Câu đối và giai thoại về Uy Viễn Tướng Quân Nguyễn Công Trứ

Bộ sưu tập danh ngôn mở Wikiquote
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Nguyễn Công Trứ tên tục là Củng, tự là Tồn Chất, hiệu là Ngộ Trai, biệt hiệu là Hy Văn, sinh năm 1778; người làng Uy Viễn, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Năm 1819, ông thi đậu Giải nguyên. Sau nhiều thăng giáng, năm 1845 Nguyễn Công Trứ làm Chủ sự Bộ hình, năm sau làm quyền Án sát Quảng Ngãi, rồi đổi ra làm Phủ thừa Phủ Thừa thiên, rồi năm 1847 ông thăng làm Phủ doãn phủ ấy. Năm 1848, Tự Đức nguyên niên, ông về hưu.

Câu đối Tết[sửa]

Chiều ba mươi, nợ hỏi tít mù, co cẳng đạp thằng Bần ra cửa
Sáng mồng một, rượu say tuý luý, giơ tay bồng ông Phúc vào nhà
Chị em ơi! ba mươi sáu tuổi rồi. Khắp đông, tây, nam, bắc bốn phương trời, đâu cũng lừng danh công tử xác
Trời đất nhẻ! gắng một phen này nữa. Xếp cung, kiếm, cầm thư vào một gánh, làm sao nổi tiếng trượng phu kềnh
Nợ có chết ai đâu, đòi mà chi, trả mà chi, cha cóc
Trời để sống lâu mãi, tiền cũng có, bạc cũng có, mẹ bò
Tết có cóc gì đâu, uống một vài be củ tỏi
Nợ đâm ương ra đó, nói ba bốn chuyện cà riềng
Be củ tỏi: ve (chai) nhỏ, có hình củ tỏi, cổ dài, thân tròn, người xưa thường dùng đựng rượu. Chuyện cà riềng: chuyện con cà, con kê. Cà riềng đối với củ tỏi rất chỉnh.
Đuột giời ngất một cây nêu, hết túi ba mươi ri cũng Tết
Vang đất đùng ba tiếng pháo, rạng ngày mồng một rứa là Xuân
(Đuột giời: thẳng tuốt lên trời. Ri: thế này. Rứa: thế nọ, thế ấy, như thế. Đây là từ địa phương vùng Nghệ Tĩnh)
Bầu một chiếc lăn chiêng, mặc sức tam dương khai thái
Nhà ba gian bỏ trống, tha hồ ngũ phúc lâm môn
Bầu: bầu rượu. Bầu lăn chiêng là vì không có rượu. “Chiêng” đối với “trống” ở câu dưới, thật chỉnh. Ngày xưa, câu đối Tết dán nhà cửa thường có Ngũ phúc lâm môn/Tam dương khai thái. Ngũ phúc lâm môn (năm điều phúc vào cửa) là: Thọ (sống lâu); phú (giàu sang); khang ninh (bình an, khỏe mạnh); du hiếu đức (ham làm việc phước đức); khảo chung mệnh (sống trọn tuổi Trời cho). Tam dương khai thái: theo Kinh Dịch, ba hào dương (ba vạch liền) mở ra quẻ Thái tượng trưng cho mùa xuân tốt lành.
Mồng một Tết, mồng hai Tết, mồng ba Tết, ờ Tết
Buổi sáng say, buổi trưa say, buổi chiều say, cho say
Chiều ba mươi công nợ rối Mậu Thìn, những muốn mười năm dồn một Tết
Sáng mồng một rượu chè say Kỷ Tỵ, trông cho ba bữa hoá mười ngày
Mua pháo đốt chơi, để anh em nghe có tiếng
Giật nêu đứng lại, cho làng nước biết không xiêu
(có tiếng; không xiêu: cần được hiểu theo hai nét nghĩa ; có tiếng: chỉ tiếng pháo nổ, đồng thời cũng là tiếng tăm, danh tiếng ; không xiêu: chỉ cây nêu đứng vững, đồng thời còn chỉ khí tiết cốt cách cứng cỏi vững vàng của nhà nho Nguyễn Công Trứ)
Ðắp gốc cây cao, Tết đến thắp hương thơm đèn sáng
Khơi nguồn nước mát, Xuân về dâng trái ngọt hoa thơm
Tối ba mươi, giơ cẳng đụng cây nêu...Ủa ! Tết
Sáng mồng một, lắng tai nghe lời chúc...Ồ ! Xuân
Phước thâm tự hải (hạnh phúc nhiều sâu như biển)
Lộc cao như sơn (của cải nhiều cao như núi)
Có là bao, ba vạn sáu ngàn ngày, được trăm cái Tết
Ước gì nhỉ, một năm mười hai tháng, cả bốn mùa Xuân
Tối ba mươi, nợ réo tít mù, ấy mới Tết
Sáng mồng một, rượu tràn quí tị, ái chà Xuân
Công nợ rối canh tàn, ước những mười năm dồn lại một
Rượu chè tràn quy tị, trông cho ba bữa hóa ra mười
Tuế phùng Xuân, tân cảnh, tân thiều, tân vũ lộ (Năm vừa gặp mùa Xuân, cảnh sắc mới, thiều quang mới, mưa móc mới)
Thời hành Hạ, cựu bang, cựu điển, cựu xa thư (Thời vẫn theo nhà Hạ, nước non xưa, điển chế xưa, sách vở xưa)
Thời hành Hạ: lấy ý từ câu cổ văn: “Hành Hạ chi thời, phục Chu chi miện...”, nghĩa là “Thời tiết thì theo nhà Hạ, mũ miện thì theo nhà Chu”.

