Câu đối về các danh nhân thời Trịnh-Nguyễn phân tranh, Tây Sơn và Nguyễn

Bộ sưu tập danh ngôn mở Wikiquote
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Đào Duy Từ (1572 - 1634)[sửa]

Đào Duy Từ quê gốc ở làng Hoa Trai, nay thuộc xã Nguyên Bình, huyện Tĩnh Gia, Thanh Hóa. Đào Duy Từ dự khoa thi Hương năm 1593 đời vua Lê Thế Tông đỗ á nguyên, sau này vào Nam theo chúa Nguyễn. Năm 1627, chúa Trịnh bắt họ Nguyễn phải thần phục, Duy Từ sai thợ làm một chiếc mâm đồng có hai đáy, bỏ sắc vua Lê phong kèm với một tờ giấy có 4 câu chữ Hán vào giữa, rồi hàn kín lại, cử sứ giả mang ra Thăng Long, để tạ ơn vua Lê, chúa Trịnh. Nội dung như sau: "Mâu nhi vô dịch, Mịch phi kiến tích, Ái lạc tâm trường, Lực lai tương địch". Dịch nghĩa từng câu là: chữ mâu không có dấu phết; chữ mịch bỏ bớt chữ kiến; chữ ái để mất chữ tâm và chữ lực đối cùng chữ lai. Đại ý như sau: chữ mâu viết không có dấu phết thì thành chữ . Chữ mịch" mà bỏ chữ kiến thì là chữ "bất. Chữ ái nếu viết thiếu chữ tâm thì ra chữ thụ và chữ lực để cạnh chữ lai sẽ là chữ sắc. Gộp cả bốn chữ mới lại thành câu: Dư bất thụ sắc, nghĩa là Ta chẳng chịu phong.

Di tích Nhà thờ Đào Duy Từ hiện tại thuộc thôn Ngọc Sơn, xã Hoài Thanh Tây, huyện Hoài Nhơn. Ở hai bên là đôi câu đối nhắc đến lai lịch Đào Duy Từ:

Ngọc sơn chung tú Bắc
Bồng lãnh hiển danh Nam

Tạm dịch:

Tiếng chuông Ngọc Sơn vang đất Bắc
Danh hiển vinh Bồng Sơn rạng đất Nam

Giai thoại câu đối của Giang Văn Minh[sửa]

Giang Văn Minh (1573 - 1638) là người xứ Đoài (nay thuộc Đường Lâm, Sơn Tây, Hà Nội), làm quan dưới triều đình của vua Lê Thần Tông và chúa Trịnh Tráng. Năm 1637, ông vâng mệnh đi sứ Trung Quốc.

Khi vào triều đình Trung Quốc, vua Minh là Sùng Trinh đã ra vế đối bắt sứ thần họa .Vế xuất đối là: “Đồng trụ chí kim đài dĩ lục”, nghĩa là “Trụ đồng đến nay rêu đã xanh”.

Câu đối này mang hàm ý hống hách, nhắc lại việc xưa: Tướng nhà Hán là Mã Viện, sau khi đàn áp xong cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, đã dựng một chiếc cột đồng rồi khắc lên đó mấy chữ: “ Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt”, nghĩa là: nếu chiếc cột đồng này mà gãy thì đất Giao Chỉ sẽ bị diệt vong.

Trước thái độ ngạo mạn và xúc phạm quốc thể, sứ thần Giang Văn Minh đã đối lại: “Đằng Giang tự cổ huyết do hồng”, nghĩa là “Sông Đằng từ xưa máu còn đỏ”.

Vế đối chỉnh không chê vào đâu được! Giang Văn Minh đã nhắc cho vua quan nhà Minh nhớ đến ba lần đại bại trên sông Bạch Đằng: Của quân Nam Hán năm 938, quân Tống năm 981 và quân Nguyên năm 1288 - những lần bại trận của quân phương Bắc mà đến nay máu còn nhuộm đỏ nước.

Quá bẽ bàng vì câu đối của sứ thần nước Nam, vua quan nhà Minh đã làm một việc hền hạ mà tự cổ chí kim hiếm có trong thông lệ ngoại giao: giết sứ giả. Vua Minh ra lệnh: “Mổ bụng sứ thần An Nam để xem chúng to gan lớn mật đến đâu”. Khi thi hài của Giang Văn Minh được đưa về đến Kinh thành Thăng Long, vua Lê Thần Tông cùng chúa Trịnh Tráng đã đến bái kiến linh cữu và truy tặng chức cao, tước hậu cho ông, đồng thời ban tặng câu “Sứ bất nhục quân mệnh, khả vi thiên cổ anh hùng”, nghĩa là: Sứ thần không làm nhục mệnh vua, xứng đáng là anh hùng thiên cổ.

Nay trên mộ của Giang Văn Minh còn rõ bốn chữ “Thiên Cổ Anh Hùng”. Tên của ông được đặt cho một tuyến đường ở Thủ đô Hà Nội. Dưới đây là đôi câu đối khắc trong nhà thờ ông:

Lễ nghĩa bách niên Mông Phụ ấp
Phong thanh thiên cổ Thám hoa môn”

Tạm dịch là:

Lễ nghĩa trăm năm làng Mông Phụ
Tiếng thơm nghìn thuở cửa Thám hoa

Nhà thơ Nguyễn Xuân Lộc sưu tầm và biên soạn

Sự tích và câu đối của “Trạng Tỏi” Nguyễn Đăng (1576 - 1657)[sửa]

“Tứ Nguyên Nguyễn Đăng” sinh trong một gia đình nghèo khó ở một làng quê chuyên sống bằng nghề trồng hành, tỏi nên gọi là làng Tỏi xã Đại Toán, huyện Quế Dương (nay thuộc xã Chi Lăng, huyện Quế Võ), tỉnh Bắc Ninh. Khi còn nhỏ, nghe nói cụ nghè Nguyễn Đình Tuân, quê ở làng Võ, xã Quảng Bố, huyện Lang Tài là người hay chữ, dạy giỏi trong vùng, Nguyễn Đăng được gia đình đưa đến tận nhà xin theo học. Cụ nghè ra một câu đối, đối hay mới nhận làm môn sinh:

vế ra: Vó vé, te te, võng tiến sĩ
Vế này đặt ra ba yêu cầu hóc búa về nội dung: một là vó, te, võng là những đồ dùng sinh hoạt, làm ăn của nhà nông; hai là làng Vó, làng Te đồng thời là những nơi cụ nghè ở; ba là trong hoàn cảnh nơi thôn dã nghèo khó như vậy mà đã có ông nghè như thế đã chứng tỏ là nơi có truyền thống hiếu học
Nguyễn Đăng nghe xong đối ngay: Hành hành, tỏi tỏi, kiệu trạng nguyên
Vế đối của ông thật là lời hay ý đẹp, đáp ứng được cả 3 yêu cầu của vế ra: hành, tỏi, kiệu vừa là tên của rau, của các loại gia vị vừa là địa danh của quê ông. Trong điều kiện một làng quê chỉ có nghề trồng hành, tỏi, rau màu lặt vặt như vậy mà sanh ra một “quan trạng” thì thật hiếm thấy!

Nghe xong, cụ nghè khen hay và chấp nhận cho ông theo học. Về sau, Nguyễn Đăng thi đỗ giải nguyên qua các kỳ thi Hương, thi Hội, thi Đình (khoa thi năm Nhâm Dần – 1602) lúc mới 26 tuổi và thủ khoa kỳ thi ứng chế (kỳ thi đặc cách do vua Lê Kính Tông mở). Ông được nhà vua tặng danh hiệu là “Tứ Nguyên”. Danh hiệu này có lẽ độc nhất vô nhị trong nước. Tuy nhiên, nhân dân địa phương quen gọi ông là “Trạng Tỏi”. Cụ nghè làng Vó mến tài ông ngay từ ngày đầu nhập học nên đã gả con gái của mình cho ông.

Nguyễn Quang Minh (1584 - 1654)[sửa]

Nguyễn Quang Minh vốn thuộc dòng dõi họ Trần người xã Viên Quang, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Ông tên là Quang Minh, tục gọi là Lỗi, tên tự là Phúc Nhạc, tên thuỵ là Hoằng Vĩ. Khoa thi năm Mậu Thìn (1628) đời vua Lê Thần Tông ông đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, được ban tặng chức: Đôn hậu Công thần, Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu, Lại bộ Tả Thị lang, tước Mỹ Thọ hầu. Ông đã từng được cử đi sứ phương Bắc được thăng chức Thượng thư Bộ Lại, khi mãn hạn về trí sĩ tại quê nhà. Sau khi ông mất, nhân dân tiến phong một đôi câu đối, lưu sao sự tích. Nội dung câu đối:

Vãn Hà bất một cao danh bảng
Phủ Lỗ phúc sinh đại Phúc thần

Nguyễn Thị Duệ (1590 - 1670)[sửa]

Nguyễn Thị Duệ quê xã An Lạc, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Bà còn có tên khác là Nguyễn Thị Ngọc Toàn, Nguyễn Thị Du. Thuở nhỏ cô gái Nguyễn Thị Duệ tỏ ra rất sáng dạ. Lên 4 tuổi đã biết viết văn. Có cậu ấm trong vùng đến nghẹo, bà đã đọc châm 2 câu thơ: “Xá chi vàng đá hỗn hào, Thoảng đem cánh phượng bay cao thạch thành”. Nghe bà đọc, cậu ấm ta phải đánh bài chuồn. Khi nhà Mạc mở khoa thi hội, bà cải nam trang dự thi và đã đỗ đầu trong số tiến sĩ trúng cách. Trong buổi tiệc mừng tân khoa, vua Mạc nhận ra ông nghè thủ khoa có dáng vẻ yêu kiều, thanh tú giống nữ giới bèn gặng hỏi và bà Nguyễn Thị Duệ đành phải thú thực. Vua Mạc chẳng những không khép tội mạo danh theo quy chế thi cử thời phong kiến mà còn giữ nguyên học vị của bà và phong là “Diệu Huyền Sao Sa” nghĩa chữ là “Tinh phi” (sao sa) rồi đưa vào cung. Ngày 25 tháng 7 năm Khải Định thứ 9 (1924) đền thờ bà ở xã Kiệt Đặc có đôi câu đối:

Lễ sư sinh thông tuế
Nhất kính chiếu tam vương

Trên bàn có bức hoành đề hai chữ "Hoa Am" và một đôi câu đối:

