn lên dầu Vương ra Đế
Cậu học trò Nguyễn Sinh Cung (lúc bấy giờ mới 10 tuổi) đã đối lại ngay: Cưỡi ngựa dong thẳng Tấn lên Đường (Tấn và Đường là hai triều đại ở Trung Quốc nhưng hiểu theo thổ âm xứ Nghệ là: “tiến lên đường”).
Vương Thúc Quý (1862 - 1907) người làng Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Vương Thúc Quý từ nhỏ đã là người học giỏi, tài hoa. Năm 1904 Phan Bội Châu thành lập hội Duy tân, Vương Thúc Quý trở thành người tích cực hoạt động cho hội. Năm 1907, trường Đông Kinh nghĩa thục được thành lập ở Hà Nội, Vương Thúc Quý thành lập phân hiệu Đông Kinh nghĩa thục ở làng Sen xây dựng tủ sách Tân thư. Giữa năm đó, Vương Thúc Quý trên đường ra Hải Phòng để sang Nhật. Ông tới Nam Định, bị ốm nặng phải trở về quê nhà rồi trút hơi thở cuối cùng

Với Sào Nam Phan Bội Châu[sửa]

  • Vào dịp Tết Ất Tỵ (1905), Phan Bội Châu về làng Sen thăm người bạn cũ là Nguyễn Sinh Sắc (thân sinh Bác Hồ). Sau tuần trà nước, cụ Sắc hỏi tình hình sắp tới định sang Nhật Bản thế nào, cụ Phan đáp:
Tiết hậu đăng trình, lao cán thiên trùng, vọng hoàn thắng viện (Sau Tết khởi hành, nghìn trùng vất vả, mong được viện trợ mà thắng lợi)
Cụ Nguyễn Sinh Sắc chưa trả lời, cậu Cung đứng hầu bên cạnh đã xin phép được nói. Cậu bảo: Đông tiền thượng lộ, tri khu vạn lý, cầu đạt chính thư (Trước Đông lên đường, vạn dặm gian nan, cầu được chính sách đúng đắn).
Câu ứng khẩu của cậu Cung như một vế, cùng câu nói của cụ Phan thành một cặp đối hay. Cụ Phan Bội Châu tấm tắc: Hay lắm! Đúng lắm! Phải “Cầu đạt chính thư!”, “Cầu đạt chính thư!” Câu nói của cậu Cung như một lời thề quyết tâm, một sự hứa hẹn, một dự báo tương lai cho con đường cứu nước sau này

Với Nguyễn Hải Thần[sửa]

  • Tháng 9-1943, sau khi ra khỏi nhà tù Quốc Dân Đảng (Trung Quốc), Bác Hồ được tướng Trương Phát Khuê mời dự bữa tiệc, có ý vận động Bác vào Việt Nam cách mạng đồng minh hội. Trong buổi họp mặt có Nguyễn Hải Thần và một số khách Trung Quốc, Việt Nam, trong đó có ba người cùng tên là Chí Minh nhưng khác họ. Nguyễn Hải Thần nhân đó, ra vế đối:
Hồ Chí Minh, Hầu Chí Minh, Nguyễn Chí Minh, đồng chí tam nhân, minh thả chí.

Không phải suy nghĩ nhiều, Bác Hồ xin được đối bằng câu tiếng Việt: Cụ cách mạng, tôi cách mạng, nó cách mạng, chúng ta cách mạng, mạng phải cách