Khi là học trò[sửa]

  • Lên 10 tuổi, Nguyễn Công Trứ theo cha trở về Hà Tĩnh, sống tại làng Uy Viễn, Nghi Xuân quê nội. Trong làng có ông Đồ Trung là một người có máu mặt, ông đứng ra mời thầy đồ về nuôi trong nhà để trẻ con của làng tới học. Và trong đám học trò đó có Nguyễn Công Trứ. Một hôm, khi cả lớp đang ngồi học, ông chủ nhà chợt nổi hứng đi vào và xin thầy cho phép ông ra cho các trò một vế đối.
Vế ra như sau: Ngoài vườn cây đại nở hoa đại
Ông Trung tuyên bố trò nào đối hay và đối nhanh trước sẽ được thưởng một quan tiền! Các học trò ngồi nhìn nhau, nhưng không ai tìm được vế đối lại để lấy.
Bỗng Nguyễn Công Trứ đứng dậy xin phép đối: Trong buồng ông Trung ấp bà Trung
Vế đối rất chuẩn, Trong đối với ngoài, Đại đối với Trung, và nở đối với ấp. Thầy và trò cả lớp được một trận cười nghiêng ngả, còn cụ Đồ Trung thì đỏ mặt im lặng, và tất nhiên, phải trao cho Trứ một quan tiền!
  • Nhận được quan tiền thưởng, tan buổi học trên đường về Nguyễn Công Trứ gặp một đám trẻ con đang tụ nhau đánh đáo ăn tiền. Như những đứa trẻ ham chơi khác, Củng liền nhập bọn và say sưa đánh cho tới khi bị thua hết sạch cả quan tiền mới thôi. Nhưng cái khác của Trứ là ở chỗ, mọi đứa trẻ khi thua bạc sẽ tiếc đứt ruột, hậm hực bỏ về, thậm chí cả khóc nữa, riêng Trứ thì vừa đi về nhà vừa đọc:
Tưởng mần ba trự mà chơi vậy
Bỗng chốc nên quan đã sướng chưa
Trong tiếng Nghệ, “chữ” đọc là trự; “trự” vừa có nghĩa là “chữ nghĩa”, vừa có nghĩa là “đồng tiền” (trự tiền); Quan vừa có nghĩa là “quan tiền” (một quan là 100 đồng/trự), vừa có nghĩa “quan chức”. Câu của Nguyễn Công Trứ có thể hiểu theo hai nghĩa: một là tưởng đánh chơi dăm ba đồng, nào ngờ mất đến cả quan; hai là học ba chữ chơi chơi mà cũng được làm quan, sướng chưa?
  • Một hôm, thầy học đến thăm nhà Nguyễn Công Trứ, cùng với thân phụ của cậu ngồi đàm đạo, lâu lâu hai người lại kéo thuốc lào, thả khói thơm lừng từng đám bay ra như mây. Trứ được phép đúng bên hầu thầy và cha để hóng chuyện. Chợt thấy cha đưa tay vê vê điếu thuốc nạp vào nõ, cậu vội đốt đóm đưa lên. Cụ Đức Ngạn Hầu rít một hơi dài khoan khoái, rồi nhả khói bay ra thành luồng như một con rồng uốn khúc. Cúi mình đón cái điếu cày từ tay cha, Nguyễn Công Trứ liền ứng khẩu đọc luôn hai câu:
Nín hơi, biển động ba tầng sóng
Há miệng, rồng bay chín khúc mây
Thầy học không nín được, vỗ đùi khen hay. Cha của Củng cũng tròn mắt nhìn, vừa ngạc nhiên vừa mừng rỡ. Như được động viên, Trứ sung sướng đọc tiếp:
Ba tầng sóng dội vang trời bể
Năm sắc mây bay thấp thoáng trời
  • Đang nói chuyện thì một trận mưa to ập đến, thầy trò phải chạy vào trú trong một quán nước ven đường. Ngay lúc đó có một người đàn ông gánh cỏ đi ngang cũng vội quẳng gánh ngoài trời chạy vào mái hiên của quán trú mưa. Lát sau, trời vừa ngớt, người đàn ông đã vội vã ra nâng gánh cỏ lên vai chạy đi tiếp. Nhân đó, thầy bảo các trò thử làm câu đối tức cảnh nói về người gánh cỏ nọ. Trong khi các cậu bé khác đang vò đầu tìm chữ nghĩa thì Nguyễn Công Trứ đã ứng khẩu đọc hai câu:
Tạnh cơn phong vũ lò ngay mặt
Sẵn gánh càn khôn ghé thẳng vai
Thầy đồ công nhận câu đối của Nguyễn Công Trứ, vừa hợp cảnh, vừa bộc lộ chí khí của một đấng trượng phu tương lai. Còn về phép đối thì khỏi phải nói: hoàn chỉnh, từng ý, từng chữ - “cơn phong vũ” đối với “gánh càn khôn”, “ngay mặt” đối với “thẳng vai”
  • Câu đối viết để tạ ơn thầy đồ:
Tuy tôn sư chi giáo trạch vô cùng, hà cảm xá cận nhi cầu viễn (Tuy ơn giáo dục của tôn sư vô cùng, đâu dám bỏ nơi gần mà đi tìm nơi xa)
Nhi quốc gia chi học quy hữu định, tương sử tự hạ tiệm thăng cao (Nhưng phép học hành của quốc gia có định, nên phải từ chỗ thấp mà bước lên chỗ cao).
Đây là câu đối để tạ ơn thầy đồ trước lúc lên đường dời đất Nghi Xuân để trở thành nho sinh trường Đốc học của tỉnh