Giáp khoa tiên chiếm Cao Bình bảng
Đại bút do truyền bát cổ bi

Nghĩa là:

“Khoa giáp đứng đầu bảng ở Cao Bằng
Văn Chương lừng danh để lại ở bia Bát Cổ”

Phạm Công Trứ (1600 - 1675)[sửa]

Phạm Công Trứ, người làng Liêu Xuyên, huyện Đường Hào (nay là thôn Thanh Xá, xã Nghĩa Hiệp, huyện Yên Mỹ). Năm 1667, Phạm Công Trứ cầm quân đánh bại quân Mạc tại Cao Bằng, chặn đứng âm mưu của nhà Thanh mượn cớ “Phù Mạc diệt Lê” xâm lược nước ta. Liêu Xuyên xưa, nay thuộc xã Nghĩa Hiệp, huyện Mĩ Văn tĩnh Hưng Yên. Ở thôn Thanh Xá có nhà thờ Phạm Công Trứ. Đây vốn là từ đường họ Phạm do Phạm Công Trú hưng công dựng năm Cảnh Trị thứ 7 (1669). Trong nhà thờ, treo một hoành phi và một đôi câu đối. Hoành phi có 4 chữ lớn “Trung hưng hiền tướng” (nghĩa là: Tể tướng giỏi thời Trung hưng). Bốn chữ này là chữ của Vua Lê phong tặng khi Phạm Công Trứ đã qua đời. Chữ trên câu đối vốn là chữ ở lá cờ chúa Trịnh Tạc tặng lúc ông được về hưu vào năm Mậu Thân (1668). Câu đối như sau:

Điều đỉnh nại, nhiếp âm dương, triều đình trụ hoạch
Hoàn qui mô, định hiệu lệnh, quốc gia đống lương

Nghĩa là:

Nêm canh đỉnh vạc, điều hòa khí âm dương, làm cột đá cho triều đình
Hoàn thành qui mô, định ra hiệu lệnh, là rường cột của Nhà nước

Lê Công Hành (1606 - 1661)[sửa]

Lê Công Hành người làng Quất Động, huyện Thường Tín (Hà Tây), tên thật là Trần Quốc Khái, sau này được nhà Lê ban quốc tính họ Lê đổi thành Lê Công Hành. Thời vua Lê Chân Tông (1643 – 1649), ông đỗ Tiến sĩ và được cử đi sứ Trung Quốc. Do có công lao phổ biến, truyền nghề thêu, nghề lọng, nên sau ngày ông mất (12 tháng 6 năm Tân Sửu – 1661), nhân dân nhiều nơi đã làm đền thờ ông. Tương truyền, ngay từ khi còn niên thiếu, ông đã nổi tiếng thông minh. Có lần đi đắp đê, vì sức yếu, không vác được hòn đất to, ông bị chôn chân ở đê. Một viên quan thị đi qua, thấy vậy hỏi duyên cớ, ông khai là học trò sức yếu. Viên quan thị liền nói: "Nếu là học trò, ta ra cho một vế câu đối, đối được, ta tha cho về".

Viên quan thị đọc: Ông quan thị, cắm đường cái tiêu, trị hồng thủy, cho dân được cậy.
Lê Công Hành liền đối lại: Trai Quất Động, thi đỗ bảng nhãn, phù quân vương, phỉ chí mới cam.
Vế trên có bốn thứ quả: thị, (chuối) tiêu, hồng, cậy. Vế dưới cũng có bốn tên quả: quất, nhãn, (bồ) quân, cam. Quan thị vỗ ngực kể công thì cậu học trò cũng hiên ngang tỏ bày chí khí.
  • Câu đối được viết từ gia phả đã gợi lại hành trang của cụ:
Khoa bảng phương liên tiền đại Lý
Công hầu phong tặng cố triều Lê

Thân Công Tài (1620 - 1683)[sửa]

Thân Công Tài tự Phúc Khiêm; sinh ở xã Như Thiết, huyện Yên Dũng xưa; nay là thôn Như Thiết, xã Hồng Thái, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Thân Công Tài làm quan cho triều Lê trung hưng, lần lượt trải các chức: Tri thị nội thư tả (1672), Đề đốc (các xứ Kinh Bắc, Thái Nguyên, Lạng Sơn), Đô đốc Đồng Tri (1683), Tả Đô đốc;...và từng được phong đến tước Hán quận công. Công lao của ông đã được ghi nhận trên tấm bia đá (tạc năm 1686) và đôi câu đối bằng chữ Hán ở trong đền Tả Phủ (Lạng Sơn):

Lịch sử lưu danh truyền hậu thế
Thương trường khai thị Hán Quận Công
Thân Công Tài nhiều lần qua lại các vùng biên ải, thấy việc giao thương ở Lạng Sơn kém phát triển, ông đứng ra lập chợ Kỳ Lừa, làm nơi buôn bán giao lưu giữa Đại Việt và Trung Quốc. Vì vậy, nhân dân hai nước Việt - Trung tôn ông là "lưỡng quốc khách nhân"

Câu đối của Trạng Gióng Đặng Công Chất (1621 - 1683)[sửa]

Đặng Công Chất người làng Phù Đổng, huyện Tiên Du, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc ( nay thuộc huyện Gia Lâm, Hà Nội ). Đỗ Trạng nguyên khoa Tân Sửu, niên hiệu Vĩnh Thọ thứ 4 (1661). Làm quan đến Thượng thư bộ Binh , bộ Hình. Lúc mất được tặng Thiếu Bảo, tước Bá. Tương truyền, thân mẫu của Trạng Gióng đến kỳ sinh nở đã nằm mơ thấy một con hổ đen gầm lên một tiếng kinh thiên động địa, giật mình tỉnh giấc và trở dạ sinh con. Tại chỗ học khi còn nhỏ và sau này là chỗ ngồi làm việc (công án) của mình, Đặng Công Chất thường cho dán câu đối như sau:

Lương năng do kỷ hữu (Tài năng dù tự mình sẵn có)
Chí nghiệp tự thiên thành (Sự nghiệp lớn phải nhờ trời mới nên)

Nguyễn Quốc Trinh (1624 - 1674)[sửa]

Nguyễn Quốc Trinh người làng Nguyệt Áng, huyện Thanh Trì, phủ Thường Tín, Trấn Sơn Nam Thượng (nay là xã Đại Áng, huyện Thanh Trì, Hà Nội). Đỗ Trạng nguyên khoa Kỷ Hợi, niên hiệu Vĩnh Thọ thứ 2 (1659), đời Lê Thần Tông. Làm quan đến Bồi tụng. Đi sứ Thanh bị giết hại, sau được truy tặng Binh bộ Thượng thư, Trì Quận Công. Vua cho tên thụy là Cường Trung và phong cho làm Thượng đẳng Phúc thần.

Tương truyền, Ông nội Nguyễn Quốc Trinh nhặt được túi vàng của một thầy địa lý người Tàu đánh rơi. Ông đem trả lại, thầy Tàu cảm ơn và tìm một mảnh đất gần đó bảo ông đem hài cốt của tổ tiên táng vào đó, và trồng bên cạnh mộ một cây hoa. Bao giờ thấy bên mộ cây hoa đơm hoa thì thắp hương khấn cầu khắc được. Nghe lời thầy Tàu, ông bố Nguyễn Quốc Trinh làm y như lời dặn. Vài năm sau vợ ông sinh được hai con trai, rồi ông qua đời. Hai anh em phải làm thuê làm mướn để lấy tiền đi học một thầy đồ nổi tiếng trong tổng. Một hôm người chị gái lấy chồng xã bên mang gạo tiền chu cấp thêm cho hai em thấy cả hai đứa đang mải mê gọt sáo diều bèn mách với thầy. Thầy đồ tức giận gọi vào cất tiếng: "Hai trò học bài xong chưa mà đã đi chơi vậy?" Nguyễn Quốc Trinh thưa: "Dạ, thưa thầy... anh em đâu có chơi mà ngồi ngẫm cho chữ nó chui xuống bụng ạ." Thầy giận dữ: "Ngươi chỉ giỏi biến báo, học mà tay không cầm sách...? Ta ra câu đối, nếu anh em ngươi không đối được thì ta sẽ phạt roi." Thầy chỉ vào người chị gái của Nguyễn Quốc Trinh vuốt râu cất tiếng:

Bất học hiếu du, vi tỉ giáo (Không học thích chơi, trái lời chị)

Nguyễn Quốc Trinh nhoẻn cười rồi lễ phép đối lại:

Đăng khoa cấp đệ, trọng sư danh (Đỗ khoa cấp đệ nổi danh thầy)

Thầy đồ tròn mắt nhìn Nguyễn Quốc Trinh: "Xưa nay ta vẫn nghĩ con nhà nông phu đi học chỉ may ra lấy được cái bằng Tú tài cho oai với làng xóm nào ngờ người lại hay chữ như vậy. Nếu hai trò chăm chỉ ta tin rằng cả hai anh em đều sẽ đỗ cao. Thôi từ nay ta nuôi cho cả hai anh em ăn học và không phải đi làm thuê làm mướn nữa."