mục đích của Bác Hồ là nhắc nhở Nguyễn Hải Thần không nên quên tiếng mẹ đẻ mà dùng tiếng Hán, Nguyễn Hải Thần dịch câu đối trên sang chữ Hán cho mọi người cùng nghe khiến ai nấy đều tán thưởng. Cũng giai thoại này nhưng có thuyết khác chép chỉ có 2 người tên Chí Minh và Bác Hồ cũng đối bằng chữ Hán, cụ thể như sau:
Nguyễn Hải Thần ra: 侯志明胡志明倆位同志志較明 Hầu Chí Minh, Hồ Chí Minh, lưỡng vị đồng chí chí giai minh (nghĩa là: Hầu Chí Minh, Hồ Chí Minh, 2 vị đồng chí chí đều sáng)
Bác Hồ đối: 您革命革命大家革命命必革 Nhĩ cách mệnh, ngã cách mệnh, đại gia cách mệnh mệnh tất cách (nghĩa là: anh cách mạng, tôi cách mạng, mọi người cách mạng mạng phải cách)
Nguyễn Hải Thần (1878 – 1959) tên thật là Vũ Hải Thu (còn có tên khác là Nguyễn Cẩm Giang; Nguyễn Bá Tú), quê quán ở Hà Nội (làng Đại Từ, Đại Kim). Năm 1927, Nguyễn Hải Thần lãnh đạo đảng "Việt Nam toàn quốc cách mạng" ở Quảng Đông (Trung Quốc). Tháng 10 năm 1942 tại Liễu Châu (Trung Hoa), Nguyễn Hải Thần sáng lập Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội gọi tắt là Việt Cách. Đầu năm 1946 Việt Cách tham gia Quốc hội Liên hiệp và Chính phủ Liên hiệp của Việt Minh. Nguyễn Hải Thần giữ chức Phó Chủ tịch trong Chính phủ Liên hiệp, đồng thời là đại biểu Quốc hội đặc cách không qua bầu cử của nhóm Việt Cách.
  • Ðể thực hiện sách lược tạm hòa hoãn với quân Tưởng nhằm tập trung lực lượng kháng chiến ở Nam Bộ, ngày 1-1-1946 Nguyễn Hải Thần được cử giữ chức Phó chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nhân dịp này, Nguyễn Hải Thần đã làm thơ tặng Hồ Chủ Tịch:
Gánh vác việc đời ông với tôi, con đường gai góc xẻ làm đôi, cùng chung đất nước chung bờ cõi, cũng một ông cha một giống nòi, đành chịu nước cờ thua nửa ngựa, còn hơn miệng thế chế mười voi, mấy lời nhắn nhủ cùng ông biết, nước ngược buông câu phải lựa mồi
Bác Hồ họa lại: Ông biết phần ông tôi biết tôi, quyết giành thắng lợi chẳng chia đôi, đã sinh đầu óc sinh tai mắt, nỡ bỏ ông cha bỏ giống nòi, họ trót sa chân vào miệng cọp, tôi đành ghé đít cưỡi đầu voi, cờ tàn mới biết tay cao thấp, há phải như ai cá đớp mồi
Gần đây có người là Nguyễn Chương Phú cũng làm bài "Vinh nhục đôi đường" họa lại giai thoại đối đáp giữa Hồ Chủ Tịch và Nguyễn Hải Thần như sau: Người mong làm chủ kẻ ham tôi, chẳng sánh chung vai đã rẽ đôi, ông Nguyễn đớn hèn cam bỏ nước, Bác Hồ sáng suốt quyết thương nòi, gan bèo khốn kiếp ôm chân ngựa, chí thép anh hùng cưỡi cổ voi, “Lửa thử vàng gian nan thử sức”, nhục ai cúi liếm miếng tanh mồi

Với các chiến hữu[sửa]