Đối đáp với sư chùa làng Uy Viễn[sửa]

Nhân một hôm rảnh học từ tỉnh thành về thăm nhà, Nguyễn Công Trứ tới chùa chơi. Đến nơi, thấy ngoài sân trong điện không có ai, lại đang khát nên đi thẳng vào bếp chùa để tìm nước uống, thì gặp sư trụ trì đang lúi húi bên bếp. Quay lại nhìn người lạ, vị sư buông ra một câu không mấy hiếu khách: Khách khứa kể chi ông núc bếp (Người Nghệ gọi ông đầu rau là ông núc bếp; câu này còn có ý diễu cợt: khách khứa gì mà lại xông (núc) vào bếp nhà người ta!)
Nguyễn Công Trứ nhìn quanh, thấy một cái vại ở góc bếp, liền ứng khẩu đối lại: Trai chay mà có vại cà sư (Trai chay: Trai giới và chay tịnh. Tiếng Nghệ chữ “vại” (vật bằng sành dùng để đựng cà) và “vãi” (ni cô) đều đọc như nhau, nên câu này còn có ý trêu chọc: Người / nơi trai chay sao lại có (bà) vãi cà (động từ: áp sát, cọ xát) ông sư?)
Câu này tuy rất vô tình, nhưng vị sư kia lại cho rằng Nguyễn Công Trứ thâm ý châm biếm mình có tư tình với bà vãi, nên chắp tay nhìn lên tượng Phật đọc một câu như thanh minh: Xin chứng minh cho, Nam mô A Di Đà Phật
Nguyễn Công Trứ chỉ vào cái kiềng trên bếp và cất tiếng đối lại: Có giám sát đó, Đông Trù Tư mệnh Táo quân
Đông trù Tư mệnh Táo quân là thần coi bếp, cầm giữ bản mệnh của gia chủ. Bên mời Phật, bên nhờ thần ra minh chứng, quả thực là hay; lại Đông đối với Nam, Quân đối với Phật thì thật là tài
Vị sư chưa chịu thua ra tiếp câu nữa: Thuộc ba mươi sáu quyển kinh, chẳng thiên địa thánh thần nhưng khác tục
Nguyễn Công Trứ cũng chẳng kém đối liền: Hay tám vạn tư mặc kệ, không quân thần phụ tử đếch ra người
Tới đây vị sư đành nín thinh, chấp nhận thua cuộc. Giai thoại này gần giống với giai thoại đối đáp giữa Hồ Xuân Hương với nhà sư, tuy có hơi khác mộ vài chữ nghĩa. Nho Củng đắc thắng ra về, nhưng vừa bước đến giữa sân thì hai con chó nhà chùa xổ ra cắn quyết liệt. Nho Củng dừng lại nhìn quanh chùa rồi ngâm hai câu như một lời nhắn gửi: "Bụt cũng hiền lành sư cũng khá, còn hai con chó chửa từ bi".