Nguyễn Hy Quang (1634 - 1692)[sửa]

Hai làng cổ Trung Tư và Kim Liên của Thăng Long - Hà Nội (nay thuộc phường Phương Liên và Kim Liên, quận Đống Đa) có một nhân vật đáng chú ý. Ông tự là Nguyễn Hy Quang, quê nội ở Trung Tự, quê ngoại và quê vợ ở Kim Liên, chỉ là một nhà giáo nhưng có công trong xây dựng đất nước nửa cuối thế kỷ XVII nên được phong Phúc Thần Đại Vương. Trong từ đường có đôi câu đối như sau:

Quân thần luận liệt nhất thiên gia mô ý phạm
Thanh tích bỉnh bưu thiên cổ tẫn trực cô trung

Tạm dịch:

Một thiên Quân thần luận, khuôn mẫu đẹp đẽ về phép tắc
Tiếng thơm sáng muôn thuở về lòng trung thành chính trực

HOÀNG BÙI HOÀN[sửa]

Đền thờ tướng công Hoàng Bùi Hoàn có tên chữ là Tướng Công Từ, nhân dân địa phương gọi là đền Quận công thuộc thôn Câu Đồng, xã Quảng Trạch, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa. Hoàng Bùi Hoàn theo đường binh nghiệp, phò giúp ba triều vua Lê: Gia Tông (1672 – 1676), Hy Tông (1676 – 1705) và Dụ Tông (1705 – 1729). Sau khi ông mất, nhân dân làng xã ở hai huyện Quảng Xương, Đông Sơn đã hiến công sức, tiền của để xây dựng đền miếu, lăng mộ và hương khói phụng thờ theo “điển phép nhà nước”. Đúng như câu đối ở đền thờ ông:

“Miếu mạo nguy nga trường tồn từ thời chi báo
Uy danh hách dịch vĩnh thuỳ vạn thế chi linh”

Tạm dịch:

Đền miếu nguy nga trường tồn báo đáp cả bốn mùa hàng năm
Uy danh hiển hách lưu truyền mãi đấng linh thiêng muôn thuở

Nguyễn Hữu Cảnh (1650-1700)[sửa]

Nguyễn Hữu Cảnh tên thật là Nguyễn Hữu Thành, húy Kính, tộc danh là Lễ. Ông sinh tại vùng đất nay là thôn Phước Long, xã Chương Tín, huyện Phong Lộc (nay là xã Vạn Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình). Ông được xem là người xác lập chủ quyền cho người Việt tại vùng đất Sài Gòn-Gia Định vào năm 1698. Kể từ thời điểm đó, miền đất này chính thức trở thành một đơn vị hành chính thuộc lãnh thổ Đại Việt, tức Việt Nam ngày nay. Ngôi đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh có tên chữ là Trung Nghĩa Từ, còn được gọi là Lễ Công Từ Đường (gọi tắt là đền Lễ Công) nhưng nhân dân quen gọi là đền Châu Phú, thuộc địa bàn phường Châu Phú A, thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang. Dưới đây là những câu đối khắc tại đền:

拓 境 開 彊 天 地 以 時 歸 宿 將 Thác cảnh khai cương thiên địa dĩ thời quy túc tướng
停 車 駐 節 漢 夷 隨 在 自 靈 神 Đình xa trú tiết hán di tuỳ tại tự linh thần

Dịch:

Định cõi mở bờ, trời đất sẵn dành danh tướng soái
Ngừng xe đóng trại, chí hùng vang dậy chốn linh thiêng
“Nhân khai Thuận Khánh nhị thành cao sơn tịnh trĩ
Nghĩa thác nam cương ngũ tỉnh trường thủy đồng lưu

Dịch:

Nhân dựng Thuận Khánh hai thành, núi cao đáng sánh
Nghĩa mở phía Nam năm tỉnh, sông dài cùng xuôi
“Trường bảo lê dân uý dĩ uy hoài dĩ đức
Khâm mệnh Thượng Đế sinh vi tướng tử vi thần”

Dịch:

Mãi giúp dân đen, sợ bởi uy nhớ vì đức
Kính vâng Thượng Đế, sống làm tướng chết thành thần
“Yết địa công huân thiên tải phương danh truyền Lạc sử
Tại thiên linh sảng vạn dân chiêm đức phái Long giang”

Dịch:

Công lao mở đất, ngàn năm tiếng thơm truyền sử Lạc
Giữa trời chiếu rọi, muôn dân thấm đức gội sông Rồng
“Tảo đãng trần thanh Chân Lạp đương niên suy tướng lược
Ngưỡng phù thánh hóa Sầm Giang thiên cổ trứ anh linh”

Dịch:

Quét sạch bụi trần, Chân Lạp năm ấy tôn tướng giỏi
Ngửa trông đức thánh, Sầm Giang nghìn thuở rõ anh linh
“Trí dũng liêm ưu lữ tiễu độc siêu Tôn Vũ Tử
Sự công bưu bính sư trinh kham đối Hán Đình Hầu”

Dịch:

Trí dũng hơn người, điều binh hơn tài Tôn Vũ Tử
Cơ nghiệp rực rỡ, cầm quân ngang sức Hán Đình Hầu
“Nhất nhung y tăng thác Nam cương thất tỉnh thái hòa tại vũ
Tam thiên miếu trùng tân cựu sở thiên thu trở đậu trường tồn”

Dịch:

Một mảnh giáp thêm rộng phương Nam, bảy tỉnh thái bình trong vũ trụ
Ba lần dời trùng tân miếu cũ, nghìn năm hương khói mãi phụng thờ
“Chân Lạp trần thanh Đông Phố bách niên lưu vĩ tích
Sầm Giang tinh vẫn Tây thùy thiên cổ cảnh dư uy”

Dịch:

Chân Lạp bụi tan, Đông Phố trăm năm còn thánh tích
Sầm Giang sao rụng, cõi Tây nghìn thuở khiếp uy thừa
“Khai thác huân thần công tại biên thùy danh tại sử
Trung thành chính khí sinh vi chân tướng tử vi thần”

Dịch:

Ơn thần mở đất, công ở biên thùy tên trong sử
Trung thành chính khí, sống là chân tướng chết làm thần
“Khai thác phong cương tráng liệt đương niên khâm nội quốc
Nguy nga miếu vũ thanh cao thiên cổ ấp hành nhân”

Dịch:

Khai thác cõi bờ, hùng tráng khi xưa mọi người kính phục
Nguy nga miếu mạo, thanh cao nghìn thuở dân chúng phụng thờ
“Nhất tọa đối sầm lâu ô ngõa trang thành long hí thái
Tam thiên an viện đệ đình trừ ứng tập phượng lai nghi”

Dịch:

Một tòa cao ngang núi, rồng đùa uốn lượn trên ngói đỏ
Ba lần dời yên chỗ, phượng vui tụ hội trước thềm đình
“Giao dĩ nghĩa tiếp dĩ đạo kì nghi bất hoặc
Ngôn ân trung sự ân kính duy đức thị thân”

Dịch:

Giao du bằng nghĩa kết thân bằng đạo, phép ấy không sai
Ăn nói phải trung phụng thờ nên kính, riêng đức luôn gần
“Diện Bắc phụng thánh văn thân đổng tam quân trương hổ lữ
Hướng Nam dương thần vũ công khôi lục tỉnh trứ long đồ”

Dịch:

Trông lên Bắc phụng đức thánh văn, thân cầm ba quân ra oai dữ
Hướng về Nam nêu uy thần vũ, công dựng sáu tỉnh rõ hoàng đồ
“Nam ngạn đái tam giang nhật ánh quang tiền thanh lãng phái
Bắc nguyên hoành thất lĩnh địa hình dụ hậu tối cao kiên”

Dịch:

Bờ Nam nối ba sông, dưới ánh mặt trời luôn tịnh khiết
Vườn Bắc ngang bảy núi, cao dày thế đất mãi vững bền
  • Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh đã là vị Thống suất kinh lược có công đầu trong lớp người khai sơn ra phủ Gia Định, là ân nhân mở đường đưa dân chúng đến cuộc sống hạnh phúc ấm no tại vùng đất mới này, điều đó được thể hiện qua đôi câu đối truyền khẩu sau:
"Nghĩa nhân chủng hằng tâm đắp xây Đại Việt
Ơn biển trời lao khó gầy dựng Đồng Nai"

Có rất nhiều câu đối khác trong hàng trăm liễn đối treo thờ Ông ở khắp các đền miếu ca ngơi công dức của ông, trong đó có 1 câu rất hay như sau:

Công cao vạn đại lê dân hàm cảm thính Nam Châu
Đức trọng thiên thu hộ quốc an khang khai biên thổ

Dịch:

Công cao muôn thuở, toàn dân vọng tưởng đất miền Nam
Đức nặng ngàn thu, cả nước vui trông trời giới cảnh

Trạng Bịu Nguyễn Đăng Đạo (1651 - 1719)[sửa]

Nguyễn Đăng Đạo người làng Hoài Bão, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, 33 tuổi đỗ, ứng chế cách, làm Lại Bộ Thượng thư. Năm Bính Tuất niên hiệu Vĩnh Thịnh, làm chức Bồi thần, Đô ngự sử vào hầu Kinh Diên, tước Thọ lâm tử. Coi việc thi cử, đổi tên Đăng Liễn, mùa đông năm Giáp Tý, vua niệm ân thăng cho Binh bộ Thượng thư, tước Bá, giữ chức Bồi thần như cũ. Năm Mậu Tuất làm chức Tham tụng kiêm Đông các Đại học sĩ, cùng với Đàm công Hiệu đồng nắm chính quyền. Đăng Đạo chết được tặng Thượng thư”, lúc sinh thời ông rất nổi tiếng với giai thoại khoét tường để tán gái. Trạng nguyên Đăng Đạo đi sứ nhà Thanh, trong cuộc thi làm thơ giữa sứ Việt với sứ Cao Ly (Triều Tiên), ông làm bài phú “Bái nguyệt” xong trong chốc lát, vua nhà Thanh sau khi xem xong, đã phê cho trạng Bịu là “Bắc triều đệ nhất trạng nguyên”, ông trở thành “Lưỡng quốc trạng nguyên”. Trong Bắc Ninh phong thổ tạp ký cũng ghi nhận ông là vị Trạng nguyên duy nhất của nước ta qua đôi câu đối:

Tiến sĩ Thượng thư thiên hạ hữu
Trạng nguyên Tể tướng thế gian vô

Tức là:

Tiến sĩ làm Thượng thư trong thiên hạ cũng có
Trạng nguyên làm Tể tướng thế gian này không có ai

Nguyễn Đăng Cảo[sửa]

Nguyễn Đăng Cảo vốn người làng Hoài Bão, huyện Tiên Du, ưa phóng đãng, ít chịu kiềm chế, ngoài món rượu ngon và thịt cầy, ông chẳng còn thích gì nữa. Tính ông hay ngạo mạn, thường chẳng coi ai ra gì. Lúc vào thi đình, lẽ ông phải đỗ đầu, nhưng triều đình cố ý để ông xuống hàng thứ ba nên ông chỉ đỗ Thám Hoa. Khi làm quan trong triều, do nói năng không kiêng giữ nên mấy lần bị biếm chức.

  • Đối đáp với chủ thuyền buôn:

Từ nhỏ Nguyễn Đăng Cảo đã rất thông minh học giỏi, 13 tuổi đọc sách một lượt là thuộc hết, mọi người suy tôn là thần đồng. Vốn là người ưa tự do phóng khoáng, ông thường đi du ngoạn và giao thiệp rộng rãi với mọi người, sớm thể hiện tính cách sắc sảo. Năm 16 tuổi một hôm đi chơi, gặp một thuyền buôn, ông hỏi người chủ cho xem tấm vải gấm và hỏi giá bán.