  • Ở nguồn suối Lam Sơn (Cao Bằng) có một cái động rất đẹp. Tháng 4-1945, một đêm trăng sáng, Bác cùng sáu, bảy đồng chí đi tắm suối đêm. Thấy cảnh vật nên thơ, Bác ra câu đối, thách ai đối được, sẽ được làm rể Bác. Bác khởi xướng:
Nguyệt chiếu khê tâm, tâm chiếu nguyệt (Trăng chiếu xuống lòng khe, lòng khe soi lại mặt trăng)
Một đồng chí (khuyết danh) nhìn lên vách đá, nhanh nhẩu đọc: Hoa sinh thạch diện, diện sinh hoa (Hoa nở trên mặt đá, mặt nở hoa).
Bác Hồ cười lên vui vẻ: "Bác không gả con gái cho người mặt rỗ đâu". Mọi người cùng phá lên cười vì “diện hoa” theo tiếng Trung là “min phú” có nghĩa là mặt rỗ.
Ông Hoàng Đức Triều, xin có vế đối khác: Lôi minh không cốc, cốc minh lôi (Sấm dội hang không, hang dội sấm)
Bác Hồ khen: được nhưng nói thêm: "Đồng chí không làm rể mình được vì tuổi đồng chí gần bằng tuổi mình, vả lại đồng chí đã có gia đình rồi"

Câu đối Tết[sửa]

  • Tết năm Giáp Thân 1944, Bác đã về nước lãnh đạo cách mạng. Nhân dịp xuân về, Bác viết thư, làm thơ chúc Tết động viên đồng bào ủng hộ cách mạng. Trong thư chúc tết, Bác có viết đôi câu đối:
Nâng chén rượu xuân - mừng cách mạng
Viết đôi câu đối - chúc thành công!
  • Câu đối Tết Bính Tuất (1946):
Rượu hòa bình, hoa bình đẳng, mừng xuân độc lập
Bánh tự do, giò bác ái, ăn tết dân quyền
  • Tết Đinh Hợi, Bác Hồ đã có thơ chúc Tết. Để đọc bài thơ đó, Bác phải đi bộ đến trụ sở Đài tiếng nói Việt Nam ở chùa Trầm thuộc địa phận Hà Đông. Được tin Bác Hồ sẽ đến, sư cụ chủ trì chùa Trầm đứng đón Bác ngay ở cửa hang, cụ chắp tay vái chào Bác và xin Bác một câu đối để đón xuân, cụ đã chuẩn bị sẵn giấy và bút mực. Bác Hồ vui vẻ chấm bút lông vào nghiên mực, Người viết:
Kháng chiến tất thắng
Kiến quốc tất thành

Tết ra, Hội đồng Chính phủ họp phiên đầu tiên vào ngày 12 tháng giêng âm lịch. Mở đầu, Bác đề nghị ai có câu đối Tết xin đọc "làm đà” cho Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi; Thống nhất, Độc lập nhất định thành công (thư chúc Tết của Bác). Bộ trưởng Phan Anh đọc liền 2 vế đối:

Cha, ông hương khói lạnh, con cháu cỗ bàn suông; khắp ba kỳ còn nếm nỗi gian truân, buồn Tết nhất càng căm thù quân cướp nước;
Tổ quốc bờ cõi yên, non sông Nam Bắc hợp; mấy mươi triệu đồng bào thề quyết thắng, bước vinh quang sẽ hẹn lúc về nhà.
Bộ trưởng dứt lời, Bác ứng khẩu đọc ngay một câu “kiều lẩy”: "Rằng hay thì thật là hay, Khẩn trương kháng chiến hẹn ngày bình sau".

Với Bùi Bằng Đoàn[sửa]

Trong không khí đầu xuân chiến thắng, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi cụ Bùi Bằng Đoàn một bài thơ: :"Xem sách chim rừng vào cửa đậu, Phê văn hoa núi chiếu nghiên soi, Tin vui thắng trận dồn chân ngựa, Nhớ cụ thơ xuân tặng một bài” Dịp Tết chiến khu năm ấy, HĐCP họp và liên hoan lửa trại, Chủ tịch Hồ Chí Minh khuyến khích trình bày các tiết mục tự biên, tự diễn, cụ Bùi liền phát biểu: "Nhân vừa hoạ bài thơ Hồ Chủ tịch gửi tặng, xin ngâm hầu các vị":

Sắt đá một lòng vì chủng tộc, Non sông muôn dặm giữ cơ đồ, Biết Người việc nước không hề rảnh, Múa bút thành thơ đuổi giặc thù”

Mọi người cùng trầm trồ, Thứ trưởng Bộ Giao thông-Thuỷ lợi Đặng Phúc Thông thốt lên: "Thật đúng hai trái tim cao cả cùng một nhịp đập!"