Đối đáp với Tả quân Lê Văn Duyệt[sửa]

Một hôm Nguyễn Công Trứ đang đi chơi, gặp mưa, vào trú trong quán nước bên đường. Mưa lâu quá, thêm gió lạnh, ông bèn nằm vào ổ rơm của quán, lấy chiếu đắp lên, ngủ ngon. Thình lình, đại binh của tả quân Lê Văn Duyệt đi qua. Lính vào đánh thức ông dậy, vừa kịp Tả quân cưỡi ngựa đến. Tả quân không bắt lỗi gì, chỉ buộc vịnh cảnh nằm ổ rơm đắp chiếu. Ông ứng khẩu:

Tám vạn anh hùng đè xuống dưới (anh hùng rơm)
Chín tầng thiên tử đội lên trên (Chiếu chỉ của Vua đồng thời cũng là chiếc chiếu)
Câu thơ vừa tả thực vừa ẩn dụ đầy khẩu khí. “Ba vạn anh hùng” là ổ rơm (anh hùng rơm!), “Chín lần thiên tử” vừa chỉ nhà vua, vừa chỉ chiếc chiếu (trùng âm với chiếu chỉ của nhà vua, và chiếu chỉ nhà vua thường bắt đầu bằng câu “Cửu trùng thiên tử chiếu”).
  • Đối đáp với quan Tuần Phủ:

Bấy giờ, Nguyễn Công Trứ lên tỉnh học được ít lâu, một chiều nọ đẹp trời, khi lang thang dạo phố thì bỗng gặp một đoàn xe ngựa của quan Tuần phủ đi hành hạt, dù lọng nghênh ngang, tiền hô hậu hoán. Đang lớ ngớ không biết đường tránh, cậu vô tình cản đường đoàn người ngựa và bị toán lính hầu bắt tới trình quan về tội vô lễ. Cậu trò vừa bị giải đến nơi, đã nghe quan quát hỏi: "Sao cậu dám thất lễ với bản quan" Trứ đáp: "Bẩm quan lớn, tiểu sinh nguyên học ở trường làng, vừa mới lên tỉnh chưa biết rõ các nghi lễ nên mới vô tình vô lễ, xin quan lớn dung thứ". Quan nói: "nếu cậu đúng là học trò thì sẽ ra 1 vế đối, không đối được sẽ bị phạt"

vế ra là: Khách khoa bảng, khách văn chương, giữa quan khách, khách lại gặp khách. :Nguyễn Công Trứ ứng khẩu đối ngay: Ai anh hùng, ai hào kiệt, trong trần ai, ai dễ biết ai (câu này na ná câu của Đặng Trần Thường ra cho Ngô Thì Nhậm)

Đối đáp với Đầu phủ Thạch Hà Nguyễn Trùng Quang[sửa]

Ở phủ Thạch Hà có đầu phủ Nguyễn Trùng Quang vốn tự thị, tự đắc là hay chữ, học rộng nhất trong vùng. Nghe đồn thần đồng Nguyễn Công Trứ phong lưu, tài giỏi, anh ta chưa tin, những muốn gặp để thử hơn thua thế nào. Một lần, Trùng Quang cho người mời thần đồng Củng tới nhà mình chơi. Đúng ngày hẹn, Nguyễn Công Trứ tới thì thấy ngoài cửa chủ nhà có dán một đôi câu đối chữ Hán:

Sinh nê nhi bất nhiễm (Sinh nơi bùn mà không nhiễm)
Hữu xạ tự nhiên hương (Có chất xạ tự nhiên thơm)
Vào trong nhà, lại thấy trên bàn có một tờ giấy trắng, một cây bút lông và một đĩa mực mài sẵn, Trứ biết ngay chủ nhà muốn thử tài mình. Ông bèn xin phép cầm bút viết liền một đôi câu đối Nôm như sau:
Cửa sấm dám đâu mang trống lại
Đất người đành phải vác chiêng đi
Hai câu này lấy từ hai câu tục ngữ: “Đánh trống trước cửa nhà sấm” và “Mang chiêng đi đánh đất người”, ý nói: tôi đâu dám khoe khoang trước một người tài giỏi như ông, nhưng vì ông đã muốn thách thức thì tôi cũng đành thể hiện vậy. Đọc xong hai câu thơ, Đầu phủ họ Nguyễn, người tự đặt cho mình tên là Trùng Quang, có nghĩa là hai lần sáng, lập tức lấy làm tâm phục khẩu phục. Ông liền viết tặng Nguyễn Công Trứ hai câu thơ chữ Hán:
Khắc chấn danh gia năng hữu tử (Nối nghiệp, danh gia sinh con tài giỏi)
Bất tài tiện đệ nhượng vi huynh (Kém tài, tiện đệ xin nhường làm anh)
Đầu phủ Quang nhất định tôn Nguyễn Công Trứ làm anh, mặc dầu nhiều hơn Nho Củng đến năm sáu tuổi. Đến khi chia tay, Nguyễn Trùng Quang lại viết tặng “Đại huynh” thêm hai câu thơ Hán văn như sau:
Kinh nhân văn tự đề giai cú (Đề câu thơ hay văn tự kinh người)
Tuyệt thế anh tài kiến thiếu niên (Thấy kẻ thiếu niên anh tài tuyệt thế)

Câu hát giao duyên[sửa]