Ông chủ thuyền vốn là người hay chữ nên ra một vế đối thử tài Đăng Cảo, như sau: Hữu nhất thuần cẩm, thượng cầm hạ thú, sắc nhiều toàn thuyền, khang ninh phúc thọ (có một tấm gấm quý, trên con cầm, dưới con thú, màu huyền sắc đẹp, mạnh khoẻ giàu sang sống lâu)
Đăng Cảo có đồng tiền đúc mang theo, nghĩ ngay ra vế đối lại: Hữu nhất văn tiền, nội phương ngoại viên, diện đế tứ tự, thông bảo khai nguyên (Có một đồng tiền, trong thì vuông, ngoài thì tròn, mặt đề bốn chữ, thông bảo khai nguyên)
Người chủ hàng nghe xong rất cảm phục liền biếu tặng Đăng Cảo tấm vải gấm quý đó
  • Đối đáp với sứ thần Mãn Thanh:

Trong khoảng 10 năm 1688 đến 1697, nhiều vụ lấn chiếm biên giới nước ta của quan lại nhà Thanh đã xảy ra. Một lần, Đăng Cảo nhận mệnh nhà vua mang lễ vật lên biên giới gặp sứ nhà Thanh để tìm cách sao cho quân Thanh không kéo về Thăng Long.

Đến Lạng Sơn, sứ thần nhà Thanh ra câu đối rằng: Điểu nhập phong, thực tận trùng nhi hoá phượng? (Chim vào gió ăn sâu mà hoá phượng) - chữ “phượng” do chữ “Điểu” viết trong lòng chữ “phong” mà thành.
Đăng Cảo liền đối rằng: Nhân cư nham, đả thi thạch chĩ thành tiên (Người ở cạnh núi, đẽo đá để thành tiên) - Chữ “nhân” đứng bên cạnh chữ “nham”, bỏ chữ “thạch” thành chữ “tiên”.
  • Đối đáp với vua Khang Hy:

Vua Khang Hy nhà Thanh dùng áp lực để ép các nước nhỏ láng giềng phải cắt tóc kiểu đuôi sam của dân tộc Mãn, điều này khiến vua Lê Hy Tông lúng túng không biết ra sao bèn sai sứ thần là Thám Hoa Nguyễn Đăng Cảo sang thương lượng. Nguyễn Đăng Cảo lập luận sắc bén khiến các quan lại Trung Hoa đuối lý đều đổ cho thiên tử Khang Hy, Nguyễn Đăng Cao bèn lập tờ trình dâng lên Hoàng Đế nhà Thanh và được gọi vào kiến giá. Tại sân rồng, vua Khang Hy đưa ra vế đối nói rằng nếu đối được sẽ bãi bỏ lệnh ấy.

vế ra là: Lão khuyển lạc mao, do hướng đình tiền thệ nguyệt (con chó già rụng hết lông còn hướng ra sân cắn bóng trăng)
Nguyễn Đăng Cảo đối: Tiểu oa đoản cảnh, mạn cư tỉnh đề khuy thiên (chú ếch nhỏ cổ ngắn, ngồi dưới đáy giếng dòm trời)
Vua Khang Hy biết sứ thần An Nam xỏ lá nói mình là ếch ngồi đáy giếng, nhưng vế đối liêm luật chặt chẽ không thể bắt bẻ được đành phải hạ lệnh bãi bỏ việc cắt tóc đuôi sam cho người Việt.

Nguyễn Đình Cổn (1652 - 1685)[sửa]

Nguyễn Đình Cổn hiệu Thuận Hiên, làng Bích Thị, xã Bích Triều, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An (nay là xã Thanh Giang, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An). Sau khi đỗ đạt, Nguyễn Đình Cổn được phong chức Đặc tiến gia phong đại phu - Thiêm đô ngự sử. Sau đó, ông còn được phong chức Đông các hiệu thư và Đông Triều Nam tước. Năm 1685, Nguyễn Đình Cổn được cử làm Chánh sứ tại Bắc Quốc. Tại đất khách quê người, ông ngã bệnh và ra đi khi tuổi đời còn rất trẻ. Và cái chết của ông là một ẩn số lịch sử gắn với nhiều giai thoại lưu truyền cho đến tận bây giờ. Người trong thôn lập miếu thờ ở vườn cũ và được rước vào thờ tại Văn miếu huyện, có đôi câu đối về ông rằng:

Tịnh nhị thập ngũ, quế chiết chi hương, hình đằng vũ miếu
Đương nhị thập ngũ, lực cường niên phú, dự quán tuấn mao

Tạm dịch:

Bính Thìn khoa quế đượm hương thơm, lừng danh miếu trụ
Hai lăm tuổi, sức dài, trí rộng, rạng đấng tu mi

Những câu đối liên quan đến Nguyễn Quỳnh, Nguyễn Nghiễm và Nguyễn Trọng[sửa]

  • Nguyễn Quỳnh có 5 vợ và 9 con, trong số 6 người con trai thì có 3 người con đậu đại khoa là Nguyễn Huệ, Nguyễn Nghiễm và Nguyễn Trọng. Năm 1762, sau khi nhận chức Tể tướng được bốn tháng, để tưởng nhớ công ơn cha mẹ. Nguyễn Nghiễm cùng em là Nguyễn Trọng và con cháu lập đàn tế, dựng bia đá tại khu vườn tưởng niệm của dòng họ. Hai bên khắc đôi câu đối:
Niệm thời truy nhật nguyệt
Truyền ngư tại giang sơn

Nghĩa là:

Tưởng niệm cha mẹ theo năm tháng
Còn giang sơn còn truyền tụng

Nguyễn Nghiễm tự Hy Di, tôn huý Thiều, hiệu Nghi Hiên, biệt hiệu Hồng Ngư cư sĩ, sinh tại làng Tiên Điền huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Năm 1731 đời Lê Duy Phường, ông đỗ Hoàng giáp. Nhờ công sách lập Trịnh Doanh, Nguyễn Nghiễm được thăng làm Tham chính Sơn Nam (1741). Năm 1767, Trịnh Doanh chết, Trịnh Sâm thăng ông làm Thái tử thái bảo, tước Xuân quận công, Đại tư không. Năm 1772, Trịnh Sâm mời ông ra làm Tể tướng, rồi Thượng thư bộ Hộ. Năm 1776, ông qua đời. Trịnh Sâm ban tên thụy cho ông là Trung Cần và truy phong Thượng đẳng phúc thần.

  • Câu đối do Đức Bảo - sứ nhà Thanh - tặng Nguyễn Nghiễm:
兩朝名宰相 Lưỡng triều danh Tể tướng (Hai triều làm tể tướng)
一世大儒師 Nhất thế đại Nho sư (Một đời danh đại nho)
Đức Bảo là sứ thần của vua Càn Long viết tặng Tể tướng Nguyễn Nghiễm vào trước tháng Chạp năm Tân Tỵ (1761) một ngày, đến đời Minh Mạng trùng tu Càn Long Tân Tỵ, Lạp tiền nhất nhật sách phong Chánh sứ Đức Bảo đề. Bên trái là: Minh Mệnh Giáp Ngọ… vọng phụng… ư Vĩnh Tường tân tu.
  • Đền thờ Xuân Quận công Nguyễn Nghiễm ở thôn Bảo Kệ (nay là thôn Minh Quang, xã Tiên Điền, huyện Nghi Xuân), câu đối đề tại đền thờ:
Ngư Hải tú chung anh khí tráng (Bến Ngư Hải có khí tốt chung đúc nên những con người khoẻ mạnh)
Hồng Sơn tuấn cực tướng môn cao (Núi Hồng cao sinh ra nhièu cửa tướng nên càng rất cao)
  • Câu đối khắc tại đền thờ Lam Khê Hầu Nguyễn Trọng (1710 - 1789):
Nga nga địa vọng sơn chi Bắc
Điểm điểm thiên tài đẩu dĩ Nam

Dịch nghĩa:

Địa vị nguy nga vùng phía Bắc
Thiên tài rạng rỡ Đẩu phương Nam
Nguyễn Trọng có tên tục là Kỳ, tự Thúc Hữu, là con thứ 3 của Lĩnh Nam công Nguyễn Quỳnh. Đậu cử nhân năm 1732, làm đến chức Thừa chính sự xứ Lạng Sơn, rồi Tham đốc Võ Huân tướng quân thần võ tứ vệ, được ban tước Lam Khê hầu. Năm 1771, ông rời chốn quan trường về nghỉ ở quê, sau đó mở lớp dạy học cho nhân dân trong vùng và làm nghề bốc thuôc bắc cứu người

Những câu đối liên quan đến Tể Tướng Nguyễn Huy Nhuận (1678 - 1758)[sửa]

Nguyễn Huy Nhuận tên tự là Quang Nhuận, sau đổi thành Huy Nhuận, người làng Phú Thị, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh (nay là Hà Nội). Đang làm Tả thị lang Bộ Binh, Ông được cử lên Tuyên Quang cùng với Tế tửu Quốc tử Giám Nguyễn Công Thái lăn lộn sơn lam chướng khí, đàm phán đòi lại 40 dặm đất biên giới do Nhà Thanh chiếm giữ, trong đó có khu vực mỏ đồng Tụ Long, lập mốc giới và dựng bia bên bờ Nam sông Đồ Chú. Làng Cổ Hiền, xã Hoàng Diệu, huyện Chương Mỹ, Hà Tây (nay là Hà Nội) thờ Nguyễn Huy Nhuận làm Thành hoàng. Nhà thờ họ Nguyễn Huy ở thôn Chi Nê, xã Trung Hoà, Chương Mỹ cũng thờ cúng Nguyễn Huy Nhuận. Câu đối thờ Cụ tại hai nơi nêu trên đều tuyên dương công trạng của Cụ trong việc đòi 40 dặm đất Mỏ đồng, Tụ Long – ven sông Đồ Chú về cho đất nước:

“Đồ Chú phân cương, vạn lý tư thù vương sự nghiệp
Cổ Hiền thực ấp, đài môn sủng thụ quốc ân long”

Theo sách "Kinh Bắc phong thổ ký diễn quốc sự" thì làng Phú Thị, đầu thời Nguyễn thuộc tổng Kim Sơn, huyện Gia Lâm, phủ Thuận An - xứ Kinh Bắc lưu truyền câu đối sau:

"Nhất môn tam Tiến sĩ
Đồng triều tứ thượng thư"
"Nhất môn tam Tiến sĩ", một nhà ba Tiến sĩ vừa có ý chỉ ba bố con - ông cháu Nguyễn Huy Nhuận - Huy Dận - Huy Cận, lại có ý chỉ ba anh em con chú con bác Huy Nhuận - Huy Mãn - Huy Thuật. "Đồng triều tứ Thượng thư" là nói về nội dung trong cùng một giai đoạn lịch sử 1735 - 1740, trong Triều có lục bộ thì làng Phú Thị có đến bốn Thượng thư là Nguyễn Huy Nhuận, Đoàn Bá Dung, Cao Dương Trạc và Trịnh Bá Tướng. Trong đó, nổi bật hơn cả là Nguyễn Huy Nhuận, đỗ đại khoa đầu tiên ở trong vùng, được coi là "Ông Tổ" của các ông Nghè, Tiến sĩ nho học xứ Thuận An - Kinh Bắc.