Với bạn học Võ Liêm Sơn[sửa]

Năm 1948, Võ Liêm Sơn được đi dự hội nghị Kháng chiến toàn quốc và hội nghị Văn hoá toàn quốc ở Việt Bắc. Đó cũng là cơ duyên cụ Võ được gặp Bác Hồ, Võ Liêm Sơn là bạn học ở Huế với Bác những năm 1908 – 1910. Lần ấy Bác đã mời Võ Liêm Sơn về ở với mình bảy ngày, bác có viết thơ tặng Võ Liêm Sơn theo thể năm chữ, tám câu là thi phẩm hoà quyện giữa ý và tình, giữa cách mạng và nhân dân, giữa lý tưởng và hiện thực, không còn cách bức:

Thiên lý công tầm ngã
Bách cảm nhất ngôn trung
Sự dân nguyện tận hiếu
Sự quốc nguyện tận trung
Công lai ngã hân hỉ
Công khứ ngã tư công
Tặng công chỉ nhất cú
Kháng chiến tất thành công

Bản dịch:

Ngàn năm cụ tìm đến
Một lời trăm cảm thông
Thờ dân trọn đạo hiếu
Thờ nước vẹn lòng trung
Cụ đến tôi mừng rỡ
Cụ đi tôi nhớ nhung
Một câu xin tặng cụ
Kháng chiến ắt thành công

Võ Liêm Sơn có thơ hoạ lại, cũng theo lối thể thơ năm chữ, tám câu:

Phùng công hỉ công kiện
Chiến sự bách mang trung
Đối thoại duy dân quốc
Tương kỳ tại hiếu trung
Hùng tài nguyên bất thế
Đại đạo bản vi công
Tương kiến trùng lai nhật
Kháng chiến dĩ thành công

Tạm dịch:

Gặp cụ mừng cụ khoẻ
Việc quân bận vô cùng
Chuyện trò chỉ dân nước
Cùng tỏ một hiếu trung
Tài hùng đâu dễ có
Đạo lớn cốt vì chung
Ngày ta gặp nhau lại
Kháng chiến đã thành công

Tiếc rằng không được nhìn thấy ngày chiến thắng năm 1954, do bị bệnh, Võ Liêm Sơn qua đời năm 1949 tại quê nhà. Nhớ đến người bạn cũ, hễ biết có cán bộ đi qua Hà Tĩnh, bao giờ Bác cũng trân trọng nhờ đến thắp hương trước mộ cụ Võ tỏ mối thâm tình đồng chí đồng hương.

Với Phùng Thế Tài[sửa]

  • Đầu năm 1947, ở chiến khu Việt Bắc, một hôm, đoàn cán bộ đến thăm, thấy Bác đang cặm cụi trồng khoai môn trước nhà. Sau khi trao đổi về việc tăng gia sản xuất, tự cải thiện, Bác lại ra câu đối: Trồng môn trước cửa (môn cũng có nghĩa là cửa)
Thượng tướng Phùng Thế Tài (lúc đó đang là cận vệ của Bác) đối lại: Bắt ốc sau nhà (ốc cũng có nghĩa là nhà)
Phùng Thế Tài (1920 – 2014) tên thật là Phùng Văn Thụ, sinh tại xã Văn Nhân, huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Tây nay là thành phố Hà Nội. Năm 1939, ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương và được cử làm bảo vệ cho Nguyễn Ái Quốc. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, ông được cử làm Đại đoàn trưởng Đại đoàn Pháo binh 349. Năm 1963, Quân chủng Phòng không - Không quân thành lập, ông được cử giữ chức Tư lệnh.