Gần làng Uy Viễn có bến Giang Đình trên bờ sông Lam, là một trong “Nghi Xuân bát cảnh” (tám cảnh đẹp của Nghi Xuân), trên bến có khu chợ nổi tiếng với những đặc sản miền quê và cũng là nơi thường lượn lờ, gặp gỡ của trai thanh gái tú. Một chiều xuân nọ, Nguyễn Công Trứ vừa thơ thẩn đến ngã ba đó thì thấy từ đằng xa một cô gái cũng đang đi lại. Chàng trai làm ra vẻ đang mê mải ngắm hoa, nhưng thực ra là câu giờ để đợi giai nhân đến. Biết tỏng chàng Nho sinh kia là ai và vốn không lạ gì những mẹo vặt kiểu đó, khi đến gần cô gái mỉm cười đọc, như bâng quơ: 'Có ai vô lí như thi sĩ, hoa nở giữa đường cũng vấn vương

Cô gái ấy vốn là một nghệ sĩ dân gian làng nghệ thuật Ca Trù Cổ Đạm, tài sắc có thừa. Biết đã gặp “đối thủ” cao tay, chàng thi sĩ dù vô lí vẫn không hề bối rối, mà lại buông giọng ỡm ờ như nói với bông hoa ven đường:
Trời đà cho sắc cho hương, hoa kia nỡ để gió sương đãi đằng.
Chuyện đến đây, có người nói cô gái tự biết mình không phải là “kì phùng địch thủ” của chàng “thi sĩ vô lí” kia nên e thẹn bước đi, kéo theo cái nhìn xao xuyến của kẻ đa tình; nhưng cũng có người kể
sau một phút lúng túng, nàng đã trả đòn ngoạn mục': Sắc hương là của đất trời, phận ai ai giữ ai người phải lo!
Rồi không đợi chàng thi sĩ kịp đáp lời, sắc hương đã nhẹ gót xa dần với tiếng cười khúc khích…

Câu đối viết tặng vợ[sửa]

Mạc vị khốn hành phi ngọc nhữ (Vận khó trời còn trau chuốt ngọc)
Cảm tương bần tiện cố kiên nhân (Lúc nghèo ta có lụy chiều ai)
  • Câu đối viết trước lúc lên kinh ứng thí:
Nhờ trời phù hộ chồng tôi, miếng khoa giáp ăn xanh phường sĩ tử
Ơn chúa yêu vì bố nó, nợ trần hoàn trang trắng mặt nam nhi

Khi đã hiển đạt[sửa]

1 - Đối đáp với Tham Tri Bộ Lại Hà Tông Quyền (1790 - 1848):

  • Hà Tông Quyền quê ở Thanh Oai, Hà Đông. Hà Tông Quyền nổi tiếng là thần đồng, người sau viết truyện ông đã ghi một sự thực về tinh thần học tập của ông là “dạ tĩnh thường văn độc thư thanh” (đêm lặng thường nghe tiếng đọc sách). Không những chăm chỉ, ông Quyền còn rất mẫn tiệp. Năm 12 tuổi, một viên quan huyện nghe tiếng cậu bé, liền ra câu đối thử tài:
Tam nhân đồng hành, tức hữu ngã sư
Câu đối lấy chữ liền ở sách Mạnh Tử, có nghĩa là: ba người cùng đi, ắt có thầy của ta.
Cậu bé đối lại: Thiên lý nhi lai, tương lợi ngô quốc
Câu này cũng lấy chữ có sẵn trong sách trên, nghĩa là ông ở ngàn dặm tới đây, chắc có đem lợi cho nước tôi. Câu đối cho thấy tầm nhìn xa của cậu bé, hứa hẹn một hành trạng rực rỡ sau này.

Nguyễn Công Trứ không ư­a Hà Tôn Quyền về chỗ miệng l­ưỡi khéo léo, nịnh hót lấy lòng nhà vua của ông ta. Nhân một bữa, sau lúc bãi triều Hà Tông Quyền vừa gặp Nguyễn Công Trứ, liền đọc một vế đối hóc hiểm:

Quân tử ố kì văn chi Cụ lớn
Nguyên đây là một câu cổ văn trong sách Trung Dung 君子惡其文之著 “Quân tử ố kì văn chi trứ”, nghĩa là “Người quân tử ghét lối văn chương loè loẹt bề ngoài” (Trứ tiếng Hán nghĩa là nổi trội, loè loẹt), nhưng ông Quyền lại thay tên “Trứ” thành “Cụ lớn”, vừa tỏ vẻ kính trọng, vừa hóm hỉnh thách đối, nhưng kì thực thâm ý của ông ta muốn nói: nhà vua ghét văn chương phù hoa của cụ lớn/Trứ.
Không cần phải nghĩ ngợi lâu, Nguyễn Công Trứ đọc liền một câu đối lại: Thánh nhân bất đắc dĩ dụng Quý ông.
Đây cũng là một câu cổ văn 聖人不得已用權 “Thánh nhân bất đắc dĩ dụng quyền”, nghĩa là “Đức Thánh nhân bắt đắc dĩ phải dùng quyền biến”. Nguyễn Công Trứ cũng thật tài tình thay tên “Quyền” thành “Quý ông”, cũng vừa lịch sự và vô cùng thâm thuý: nhà vua bất đắc dĩ mới phải dùng ông đấy thôi! Người đời còn tán rằng vế đối của cụ Trứ không chỉ là đòn nhằm vào Hà Tôn Quyền, mà còn ngụ cả ý chê nhà vua nữa. “Ý tại ngôn ngoại” của câu này là phê phán nhà vua dùng người không đúng, bởi vì lúc thường thì nên dùng “kinh”, lúc biến mới phải dùng “quyền”; nay đang thời bình trị mà nhà vua dùng “quyền” thì không phải là đấng minh quân!