Lê Hữu Kiều (1691 - 1760)[sửa]

Lê Hữu Kiều người làng Liêu Xá, huyện Đường Hào, nay là huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên. Lê Hữu Kiều làm quan cho nhà Lê trung hưng hơn 50 năm, dưới 5 đời vua (Lê Dụ Tông, Lê Duy Phường, Lê Thuần Tông, Lê Ý Tông và Lê Hiển Tông) và 4 đời chúa (Trịnh Căn, Trịnh Cương, Trịnh Giang và Trịnh Doanh). Ông thọ 70 tuổi, được truy tặng làm Thiếu phó, tước quận công. Năm 1755, ông nghỉ hưu khi đã 65 tuổi. Lê Hữu Kiều được vua Lê Hiển Tông ban cho câu đối vào lá cờ thêu:

Tại triều tại quận kiêm văn vũ
Vu quốc vu gia hiếu tố trung

Nghĩa là:

Khi ở triều, khi tại quận, tài kiêm văn võ
Với nước với nhà lấy hiếu làm trung

và:

Ốc ưu quốc sủng cung tam mệnh
Thanh bạch gia phong mỹ tứ tri

Nghĩa là:

Ơn nước dồi dào được làm Tể tướng 3 lần
Nếp nhà thanh bạch như Dương Chấn

Nguyễn Đình Huấn[sửa]

Nguyễn Đình Huấn người thời vua Lê Chúa Trịnh người làng Yên Thường, huyện Đông Ngàn (nay thuộc Bắc Ninh). Địa danh thôn Yên Thị, xã Yên Thường, huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn (nay là thôn Yên Thường, xã Yên Thường, huyện Gia Lâm, Hà Nội) đã được sử sách ghi lại và mãi mãi gắn liền với vị tướng lĩnh tài ba Nguyễn Đình Huấn. Đền thờ Nguyễn Đình Huấn còn lưu giữ 5 câu đối khắc trên cột đá như sau:

“Đức ư nhân tiên bất hủ chi tam quy quy phong bi trưng vĩnh cửu
Công duy tự dữ võng đồng nhi nhất đường đường chuyên miếu chí tôn thân”

Nghĩa:

Đức trước của tiền nhân bất hủ, ba mối quy về trong văn bia vĩnh cửu
Công lao thờ cúng nối dõi cùng một nhà miếu thờ hiển tôn thân
“Đoái thuyết táp biền mông cảm ứng phỉ tư nhân nhĩ mục
Tụy hanh quang thỏa hựu chiêu huân hữu cách thế tinh thần”

Nghĩa:

Nói về việc lớn lao cảm động tới người tai mắt
Vinh quang một thuở chiếu soi có cách với tinh thần
“Khoán thư sự nghiệp sơn hà thọ
Trở đậu quy mô đống cán long”

Nghĩa:

Sự nghiệp ghi trong sách thọ ngang sông núi;
Thờ cúng được quy mô giường cột vững).
“Vô dịch đồng nhân hàm nhuận viễn
Bất thiên dịch thế khái đơn tân”

Nghĩa:

Không những mọi người mưa móc khắp;
Các đời chẳng chuyển vững thềm son).
“Bách thế phong du đường đổ bạt
Vạn gia trung tín tảo đăng khuông”

Nghĩa:

Trăm đời khí phách đường tiết nghĩa
Muôn nhà trung tín tiến lễ phụng theo

Câu đối và giai thoại về bảng nhãn Hà Tông Huân (1697 - 1766)[sửa]

Hà Tông Huân quê ở Núi Vàng, làng Kim Vực (xã Yên Thịnh, huyện Thiệu Yên, Thanh Hóa ngày nay). Từ nhỏ đã được mọi người mệnh danh là "Thần dồng Kim Vực" vì thán phục trí nhớ siêu việt của ông. Đến tuổi niên thiếu, sau khi đã hấp thụ hết kiến thức của vị thầy đồ trong làng, Huân tìm đến thầy Trần Ân Chiêm, tục gọi quan Nghè Bón (vì ở làng Châu Bội hay làng Bón), sống tai xã Vĩnh Tường xin thụ giáo. Khoa thi năm Mậu Tuất (1718), Hà Tông Huân đỗ đầu kỳ sĩ Vọng Khoa thi Đình năm Giáp Thìn (1724) niên hiệu Bảo Thái thứ 5 đời vua Lê Dụ Tông, ông đỗ Bảng Nhãn. Vì khoa đó không chấm ai Trạng Nguyên, Thám Hoa cũng không, nên mình ông đỗ cao nhất nước. Đỉnh cao sự nghiệp đến khi ông đương nhiệm chức Thượng Thư rồi Tể Tướng đầu triều. Sau khi ông mất, nhân dân lập đền thờ, tài đức ông được ca tụng qua hai câu đối:

"Sự nghiệp Tam Khôi trưng thần mộng
Nhất đẳng văn chương kết chủ tri"

Nghĩa là:

"Sự nghiệp Tam Khôi thần báo trước
Văn chương bậc nhất được vua khen"

Giai thoại 1: Tả cây cau

Bản tánh năng động, tò mò thích tìm hiểu, ko chịu gò mình theo lề lối khuôn phép giáo dục xưa (dạy gì biết nấy, không được phản bác, phải tuân theo mẫu mực giáo huấn) khiến cậu thường bị khiển trách . Một lần bố phạt, trói vào gốc cau trong vườn cả buổi không cho chạy nhảy chơi đùa cùng chúng bạn . Cậu khổ sở cảnh bó buộc, xin bố tha cho ...Bố chỉ cây cau, ra điều kiện nếu cậu đặt được câu đối hay mới cởi trói cho . Huân ứng khẩu đọc ngay:

"Lưng đeo đai bạc bao trăm nén,
Đầu đội tàn xanh biết mấy tầng".
Câu đối đã tả thực hình dáng cây cau, giữa thân xòe ra một mo ôm lấy buồng cau hàng trăm trái, trên là những tàu lá xòe tròn như cái lọng. Nghĩa bóng còn hay hơn, khẩu khí chứng tỏ cậu nuôi chí lớn, mộng thi đỗ Trạng Nguyên, Bảng Nhãn mới được vua ban cho "Đai bạc", Lọng xanh. Bố thấy cậu có chí khí, giỏi văn chương, lòng mừng thầm nên mới tha cho.

Giai thoại 2: Đối đáp với Thầy nghè

Thủa Hà Tông Huân cùng Trịnh Đồng Giai và Đỗ Huy Kỳ tìm sang làng Bón xin thụ giáo quan Nghè, đến đầu làng, thấy có người ngồi nghỉ dưới gốc đa, bèn vái chào mà hỏi thăm nhà quan Nghè . Người nọ đáp: "Tôi ra vế đối, nếu các cậu đối được, tôi dẫn tận nhà quan, khỏi chỉ đường lôi thôi, đoạn đọc:

"Đi đường đất thịt trơn như mỡ".
Quả thật, trời vừa mưa xong, đường làng trơn ướt, là cảnh tượng ngay trước mắt... Giai, Kỳ còn đang suy nghĩ thì Huân đã đối:
"Ngồi tựa gốc đa mát thấu xương".
Câu đối chọi chữ chọi ý tài tình : Da (cây đa cũng là cây da) với xương chọi lại thịt với mỡ. Lại dùng thành ngữ "Mát thấu xương" đối với thành ngữ "Trơn như mỡ" tưởng không còn vế đối nào hay hơn được.

Người kia vụt đứng bật dậy, khen mãi: "Giỏi ! Giỏi ! ..." RỒi cười ha hả nhận dẫn đường cho ba cậu học trò. Đến nơi Huân, Giai, Kỳ mới biết: Quan Nghè Bón chính là ông ta chứ chẳng ai khác!

Lần nọ, thầy trò cùng nhau ra sông tắm mát, thầy mắc áo dài trên cành cổ thụ mọc bờ sông, tức cảnh sinh vế đối :

"Bách niên cổ thụ vi ý giá" (nghĩa là cây cổ thụ trăm năm dùng làm giá treo áo)
Huân đối: "Vạn lý trường giang tác dục bồn" (con sông dài muôn dặm làm cái chậu tắm)
Thầy lấy làm hài lòng lẫn khâm phục, vì câu đáp của cậu luôn ẩn chứa chí lớn hơn hẳn vế đối ra

Giai thoại 3: đối đáp với Nhạc phụ đại nhân

Một hôm, bố vợ ông sai người đi tìm, khi về ngang qua ruộng nhà thì thấy bố vợ và mấy người con trai đang làm lụng rất vất vả. Bố vợ giơ đòn lên, toan nện cho ông một trận, nhưng rồi lại không nỡ, bèn ra cho một vế đối, bảo phải lấy việc trước mắt mà đối, đối được mới tha cho. Bố vợ ông ra vế đối như sau:

Học bác tài xa dự nhập tứ môn chi tuyển (Học rộng tài cao, dự cả bốn kỳ thi tuyển)
Vế đối này rất hiểm hóc. Hiểu theo âm Nôm thì lại có nghĩa là học đòi cờ bạc, phung phí tiền tài, gồm đủ bốn nết xấu: rượu chè, cờ bạc, trai gái và hút xách, người đời cũng gọi đó là tứ đổ tường. Nhưng nếu hiểu theo âm Hán Việt thì lại có nghĩa là đỗ đạt, bởi vì các khoa thi xưa gồm bốn kỳ làm bài. Dự đủ bốn kỳ thì không đỗ cao cũng đỗ thấp.
Ông đối lại rằng: Phụ canh tử nậu, kỳ thu bách mẫu chi công (Cha cày con bừa nên thu công cả trăm mẫu)
Lời đối tuy không sắc sảo nhưng bố vợ nghe thế cũng yên lòng. Về sau, đến khoa Giáp Thìn, ông đỗ Bảng nhãn. Vốn dĩ bố vợ ông cũng từng đi dạy học ở nhiều nơi nên thường khoe rằng, học trò của mình có nhiều người tài. Ông nghe thế liền làm một câu đối, đợi đến đêm thì lén viết vào cánh cổng nhà bố vợ để bỡn cợt.