Với Võ Nguyên Giáp[sửa]

  • Ngày 20-5-1948, trong một buổi họp Chính phủ ở căn cứ địa Việt Bắc, mọi người nhất trí hoan nghênh Hồ Chủ tịch bổ nhiệm Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm Tổng tư lệnh Quân đội quốc gia và dân quân Việt Nam. Trong không khí phấn khởi chung, đến giờ nghỉ, Bác nói có nghĩ một vế câu đối muốn mời các vị đối lại.
Vế ra là: Giáp phải giải Pháp (nghĩa là đồng chí Giáp phải có kế hoạch giải quyết đánh thắng thực dân Pháp xâm lược).
Câu đối khó vì hai từ sau là tiếng nói lái của hai từ trước. Người đầu tiên xin đối lại là ông Tôn Quang Phiệt.
Ông Phiệt nhìn về phía Bộ trưởng Bộ Tài chính là ông Lê Văn Hiến ngồi bên cạnh, rồi trịnh trọng đối lại: “Hiến tài, hái tiền”.
Bác Hồ và mọi người hoan nghênh sự nhanh trí của ông Tôn Quang Phiệt. Rồi Bác bảo: “Câu đối hay không chỉ ở vần luật, nghệ thuật nói lái, nghệ thuật chơi chữ mà chủ yếu ở nội dung ý tứ. Câu đối đã nêu được hai nhiệm vụ chiến lược của giai đoạn này là phải có giải pháp đánh thắng giặc ngoại xâm và nhiệm vụ phát triển kinh tế tài chính. Cũng có nghĩa là đưa nhiệm vụ kiến quốc ra để đối với nhiệm vụ kháng chiến”. Bác đã thưởng cho ông Tôn Quang Phiệt một điếu thuốc lá.

Bài thơ Chiết tự độc đáo[sửa]

Ngày 8/2/1942, trên đường đi công tác sang Trung Quốc, Bác Hồ bị nhà cầm quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam, Bác có bài "Chiết Tự" như sau:

囚人出去或為國,患過頭時始見忠,人有憂愁優點大, 籠開竹閂出真龍 Tù nhân xuất khứ hoặc vi quốc, hoạn quá đầu thời thủy kiến trung, nhân hữu ưu sầu ưu điểm đại, lung khai trúc sản xuất chân long. Nghĩa là: Người tù khi ra khỏi ngục có thể lập được nước, trong hoạn nạn mới thấy người trung nghĩa, con người có ưu sầu chính là ưu điểm lớn, cửa lồng mở ra thì rồng thật sẽ bay lên. Nhưng bài này còn tính chiết tự rất đặc sắc: Chữ tù (囚 giam cầm) bỏ chữ nhân (人) thay chữ hoặc (或) thành chữ quốc (國 nước), chữ hoạn (患 hoạn nạn) bớt (中) phần trên, thành chữ trung (忠 hết lòng vì nghĩa), thêm bộ nhân (亻) vào trước chữ ưu (憂 ưu sầu) thành chữ ưu (優 ưu điểm), chữ lung (籠 nhà lao) bỏ bộ trúc (竹 cây tre), thành chữ long (龍 Rồng). Thực tế, trong bốn câu thơ trên của Bác Hồ, câu đầu tiên vừa chiết tự (bẻ chữ bỏ đi một phần), rồi sau đó lại “hợp tự” (ghép chữ, thêm vào một phần). Câu thứ hai và thứ tư là dùng phép “chiết tự” ) bẻ chữ rồi bỏ đi một phần). Câu thứ ba là dùng phép “hợp tự” (ghép hai chữ lại với nhau thành chữ mới).