Với quan tổng đốc tỉnh Bắc Ninh[sửa]

Trong một bữa tiệc có quan Tổng đốc Bắc Ninh (một trong những người đã từng vu khống Nguyễn Công Trứ) cùng dự, khi chén rượu đã ngà ngà, đáp lời mọi người mời mọc, thúc dục kể chuyện vui, Nguyễn Công Trứ nói: "Thư­a các quan, cách đây mấy năm, khi đương làm quan ở đất Bắc, nhân đi hành hạt tại huyện lị Nam Sách gặp một đứa bé con mới lên bảy tám tuổi mà thông minh linh lợi khác thường, tôi liền ra cho nó một vế đối Nôm: Lời vàng quan tỉnh Bắc Ninh.

Không ngờ, chẳng cần phải nghĩ ngợi lâu, nó ứng khẩu­ đối luôn: Cửa ngọc bà huyện Nam Sách.
Chà,“Lời vàng” đối với “cửa ngọc”, “quan tỉnh” đối với “bà huyện”, “Bắc Ninh” đối với “Nam Sách” thì còn chê làm sao được! Tôi liền thưởng cho nó một quan tiền. Nghe chuyện, các quan đều pha ra cười, chỉ có quan Tổng đốc Bắc Ninh họ Phạm thì đỏ mặt tía tai, cố ngồi nín thinh cho qua bữa tiệc.

Kể chuyện đối đáp trả đũa tri phủ Thạch Hà[sửa]

Quan phủ Thạch Hà - Hà Tĩnh, cũng có mối ân oán chi đó với Nguyễn Công Trứ, Trong một bữa tiệc, khi các các quan đã ăn uống say sưa rồi, cụ Trứ kể chuyện: "Ở phủ Thạch Hà đất Hà Tĩnh quê tôi có một đứa bé thần đồng. Nó ứng đối tài tình không thể tưởng. Một lần tình cờ gặp nó, tôi đọc mau một câu thật dài để thách nó đối, thế mà nó đối hay và nhanh hơn cả người lớn mới tài chứ".

Câu tôi đọc là thế này: Chống chọi như quan phủ Thạch Hà. Thạch là đá, hà là sông, giữa dòng sông ngăn đá, nên chi mồm ông phủ Thạch Hà hà!.
Nó tiếp lời tôi mà đối ngay như sau: Giàu có như bà huyện Kim Động. Kim là vàng, động là hang, trong cửa hang có vàng, bởi thế đồ bà huyện Kim Động động!.
Các quan khách trong tiệc ôm bụng cười nghiêng ngửa vô tư, chỉ riêng quan Tri phủ Thạch Hà thì nửa cười nửa mếu lấm lét nhìn quanh.
  • Với quan tỉnh thần Hà Tĩnh:

Mùa xuân năm Canh Tuất (1850), lúc đó Nguyễn Công Trứ về hưu dưỡng đã được gần nột năm, các quan tỉnh Hà Tĩnh tổ chức lễ cúng “Xuân thủ”, là lễ cúng đầu mùa xuân hàng năm. Tham dự lễ cúng, ngoài các quan viên tại chức, các hưu quan trong tỉnh cũng được mời, trong đó có viên tỉnh thần Hà Tĩnh trước đây từng tố cáo Nguyễn Công Trứ với vua Tự Đức. Sau khi hành lễ là một bữa tiệc rượu khoản đãi các quan viên văn võ tân cựu trong tỉnh. Vào bàn tiệc, Nguyễn Công Trứ kể chuyện: "Chả là hồi đó lão còn làm Tổng đốc Hải Yên, một hôm đi đường gặp một đứa bé chừng mười tuổi mà trông lanh lợi vô cùng".