Câu đối ấy như sau:

Lễ bất văn vãng giáo, Dương khai thiết giáo chi trường
Sĩ hữu thời vi bần, Liêu tác cứu bần chi kế

Nghĩa đại để là:

Chưa từng nghe kinh Lễ bảo phải đến nơi mà dạy, Sao đành mở trường ở nơi xa
Kẻ sĩ có lúc phải nghèo, Đành tìm kế cứu cái nghèo đã
Bố vợ xem thấy hai câu có vẻ chế giễu, đoán biết là của chàng rể quý nên bỏ qua, không hỏi tới nữa”. Đã nghèo, phải nương cậy ở gia đình bên vợ, vậy mà còn nỡ ham mê cờ bạc, bỏ nhà đi những mấy ngày, bỏ việc mặc cho bố vợ và gia đình vợ toan tính... thế thì chẳng còn cách gọi nào khác hơn mấy chữ: đại hư, chí hư, thậm hư! Bố vợ vừa giơ đòn lên lại vội hạ ngay đòn xuống, dừng tay để ra vế đối cho mà đối... thế thì phải gọi ngay rằng cụ là bậc chí nhân. Vế đối của bố vợ hay và hiểm bao nhiêu thì lời đối của con rể tầm thường bấy nhiêu. Tuy nhiên, cũng có thể bỏ qua sự kém cỏi này, bởi vì lúc suýt bị đòn mà phải làm câu đối, dễ gì! Còn như việc chế giễu bố vợ thì thật khó mà tha thứ được. Đức thì mỏng, lễ thì kém, văn chương viết chưa ra hồn... thương hại thay! Bố vợ biết mà vẫn bỏ qua không hỏi, bởi vì ở đời, chỉ có người tầm thường mới chấp nhặt sự tầm thường thôi. Có phải là bất cứ lúc nào, không nói cũng vì không biết đâu. Hình như ai cũng có một thời dại dột, thậm chí còn làm cả những việc điên rồ. Thời trai trẻ, Bảng nhãn Hà Tông Huân cũng không có gì khác với sự thường thấy này. Tuy nhiên, điều đáng nói là sau đó, Hà Tông Huân đã vượt lên, trở thành một bậc anh tài xuất chúng, thành nhà đạo đức đáng kính, thành đấng giúp vua trị nước có nhiều công lao. Điều quan trọng của mỗi cuộc đời không phải là quá khứ của họ như thế nào mà là ở chỗ cuối cùng họ là người ra sao. Nhớ lỗi nhỏ của một bậc đại đức, ấy cũng có nghĩa là ta đang tự bào chữa vụng về cho sự kém cõi hiện thời của ta, vực thẳm của sự thảm hại đang chờ ta trước mặt. Suy ngẫm để noi theo dẫu là một chi tiết cỏn con trong muôn vàn sự tốt đẹp của các thế hệ tiền bối, ấy có nghĩa là ta có thể yên tâm về ta, sự yên lành đang chờ ta phía trước. Hà Tông Huân sở dĩ là Hà Tông Huân, bởi vì ông may mắn có một vị bố vợ như trong chuyện. Hóa ra, mọi khúc gỗ đều có thể thành bức tượng đẹp, nếu chịu sự đẽo gọt của nhà điêu khắc lành nghề.

Và lại một lần, ông bố vợ đến thăm phòng ở của hai vợ chồng Hà Tông Huân thấy Huân đang nằm trên giường bên cạnh người vợ đang khâu vá, ông đọc câu đối nôm có ý trách:

Giường ngọc sao nương mình đức Khổng?
Câu ra là lấy ý ở sách Luận ngữ. Tại sao bậc thánh nhân như Khổng Tử lại quên việc học thuật mà đam mê nữ sắc?
Hà Tông Huân đối lại: Gối ngà đang giở mộng ông Chu
Câu đối cũng lấy ý của Khổng Tử đã có lần tự nói rằng ông nằm mơ đến Chu Công là người có tài kinh bang tế thế đời xưa. Ý Hà Tông Huân tự ví mình với người trước, vẫn ôm ấp hoài bão lớn.

Những câu đối ca ngợi Đỗ Đạo Uyên (1702 - 1793)[sửa]

Đỗ Đạo Uyên sinh ở Đại Mão (Hoài Thượng - Thuận Thành - Bắc Ninh), hồi nhỏ có tên là Nhân Cơ, khi đi thi phải đổi tên là Trọng Cơ vì kiêng huý nhà vua. Năm 1759, làm Tri huyện Tiên Du, về sau làm đến chức Viên ngoại lang Ty thanh lại bộ Hình. Trong thời gian gần mười năm ở Tiên Du, ông luôn chú trọng phát triển sự nghiệp giáo dục, bản thân cũng trực tiếp giảng dạy, lấy đó đề cao giáo lí lễ nghĩa cho dân địa phương, do đó trong thời gian cụ cai trị trong huyện bình an vô sự. Sau khi ông mất, dân địa phương lập đền thờ cụ ở trên núi Hiên Ngang, gần nơi huyện đường. Danh sĩ hàng huyện có câu đối đề ở đền ca ngợi:

Nhất phiến đạo tâm khê noãn nguyệt
Bách niên phong vận thạch minh cầm

Tạm dịch:

Một lòng theo đạo sáng như trăng soi mặt suối
Trăm năm tục thuần vui tựa đàn gảy núi cao

Câu đối trên của Hồng lô Tri huyện Nguyễn Vĩ

Nam Đường di ái nhưng tồn cổ
Bắc Đẩu dư huy thặng chiếu kim

Tạm dịch:

Ưu ái Nam Đường xưa để lại
Ánh sao Bắc Đẩu vẫn ngời soi

Câu đối trên của Giải nguyên Tri huyện Vương Đình Chiểu

Câu đối khắc trong từ đường Hoàng Công Chất (1706 - 1768)[sửa]

Hoàng Công Chất sinh tại làng Hoàng Xá, năm 1739 ông dựng cờ nghĩa, chống lại triều đình vua Lê, chúa Trịnh. Hoàng Công Chất đã trở thành thủ lĩnh của người Thái và cũng từ đó thắt chặt tình đoàn kết, gắn bó của người Thái trắng với người Thái Bình. Địa bàn hoạt động là vùng Tây Bắc, Thượng Lào. Trong vòng 30 năm, nghĩa quân thu phục lòng người trấn Sơn Nam, cùng hiệp sức tấn công tiêu diệt quân phỉ, đuổi tàn quân của chúng dạt sang Lào. Khi ông mất, đồng bào Thái đã lập đền thờ Hoàng Công Chất tại Điện Biên để ghi nhớ công ơn của người thủ lĩnh nông dân áo vải. Từ đường Hoàng Công Chất tại thôn Hoàng Xá, xã Nguyên Xá HIỆN có ghi đôi câu đối NỘI DUNG NHƯ SAU:

Đức tổ quang vinh hương vạn cổ
Từ môn hiển hách tráng thiên thu

Mạc Thiên Tích (1708 - 1780)[sửa]

Mạc Thiên Tứ tự là Sĩ Lân còn gọi là Mạc Thiên Tích, ông nối nghiệp cha là Tổng binh Mạc Cửu mở mang đất Hà Tiên, được chúa Nguyễn Phúc Trú phong chức Tổng binh Đại đô đốc. Ông tiếp tục sự nghiệp khai khẩn miền Tây Nam Bộ, biến vùng đất Hà Tiên trở thành đất văn hiến, phồn vinh, nhiều lần chống trả lại các cuộc tấn công của các lân bang Xiêm La và Chân Lạp. Năm 1771, Tây Sơn đánh đuổi họ Nguyễn, Mạc Thiên Tích đem con của Nguyễn Phúc Ánh chạy trốn sang Xiêm. Nhưng triều đình nước này đã không đón tiếp họ một cách niềm nở cho lắm. Cuối cùng, để giữ lòng trung thành với chúa Nguyễn Nam Hà, Mạc Thiên Tích đã nuốt vàng tự tử. Nay ở đền thờ Mạc Thiên Tích tại Hà Tiên, nơi gọi là Mạc Công miếu vẫn còn đôi câu đối ca ngợi ông:

Địa tịch hùng phiên tăng biệt bản
Kim thôn anh khí điện Xiêm thành

Tạm dịch:

Dựng trấn nên công mở mang đất Việt
Nuốt vàng tỏ chí rung động thành Xiêm

Dưới chân Bình San là đền thờ họ Mạc (còn được gọi là Trung Nghĩa từ, dân địa phương còn gọi là Miễu Ông Lịnh. Ở cổng đền thờ có hai câu liễn đối bằng chữ Hán do nhà Nguyễn ban tặng:

“Nhất môn trung nghĩa gia thinh trọng (Một nhà trung nghĩa, danh thơm cả họ)
Thất diệp phiên hàn quốc lũng vinh” (Bảy lá giậu che, cả nước mến yêu)

Câu đối liên quan đến Thám hoa Phan Kính (1715 - 1761)[sửa]

Phan Kính tự là Dĩ Trực, hiệu Tĩnh Trai, sinh tại thôn Vĩnh Gia, xã Lai Thạch, huyện La Sơn, trấn Nghệ An (nay là xã Song Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh). Năm Nhâm Dần (1722), xã Lai Thạch có kì thi khảo sát, Phan Kính dù chưa đủ tuổi nhưng vẫn xin Ban giám khảo được dự thi, hôm yết bảng công bố kết quả thì Phan Kính được đứng thứ nhất. Trong bài thi Kính đã làm bài thơ thất ngôn ca ngợi thời Đường Ngu, trong đó có câu: “Đệ nhất hoa huân tham hoán tưởng, khả tam sự nghiệp đốc tư duy”. Nghĩa là: "Nhất lập huân công lòng nổi dậy, ba kỳ sự nghiệp chí vươn lên". Từ năm 1744, Phan Kính từng đảm nhiệm nhiều chức vụ: Giám sinh ở Quốc Tử giám, Đốc đồng trấn Sơn Tây, Đốc đồng xứ Thanh Hóa, Thư đốc thị Nghệ An, Đốc đồng xứ Tuyên Quang, Kinh lược sứ, Tham mưu nhung vũ. Vua Càn Long nhà Thanh trọng tài đức của Phan Kính đã gia phong cho ông là “Lưỡng quốc đình nguyên Thám hoa” ban tặng ông một cái áo cẩm bào vương triều, một bức trướng có ghi dòng chữ: "Thiên triều đặc tứ, Bắc Đẩu dị nam, nhất nhân nhi dĩ" (Thiên triều đặc cách, phía nam Bắc Đẩu, chỉ một người thôi). Khi ông qua đời, vua Lê Hiển Tông và Minh đô Vương Trịnh Doanh thương tiếc tự tay đề câu đối phúng viếng:

"Lưỡng đồ văn hữu vũ
Vạn lý hiểm vy di"

Dịch nghĩa:

Hai đường kiêm văn võ
Vạn dặm hiểm lại bình

Câu đối khắc ở ngôi nhà Quan Đốc Học Đỗ Doãn Chính[sửa]

Ngôi nhà 300 năm của quan Đốc học ở làng Đường Lâm - Sơn Tây - Hà Nội có bậc cửa rất cao thể hiện địa vị của quan Đốc học Đỗ Doãn Chính, đồng thời như lời nhắc khách tới nhà cúi đầu tôn kính gia chủ. Ngoài làm quan, cụ Đỗ Doãn Chính còn là một nhà nho giáo nổi tiếng. Trong nhà còn lưu giữ đôi câu đối được cụ Đỗ Doãn Chính chấp bút từ đầu triều Nguyễn, nay theo thời gian bị mối mọt. Người nhà đã đóng kính câu đối và treo giữa nhà cho khách chiêm ngưỡng:

治家有道惟從古
處世無奇但率真
"Trị gia hữu đạo duy tòng cổ
Xử thế vô kỳ đãn soái chân"

Ý Nôm na:

Trị gia (lo việc trong nhà) có phép (có đạo) duy chỉ theo nếp xưa
Xử thế chẳng có gì khác ngoài sự thẳng thắn và chân thành

Lời câu đối cũng là lời nhắn nhủ: Lo việc trong nhà phải có phép có đạo, chớ ruồng nếp xưa, và hãy chân thành thẳng thắn khi đối nhân xử thế, đến bây giờ lại thấy càng cần lắm thay.

Câu đối khắc ở nhà thờ La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp (1723 - 1804)[sửa]

Nguyễn Thiếp vốn có tên húy là Minh, tự là Quang Thiếp, sau đổi là Thiếp. Ngoài ra, ông còn có rất nhiều tên tự hay tên hiệu, hoặc do ông tự đặt, hoặc do người đương thời xưng tặng, chẳng hạn như: Khải Xuyên, Hạnh Am, Điên ẩn, Cuồng ẩn, Lạp Phong cư sĩ, Hầu Lục Niên… Riêng Nguyễn Huệ (tức vua Quang Trung) gọi ông là La Sơn phu tử, là La Sơn tiên sinh. Cảm kích trước tài năng, đức độ của Nguyễn Thiếp, khi ông mất nhân dân đã lập đền thờ ông ở xã Kim Lộc (Can Lộc, Hà Tĩnh), hằng năm người dân địa phương và vùng lân cận đều về đây để dâng nén hương tưởng nhớ tới danh sĩ. Sau ngày đỗ đại khoa (Tiến sỹ - 1898) Nguyễn Văn Trình có đến nhà thờ Nguyễn Thiếp cúng tặng câu đối:

六 年 夫 子 興 中 國
三 世 曾 孫 拜 外 家
Lục Niên phu tử hưng trung quốc
Tam thế tằng tôn bái ngoại gia

Phỏng dịch:

Phu tử Lục Niên chấn hưng đất nước
Cháu chắt sáu đời kính bái ngoại gia

Lý Trần Quán (1735 - 1785)[sửa]

Lý Trần Quán người làng Vân Canh, huyện Từ Liêm (Hà Đông), đỗ Đồng Tiến sĩ khoa Bính Tuất (1766) đời Cảnh Hưng. Lý Trần Quán đã từng đảm nhiệm các chức vụ: hiến sát sứ Hải Dương, đốc đồng tỉnh Cao Bằng, hiệp trấn tỉnh Sơn Tây, sau cùng là đông các đại học sĩ Quốc tử Giám tu nghiệp. Ông đã tự chôn sống mình để trả giá cho sự sai lầm là quá tin học trò, đến nỗi trao chúa vào tay quân phản bội, đó là tháng 7 năm 1786, lúc đó ông đang ở làng Hạ Lôi (Yên Lãng). Trước lúc bước vào áo quan để cho người ta lấp đất, ông đọc:

Tam niên chi hiếu dĩ hoà
Thập phần chi trung vị tân

Tạm dịch:

Hiếu ba năm đã trọn
Trung mười phần chưa xong

Tương truyền, chỉ hơn một năm trước khi Lý Trần Quán về cõi vĩnh hằng, ông đã viết một bài tán đối cung tiến vào đền thờ Lý Phục Man, một anh hùng hào kiệt của dân tộc dưới triều Tiền Lý (541-545) ở hương Cổ Sở (nay thuộc xã Yên Sở, huyện Hoài Đức thành phố Hà Nội). Bài văn viết theo thể phú biền ngẫu, dạng phú đối; mỗi vế một trăm chữ, nhằm ca ngợi công lao sự nghiệp của vị thần chủ Lý Phục Man. Các nho sĩ bình dân trong vùng xưa nay vẫn gọi đây là đôi câu tán đối. Bài tán này đã được thêu chữ bằng chỉ vàng, trên nền vải lụa đỏ chia thành hai tấm, treo cân đối hai bên. Theo các cụ trong làng cho biết thì đôi câu đối này là do hội đồng niên Nhâm Thìn (1952), xã Yên Sở mới phục chế lại như nguyên dạng. Toàn bộ nội dung hai bài thể hiện hai vế đối như sau:

  • Vế I:
出文入武艇全才
軒昴氣宇勤王
于唐林于九德
蘩可舒錯可解
尋鼎勤崇勳
洿喔脊荷龍知
名姓稠膺寵錫
閫庭後庙庭重席矬
斗台儼若儀型
以多年方略
運此日經綸
玉燭光回四海
夷攻嶺掠珪璋
越幽華袞
遺書種種儘榮褒
三生偉烈英猷
南國乾坤在
Xuất văn nhập vũ đỉnh toàn tài.
Hiên ngang khí vũ cần vương.
Vu đ­ường lâm vu cửu đức.
Phiền khả th­­­ư thác khả giải.
Tầm đình cần sùng huân.
Ô ốc tích hà long tri.
Danh tính trù ưng sủng tích.
Khổn đình hậu miếu đình trùng tịch toạ.
Đầu thai nhiễm nh­­ược nghi hình.
Dĩ đá niên ph­ương lược.
Vận thử nhật kinh l­uân.
Ngọc chúc quang hồi tứ hải.
Di công lĩnh lược khuê ch­ương.
Việt u hoa cổn.
Di thư chủng chủng tận vinh bao.
Tam sinh vĩ liệt anh du.
Nam quốc càn khôn tại.
  • Vế II:
流水峙山鍾睡氣
赫奕威風顯聖
于李代于陳朝
夢其接神其凝
冕旒垂睿鑑
創叢祠粧寶像
歲匙丕享薦誠
香火餘兵火幾番更
旄鉞猶然聳慴
卒土擾攘
奠生宗作息
萶臺剩占壹區
故怙禽調哥管
樹隱旌旗
古所般都著見
萬祀駿聲馨號
西天日月長
Lư­u thuý trĩ sơn chung thụy khí.
Hách dịch oai phong hiển thánh.
Vu lý đại vu trần triều.
Mộng kỳ tiếp thần kỳ ng­­ưng.
Miện l­ưu thuỳ duệ giám.
Sáng tùng từ trang bảo tượng.
Tuế thời phi hưởng tiến thành.
H­ương hỏa d­­ư binh hỏa cơ phiên cánh.
Mao việt do nhiên tủng triếp.­
Tốt thổ nhiễu nhương.
Điện sinh tông tác tức.
Xuân đài thặng chiếm nhất khu.
Cố hỗ cầm điều ca quản. thụ ấn tinh kỳ.
Cổ sở ban ban đô trứ kiến.
Vạn tự tuấn thanh hinh hiệu.
Tây thiên nhật nguyệt trư­ờng.

Tạm dịch vế 1:

Ra là tướng văn,
Vào là tướng võ.
Vư­­ợt trên mọi nhân tài đất nước,
Phò vua khí vũ hiên ngang.
Khi lên Đư­­­ờng Lâm
Lúc qua Cửu Đức
Khi thắng trận không hề bỏ lỡ,
Lúc gian truân bình tĩnh gỡ ra.
Tìm kiếm hiền tài gian khổ xông pha,
Nơi thôn dã mừng vui vua biết tiếng
Mến tài nhiều trận lừng danh,
D­ưới sân quân ngũ chỉnh tề.
Dáng nhị đẩu tam thai nh­­­ư in hình khuân mẫu.
Ba năm đánh Bắc, dẹp Nam rõ tài thao lược.
Xoay vần thời cuộc, sắp đặt mối rư­­­ờng,
Như­­­ ngọn đuốc quý sáng trư­­ng bốn biển.
Bọn giặc đến xục tìm mọi chỗ,
Lên núi xuống sông bòn đãi ngọc Khuê Chư­ơng
Giang sơn lại một lần u uất,
Đã nước mất nhà tan thì hoa cổn còn đâu.
Sách tuy mất, lòng ng­ười không mất,
Vẫn nhớ ghi công trạng muôn đời.
Kiếp ngư­ời oanh liệt sáng ngời.
Sống cùng trời đất, đời đời nước Nam.