Câu đối phúng điếu Hòa Thượng Thích Quảng Đức[sửa]

Hoà thượng Thích Quảng Đức, thế danh là Lâm Văn Tuất, sinh năm 1897 tại làng Hội Khánh, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hoà. Ngày 20 tháng 4 Quý Mão, nhằm 11 tháng 6 năm 1963, xảy ra cuộc kinh hành biểu thị ý chí đòi tự do tín ngưỡng, bình đẳng tôn giáo. Thích Quảng Đức ngồi kiết già giữa vòng Tăng Ni quây tròn quanh ngã tư; mấy lớp y hậu trên người đã được Ngài tẩm xăng sẵn ướt đẫm. Ngài từ tốn lấy bật lửa ra, phút chốc vầng lửa bùng dậy, bốc cao như một con rồng vàng rực phủ kín thân Ngài. Ngài trang nghiêm tĩnh toạ giữa khối lửa hồng, như một pho tượng đồng đen bất động. Mười lăm phút sau, Ngài mới từ từ ngã nằm ngửa, tay vẫn kiết ấn tam muội! Chủ Tịch Hồ Chí Minh ngay sau đó, đã cho trang trọng công bố trên đài phát thanh và báo chí từ Hà Nội đôi câu đối kính viếng, thể hiện tấm lòng của Người và của đồng bào cả nước đối với Hòa Thượng Thích Quảng Đức:

“Vị pháp thiêu thân vạn cổ hùng uy thiên nhật nguyệt
Lưu danh bất tử bách niên chánh khí địa sơn hà”

dịch nghĩa:

“Vị pháp thiêu thân, muôn thuở hùng uy trời nhật nguyệt
Lưu danh bất tử, trăm năm chính khí đất sơn hà”)

Những câu đối được người đời dâng tặng[sửa]

Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời. Năm 1946, lần đầu tiên nhân dân ta tổ chức mừng thọ Bác Hồ. Nhân dịp này, cụ Huỳnh Thúc Kháng lúc bấy giờ là Bộ trưởng Nội vụ chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa đã viết tặng Bác Hồ một câu đối:

Mưa Âu gió Á, càng xông pha khí phách càng kiên cường; năm mươi sáu lục giáp chẳng già đâu, hai tay rinh nổi quyền dân, xốc vác non sông vào một gánh!
Cờ đỏ sao vàng, càng tín ngưỡng tinh thần càng phấn khởi; hăm lăm triệu đồng bào đang ngóng đấy, ba chén nâng cao rượu thọ, vang lừng trời biển tiếng muôn năm!
  • Mùa xuân năm 1951, tại Chiến khu Việt Bắc, trong không khí kháng chiến đang trên đà thắng lợi, luật sư Phan Anh lúc đó đang làm bộ trưởng trong Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Bác Hồ lãnh đạo, đã viết đôi câu đối chúc Tết Bác như sau:
Xuân nhật dư hoan, bất độc thân kỳ thân, tử kỳ tử (Ngày xuân đem nhiều niềm vui, không chỉ cho người thân của người thân, con của con mình)