Đoán nó là một học trò thông minh, lão liền ra cho nó một câu đối: Ở Hà Tĩnh sông lặng nhờ gió lặng (Hà Tĩnh có nghĩa là sông lặng)
Nó ứng khẩu đối ngay: Tại Hải Yên bể yên bởi sóng yên (Hải Yên có nghĩa là biển yên)
Lão tiếp tục đọc: Quan tỉnh Hà Tĩnh mở miệng hay, lời lời châu ngọc
Nó đối liền: Bà tổng Hải Yên giấu của kín, hàng hàng gấm thêu ("Miệng hay" ở trên đối với "của kín" ở dưới! "Lời lời châu ngọc" ở trên đối với "hàng hàng gấm thêu" ở dưới!)
Lão lại ra một câu đối bằng tục ngữ: Ăn một đọi, nói một lời, đừng học thói tam tiên tam tổ
Nó cũng đối ngay bằng tục ngữ: Của ba loài, ngư­ời ba đấng, kể chi phường bát đảo bát điên ("Tam tiên tam tổ" ở trên đối với "bát đảo bát điên" ở dưới).
Lão phục nó lắm, đọc một câu ngạn ngữ khác: Ném đất giấu tay, ghê những kẻ mặt người dạ thú
Nó đối liền cũng bằng một câu ngạn ngữ: Phun người ngậm máu, sá chi ph­ường miệng Phật lòng xà ("Mặt người dạ thú" đối với "miệng Phật lòng xà" ở dưới).
Các quan trong tiệc ngồi nghe, có người xuýt xoa khen thằng bé giỏi, nhưng cũng có người tái mặt, cúi đầu.

Câu đối viết cho Phan Bá Vành[sửa]

  • Trong trận đánh với Phan Bá Vành, thế trận thiên la địa võng của Nguyễn Công Trứ giăng ra rất chặt chẽ khiến vị lãnh tụ nông dân này đành thúc thủ, phải nộp mình cho viên cai tổng quen biết trong những ngày còn là nông dân chịu thương chịu khó. Nguyễn Công Trứ có viết như sau:
Rồng mà mắc cạn tôm giỡn mặt
Cọp lạc đồng bằng bị chó khi
Qua những lời này, Nguyễn Công Trứ thực lòng ông cũng tiếc cho Phan Bá Vành. Nhưng biết làm sao được. Ở đời nào ai có thể chọn cho mình quê hương, cha mẹ, số phận? Nợ nần kiếp trước chăng?

Những câu đối viết khi đã về nghỉ hưu[sửa]

  • Câu đối viết khi vừa hồi hương:
Miệng thế khó đem b­ưng nó lại
Lòng mình chưa dễ bóc ai coi
  • Câu đối viết cho chùa ở làng làm nghề thợ rèn:

Có làng làm nghề thợ rèn, vừa làm xong ngôi chùa làng. Dân đến xin ông Nguyễn Công Trứ câu đối để khắc vào cổng chùa. Cho nên ông đã cầm bút viết hai đại tự: Sắc Không vào một tờ giấy đỏ.

Trên một tờ khác, ông viết hai chữ: Không Sắc, bảo dân làng ấy đem về khắc vào hai cái bảng như hai cái khánh, có chạm rồng phụng sơn son thếp vàng, treo lên hai đầu trụ.
Nội hàm có hai ý: câu hỏi thường của người dân với người thợ rèn đối đáp để hỏi về tính chất của dụng cụ họ rèn ra. Thứ hai là cả nội dung triết lý nhà Phật, mênh mông, rất khó. Giảng ra thiên kinh vạn quyển, rút lại còn hai chữ “Sắc” với “Không“. Sắc bất dị không, không bất dị sắc; sắc tức thị không, không tức thị sắc…
  • Câu đối viết trước lúc ly trần:
Cũng may thay công đăng hoả có là bao, theo đòi nhờ phận lại nhờ duyên, quan trong năm bảy thứ, quan ngoài tám chín phen, nào cờ nào quạt, nào mão nào đai, nào hèo hoa gươm bạc, nào võng tía dù xanh, mặt tài tình trong hội kiếm cung, khắp trời nam bể bắc cũng tung hoành, mùi thế trải qua ngần ấy đủ
Thôi quyết hẳn cuộc phong trần chi nữa tá, ngất ngưởng chẳng tiên mà chẳng tục, hầu gái một vài cô, hầu trai năm bẩy cậu, này cờ này kiệu, này rượu này thơ, này đàn ngọt hát hay, này chè chuyên chén mẫu, tay thao lược ngoài vòng cương toả, lấy gió mát trăng trong làm tri thức, tuổi trời ít nữa ấy là hơn

Được nhân dân tặng[sửa]

  • Câu đối của nhân dân huyện Kim Sơn tỉnh Thái Bình:
Hoan quận hương chi khôi, cái thế văn tài kiêm võ lược (Hoan quận Hương đỗ đầu, cái thế văn tài kiêm võ lược)
Kim Sơn địa dĩ tích, thiên thu miếu hưởng hựu triều phong (Kim Sơn đất mở rộng, nghìn thu miếu hưởng lại triều phong)
  • Câu đối của nhân dân huyện Tiền Hải tỉnh Thái Bình:
Văn võ tuyền tài, danh trọng nội triều ngoại quận (Văn võ tài gồm hay, danh trọng đối nội triều, ngoài quận)
Điền trù thực ngã, công cao Tiền Hải, Kim Sơn (Ruộng nương đất mở rộng, công cao tại Tiền Hải, Kim Sơn)
  • Câu đối của thân bằng văn hữu ở Hà Tĩnh:
Sự nghiệp kinh nhân thiên hạ hữu (Trong thiên hạ vốn có người sự nghiệp kinh đời như Cụ)
Phong lưu đáo lão thế gian vô (Giữa thế gian nào có kẻ phong lưu mãn kiếp như Ngài)
  • Câu đối của thân bằng văn hữu ở Nghệ An:
Minh thế văn chương thiên hạ hữu (Văn chương cái thế như ông, trong thiên hạ còn có đôi kẻ)
Nhứt sinh khảng khái thế gian vô (Khảng khái suốt đời như Cụ, giữa thế gian không có một người)
  • Câu đối do Ông Nghè Nguyễn Quý Tân viết tặng:
Giang sơn tóm lại đôi sân khấu
Văn vũ đem ra một khúc cầm
  • Câu đối do cụ Hoàng Nho Nhã gửi tặng:
Sự nghiệp kinh nhân thiên hạ hữu
Phong lưu đáo lão thế gian vô!

Nghĩa là kẻ làm nên sự ngiệp khiến người đời khiếp sợ trong thiên hạ vẫn còn, chứ người đến già vẫn phong lưu (như cụ) thì thế gian không có!

  • Câu đối mừng thọ Nguyễn Công Trứ 80 tuổi của Tổng Đốc Nam Định Võ Trọng Bình (1808 - 1898):
Trực dục lăng tiêu tri kính trúc (Thẳng đám trời cao hay trúc cứng)
Khả ư hàn tuế kiến thương tùng (Vào năm rét lớn thấy tùng xanh)
  • Câu đối ở đền thờ Nguyễn Công Trứ (Làng Đông Quách huyện Tiền Hải Thái Bình):
Đắc địa sinh từ Đông ấp nhất bách niên kỷ niệm (Đất tốt dựng đền thờ, làng Đông ấp trăm năm lưu kỷ niệm)
Kình thiên trụ thạch Hồng Sơn thiên vạn cổ tề cao (Trời cao xây cột đá, núi Hồng Sơn muôn thuở sánh công lao)
  • Đông các đại học sĩ Trương Quốc Dụng (1797-1864) người đồng châu với ông (xã Thạch Khê, huyện Thạch Hà) nhưng thua Nguyễn Công Trứ 19 tuổi và đậu sau ông 10 năm, nhân dịp Nguyễn Công Trứ về hưu đã tặng ông một đôi câu đối:
Lục địa thần tiên, danh trọng Hồng Sơn, Lam Thủy
Vạn gia sinh phật, công cao Tiền Hải, Kim Sơn

Dịch nghĩa:

Tiếng tăm dội Hồng Sơn, Lam Thủy, (cụ) như bậc thần tiên trên mặt đất
Công cao trùm Tiền Hải, Kim Sơn, (cụ) là ông Phật sống của muôn nhà

Trong số những văn từ ca tụng Nguyễn Công Trứ lúc sinh thời thì đôi câu đối của Trương Quốc Dụng là một trong những lời đánh giá, ngợi ca Nguyễn tướng công cao nhất và thành kính nhất. Ông Trương đã ngưỡng vọng cụ Nguyễn như là bậc thần tiên của giang sơn, đất nước, là ông Phật sống của muôn nhà; so ngang công danh của Nguyễn ở Tiền Hải, Kim Sơn với tầm vóc núi Hồng sông Lam. Tuy là cách nói khoa trương, nhưng thiết nghĩ, sự so sánh của ông Trương không hề khập khiễng. Nguyễn tiên sinh đã làm được bao nhiêu việc giúp ích cho đời. Cái đáng quý nhất ở Nguyễn là chí hướng bình sinh từng được ông phát biểu một cách hào hứng thì hầu như ông đều thực hiện được một cách trọn vẹn, có trường hợp được thực hiện xuất sắc như sự nghiệp doanh điền. Khác với đa số sĩ phu đương thời, ở ông, lời nói luôn đi đôi với việc làm. Trương đỗ đạt và nhập thế khi Nguyễn đã lừng lẫy công huân. Khi Nguyễn "nợ tang bồng trang trắng vỗ tay reo" thì cũng là lúc Trương đang ở đỉnh cao của sự nghiệp. Điều làm cho Trương kính phục nhất và thấy mình không thể làm được như Nguyễn chính là sự nghiệp doanh điền, là việc Nguyễn lập ra 2 huyện Tiền Hải và Kim Sơn. Nói cách khác, ngoài cái tài an bang định quốc thì cái "nhất điểm linh đài" ở Nguyễn làm Trương cảm khái nhất là tấm lòng rất mực thương yêu, chăm lo cho dân.