Tân niên toàn thắng, đại thành nghĩa chí nghĩa, nhân chí nhân (Năm mới toàn thắng lợi, đại thành công là cái nghĩa của sự chí nghĩa, nhân của sự chí nhân)
Phan Anh (1912 – 1990) sinh tại làng Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi Quốc hội khóa 1 được bầu cử, ông giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Sau năm 1954, ông liên tục giữ các chức vụ Bộ trưởng Bộ Công thương, Bộ trưởng Bộ Thương nghiệp, Bộ trưởng Bộ Ngoại thương, Phó Chủ tịch Quốc hội Việt Nam. Từ năm 1988, ông là phó Chủ tịch Đoàn chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
  • Năm 1960 nhân dịp mừng Hồ Chủ Tịch 70 tuổi, ông Nguyễn Văn Từ đã viết một câu đối:
Lo vì Dân, nghĩ vì Dân, vui khổ cũng vì Dân, dốc chí thờ Dân, công Bác với Dân thiên thu bất tận
Bố gọi Bác, con gọi Bác, cháu chắt lại gọi Bác, nối dòng theo Bác, lòng Dân mong Bác vạn thọ vô cương
  • Câu đối chúc Tết Bác năm 1968 nhân dịp cả nước ta tổ chức cuộc Tổng tiến công và nổi dậy:
Bài hát Kết đoàn, Bác bắt nhịp núi sông cùng hát
Câu thơ chúc Tết, Người gieo vần đất nước càng thơ
  • Câu đối của Chủ tịch nhà nước Trung Quốc Mao Trạch Đông gửi viếng Bác Hồ năm 1969:
志氣壯山河今古英雄惟有壹 Chí khí tráng sơn hà, kim cổ anh hùng duy hữu nhất (Chí khí trải khắp cả non sông; anh hùng xưa đến nay chỉ có một)
明星光宇宙亞歐豪杰是無雙 Minh tinh quang vũ trụ, Á Âu hào kiệt thị vô song (Vì sao sáng chiếu khắp vũ trụ; hào kiệt cả Á Âu không đâu có)
Mao Trạch Đông (1893 – 1976) tự Vịnh Chi, sau đổi là Nhuận Chi, bút danh: Tử Nhậm. Ông được tôn là người có bốn cái "vĩ đại": Người thầy vĩ đại, Lãnh tụ vĩ đại, Thống soái vĩ đại, Người cầm lái vĩ đại. Sau khi nghe tin Bác Hồ qua đời, Mao chủ tịch có gửi đôi câu đối phúng điếu như trên. Trong câu đối, tác giả đánh giá rất cao và đúng với sự nghiệp, công lao của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đặc biệt hai chữ mở đầu của 2 vế đối chính là tên của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Ở đình thôn Triển, xã Đức Thượng, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây, cũng có đôi câu đối đúng như vậy. Ở chùa Ngũ Phúc, thôn Duẩn Khê, xã Long Xuyên, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương có câu đối:

Lãnh tụ thiên tài, Á Âu duy hữu nhất
Danh nhân Nam Việt, Quốc tế thị vô song

Ở chùa An Quốc, thôn Pháp Chế 2, xã Thất Hùng, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương, có đôi câu đối:

Kim cổ anh hùng duy hữu nhất
Á Âu hào kiệt thị vô song

Ở đình Ninh Xá, xã Lê Ninh, huyện Kim Động, tỉnh Hải Dương, có đôi câu đối:

Thượng đẳng tối linh duy hữu nhất
Thiên thần giáng hạ nãi vô song

Ở đình Khuê Bích, thôn Khuê Bích, xã Thượng Quận, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương, có đôi câu đối:

Kim cổ Việt Nam anh hùng duy hữu chủ
Á Âu xâm lược hào kiệt chiến vô song

Ở chùa Vá, xã Thượng Quận, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương, có đôi câu đối:

Chí khí tráng sơn hà, kim cổ anh hùng duy hữu nhất
Minh tinh quán vũ trụ, Á Âu hào kiệt thị vô song
Những trên đều dựa trên cơ sở câu đối nổi tiếng do chủ tịch Trung Quốc Mao Trạch Đông (có sách nói là của Thủ Tướng Chu Ân Lai)
  • Sau khi nghe tin Bác Hồ qua đời, ngay trong vùng địch tạm chiếm ở Liên khu V một nhà nho làm câu đối bằng chữ Hán treo trang trọng trên bàn thờ:
Cổ nguyệt chiếu sơn hà (Trăng xưa soi sông núi)
Sĩ tâm quang nhật nguyệt (Lòng kẻ sỹ sáng như mặt trời, mặt trăng)
Cảnh sát và dân vệ địa phương không hiểu gì, bèn bắt ông đồ nho giải về đồn. Bọn chỉ huy cũng không hiểu gì cả, hoạnh hoẹ tra hỏi nhiều lần, nhưng trước sau ông đồ cũng giải thích đó là một câu đối nói về phong cảnh quê hương sông núi và tâm hồn của con người trước vẻ đẹp thiên nhiên, chứ hoàn toàn không có ẩn ý gì cả. Bọn chỉ huy địch nghe ông giải thích và “xét thấy cũng hợp lý” nên đành phải thả cụ Đồ ra. Cụ Đồ ra về, lòng đầy khinh miệt bọn tay sai bán nước từ lính đến quan đều dốt nát. Bởi sự thật, câu đối đó được cụ Đồ nho viết theo lối chiết tự: Chữ Cổ ghép với chữ Nguyệt thành chữ Hồ, chữ Sỹ ghép với chữ Tâm thành chữ Chí, chữ Nhật ghép với chữ Nguyệt thành chữ Minh. Câu đối vừa là tên Chủ tịch Hồ Chí Minh, vừa ca ngợi công lao, đức độ của Người trải khắp non sông đất nước và toả sáng như mặt trời, mặt trăng.
  • Năm 1990, có người viết câu đối về Bác Hồ nhân dịp kỉ niệm sáu mươi năm ngày thành lập Đảng như sau:
Trọn một đời diệt thù cứu nước, ơn Người biển cả khôn đong
Sáu mươi năm chỉ lối đưa đường, nghĩa Đảng non cao khó sánh
  • Nguyễn Tất Hiển ở Quận 1, thành phố Hồ Chí Minh đã nghiên cứu và công bố một phát hiện mới về ý nghĩa trong tên gọi của Bác Hồ. Những phát hiện đó đã được ông công bố trong cuốn sách "Trăng sáng trong thơ Bác, trong tên Bác". Bằng phương pháp triết tự từ chữ Hán. tác giả phân tích từng chữ trong tên gọi Hồ Chí Minh. Trong đó, chữ "Hồ" do hai chữ "cổ" và "nguyệt" ghép lại, tạo thành câu đối bao hàm nhiều ý nghĩa như sau:
Cổ nhân bất thực kim thời nguyệt
Kim nguyệt tằng kinh chiếu cổ nhân

Dịch nghĩa:

Người xưa không biết mặt trăng ngày nay
Mặt trăng ngày nay từng chiếu sáng người xưa
Câu thơ phản ánh quy luật tự nhiên nhưng nói lên một chân lý vĩnh cửu tựa như: Vạn vật vẫn xoay và định sẵn/ Hết mưa là nắng hửng lên thôi.

Câu thách đối chiết tự tên Việt Nam Thi Đàn[sửa]

  • vế ra: 古月永照士心長日月 CỔ NGUYỆT VĨNH CHIẾU SĨ TÂM TRƯỜNG NHẬT NGUYỆT (Thi Hữu Lương Nam Xương, Việt Kiều Ireland) (Vế ra nghĩa là: “Ánh trăng xưa còn mãi mãi soi tỏ tấm lòng người chiến sĩ”, ngụ ý trích dẫn lời Bác Hồ “Công ơn các anh hùng liệt sĩ mãi mãi được dân tộc ghi nhớ”. Ở đây tác giả dùng lối tu từ triết tự (bẻ chữ) Cổ + Nguyệt = Hồ (古+月=胡) Sĩ + Tâm = chí (士+心=志) và Nhật + Nguyệt = Minh (日+月=明) thành tên Bác (Hồ Chí Minh 胡志明) Vế đối này được dịch ra thơ lục bát như sau: Trăng xưa dọi tỏ lòng người, treo gương nhật nguyệt cho đời soi chung (Trăng xưa dịch từ chữ Cổ Nguyệt 古 月, cổ 古 và nguyệt 月 ghép lại thành chữ Hồ 胡; lòng người là thầm nói đến chữ sĩ 士 và tâm 心, ghép hai chữ này lại ta có chữ Chí 志; còn chữ nhật 日 và chữ nguyệt 月 ghép lại thành chữ Minh 明)
vế đối:

Liên kết[sửa]