Tạm dịch vế 2:

Ì ầm nước chảy
Sừng sững núi cao
Đã hun đúc nên điềm lành khí tốt.
Hiển thánh uy phong lẫm liệt.
Lúc ở thời Lý
Khi qua triều Trần
Lúc báo mộng liên tiếp mấy triều
Khi biến hoá tụ về một điểm.
Mũ miện rủ che gư­ơng soi sáng toả,
Chốn âm u có miếu đẹp t­ượng t­ươi.
Bốn mùa lễ bái kính thành,
Hư­ơng khói quanh năm không dứt.
Có cờ mao phủ việt làm bao lũ khiếp kinh.
Mảnh đất thiêng đâu có chỗ dung thân đạo tặc
Định yên cuộc sống, tạo lập cư­­­ dân,
Đời hạnh phúc đã dành riêng khu vực.
Đàn chim đến nhờ xây tổ ấm,
Ríu rít mừng vui hoà tiếng sáo lời ca.
Cây cao toả bóng mát rợp che,
Để hội làng giải cờ tung bay cùng tán lá.
Dòng giống đúng quê làng Cổ Sở
Cả một vùng đều rõ đều tin.
Muôn năm danh tiếng còn in,
Sáng cùng nhật nguyệt nêu tên xứ Đoài

Phạm Đình Trọng và Nguyễn Hữu Cầu[sửa]

Phạm Đình Trọng là danh tướng đời Lê - Trịnh. Quê: Khinh Dao, huyện Giáp Sơn, phủ Kinh Môn, trấn Hải Dương (nay là huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương). Đỗ Tiến sĩ 1739, làm phó đô ngự sử, vào Phủ chúa làm Bồi tụng, sau chuyển làm Thống lĩnh quân, đánh dẹp cuộc khởi nghĩa Nguyễn Hữu Cầu ở Hải Dương, Kinh Bắc và Nghệ An. Đầu 1751, bắt được Nguyễn Hữu Cầu đưa ra Thăng Long, được thăng làm thượng thư Bộ Binh, tước Hải quận công. Sau làm trấn thủ Nghệ An. Ông mất tại trấn sở. Triều đình truy tặng tước Đại vương.

  • Thuở nhỏ Nguyễn Hữu Cầu và Phạm Ðình Trọng cùng học với nhau một trường. Trọng thường được thầy khen nhưng riêng Cầu thì vẫn không phục Trọng. Một hôm thầy đi đám, cho Cầu và Trọng cùng theo. Lúc về, nhà đám biếu thầy một cái thủ lợn, Cầu và Trọng tị nạnh nhau mãi không ai chịu xách. Thầy thấy vậy, ra một câu đối bảo hễ ai đối hay thì miễn xách.
Thầy đọc: Huề trư thủ (nghĩa là "Xách đầu lợn")
Trọng đối lại: Phan long lân (nghĩa là "Vin vẩy rồng")
Còn Cầu thì đối: Phá Tần diệt Sở
Thầy gõ vào đầu Nguyễn Hữu Cầu một giáo quạt, chê câu ấy chẳng đâu vào đâu cả, mà lại thừa chữ. Rồi thầy bắt Cầu phải xách thủ lợn. Nhưng Cầu vẫn gân cổ cãi: "Tôi đối sai thật, nhưng ý tôi là muốn bóc vẩy rồng kia, chứ không thèm vin vẩy rồng như thằng Trọng".
  • Một hôm khác, thầy lại ra một câu đối: Mười rằm trăng náu, mười sáu trăng treo
Trọng đối rằng: Tháng giêng rét dài, tháng hai rét lộc
Còn Cầu thì đối là: Tháng mười sấm rạp, tháng chạp sấm động
Thầy nghe xong bảo: "Thằng Trọng có khẩu khí làm quan to, còn thằng Cầu thì chỉ làm giặc!". Rồi sau đó, ông thầy sợ không nhận dạy Cầu nữa. Trước lúc ra về, Trọng bảo Cầu: "Tao sẽ cầm quân tiêu diệt mày!" Cầu đáp: "Nếu tao làm giặc thì tao sẽ đánh tan những đứa ra luồn vào cúi!"
  • Khi Cầu đã theo học ông thầy khác, một hôm nhà có việc phải mổ bò thết khách, nhân đó ra cho học trò câu đối rằng: Tề hoàng ngưu (nghĩa là "Giết bò vàng")
Cầu nhanh nhẩu đối ngay: Trảm bạch xà (nghĩa là "Chém rắn trắng")
Thầy lắc đầu bảo đối sai luật. Cầu đáp: "Tôi chỉ cốt lấy ý chứ không cần luật. Vả lại "giết bò vàng" đối với "chém rắn trắng" mà không đúng luật à?" Thầy khen: "Thế thì mày có chí lớn đấy! Cố lên con ạ!" Sau đó, Cầu bỏ văn theo học nghề võ. Khoảng năm 1731, Cầu tham gia phong trào nông dân khởi nghĩa do Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ lãnh đạo, được Cừ hết sức yêu mến và gả con gái cho.
  • Nguyễn Hữu Cầu là người xã Lôi Động, huyện Thanh Hà, Hải Dương, Việt Nam. Nguyễn Hữu Cầu bơi lội rất giỏi nên được gọi là quận He, từ tên một loài cá ở biển Đông. Hữu Cầu vì nhà nghèo nên đi làm cướp, sau theo Nguyễn Cừ khởi nghĩa, được Cừ yêu quý gả con gái cho. Chẳng bao lâu ông nổi tiếng là một viên tướng giỏi võ nghệ, dũng cảm gan dạ và nhiều mưu lược làm cho triều đình ở Thăng Long kinh hoàng, lo lắng. Chúa Trịnh Doanh sai Hoàng Ngũ Phúc, Phạm Đình Trọng đánh. Phạm Đình Trọng là bạn học với Nguyễn Hữu Cầu nhưng hai người có thù với nhau. Khi ra trận, Trọng đưa vế đối:
Thổ triệt bán hoành, thuận giả thượng, nghịch giả hạ (Chữ “thổ 土” bỏ nửa nét ngang, để xuôi là chữ “thượng 上”, để ngược là chữ “hạ 下”) Ý Phạm Đình Trọng nói rằng: anh chỉ là đất, nếu hàng thì sẽ được thăng quan tước, mà chống lại thì sẽ bị hạ ngục.
Nguyễn Hữu Cầu đối: Ngọc tàng nhất điểm, xuất vi chúa, nhập vi vương (Chữ “ngọc 玉” có một dấu chấm, đưa ra thì thành chữ “chúa 主”, dấu đi thì thành chữ “vương 王”) Ý Nguyễn Hữu Cầu nói: tôi là ngọc chứ không phải là đất như anh, tôi chỉ hoặc làm chúa, hoặc làm vua thôi chứ đâu thèm làm quan.
Trọng dọa Cầu, thuận thì sống, nghịch thì chết. Cầu chẳng sợ, tỏ cái chí muốn làm vua làm chúa của mình. Năm 1751, Phạm Đình Trọng đem quân vào đánh phá trại. Hữu Cầu chạy đến làng Hoàng Mai thì bị bắt, đóng cũi đem về nộp chúa Trịnh. Trịnh Doanh , cùng lúc đó dẹp được Nguyễn Danh Phương, bắt mang về Kinh đô, đi đến làng Xuân Hy , huyện Kim Anh, gặp người của Phạm Đình Trọng giải Nguyễn Hữu Cầu đến. Trịnh Doanh bèn mở tiệc khao quân, bắt Danh Phương dâng rượu, Hữu Cầu thổi kèn. Hữu Cầu nuốt nhục hầu chúa, khi về kinh thành định vượt ngục nhưng không thành. Tháng 3 năm 1751, ông bị hành hình. Phạm Đình Trọng mang quân về quê ông, quật mộ bố Nguyễn Hữu Cầu, giết 3 họ gia quyến ông.

Phạm Nguyễn Du (1739 - 1786)[sửa]

Phạm Nguyễn Du vốn tên là Phạm Vĩ Khiêm, hiệu là Thạch Động, Dưỡng Hiên. Ông sinh tại làng Thạch Động, tổng Đặng Điền, huyện Chân Lộc, nay là xã Nghi Thạch, huyện Nghi Lộc tỉnh Nghệ An, đỗ hoàng giáp năm 40 tuổi, ông được bổ làm giám sát ngự sử đạo Hải Dương sau đổi làm đốc đồng Nghệ An rồi được thăng làm Đông Các Đại học sĩ. Khi quân Tây Sơn kéo ra Bắc, ông lẩn tránh ở vùng rừng núi Thanh Chương. Tương truyền, lúc vợ chết ông có làm mấy câu đối thờ:

Sử ngã tất sanh, khanh tất tử (Ai khiến tôi phải sống, mình phải chết?)
Hạp dư vi phụ, nhĩ vi phu (Sao không để tôi làm vợ mình làm chồng!)
Hốt tầm Đông xá, Tây lân, hoặc hữu nương hề, giai viết bất (Chợt tìm Đông xá, Tây lân, hoặc có nàng chăng, đều nói chẳng)
Thí vấn Nam tào, Bắc đẩu, kỳ vi Khiêm dã, đinh hà như? (Ví hỏi Nam tào, Bắc đẩu, hay còn Khiêm đó, định làm sao?)
Có một người kia vào nhà xin ăn, lân la đọc hết mấy câu đối rồi gật gù ra chiều tán thưởng. Ông Du thấy vậy mới hỏi: "Ông thấy sao? Được không?" Người ăn mày đáp: "Dạ được đấy, nhưng chưa thật hay". Ông Du liền hỏi: "Thế ông có thể làm hay hơn không?" Người ăn mày đáp: "Thưa, tôi chỉ biết làm câu đối nôm thôi!" Ông Du bảo cứ làm thử, người ăn xin liền đọc:
Đất chẳng là chồng, đem gởi thịt xương sao lợi
Trời mà chết vợ, thử coi gan ruột mần răng
Câu này rất xuất sắc: chẳng những đối rất chỉnh(“trời” đối với “đất”, ‘’vợ” đối với “chồng”, “gan ruột” đối với “thịt xương”,”răng’’đối với “lợi” rất chỉnh, mà còn sử dụng được câu tục ngữ”Sống gửi thịt, chết gửi xương” nói về người con gái đi lấy chồng tức là trao thân gởi phận cho chồng, khi sống cũng như khi chết. Thế thì nay chết đi sao lại đem xương thịt mà gởi cho đất? Đất có phải là chồng đâu? Ý tưởng của vế dưới cũng rất độc đáo: Trời mà chết vợ thử xem trời có héo gan héo ruột không? Câu đối trên có thuyết khác lại nói của Tri Huyện Hòa Vang Bùi Hữu Nghĩa viết để khóc vợ, ông này có viết 2 đối câu đối 1 Nôm 1 Hán

Trạng Quỳnh[sửa]

Nguyễn Quỳnh là một danh sĩ thời vua Lê Hiển Tông, từng đỗ Hương cống nên còn gọi là Cống Quỳnh. Ông nổi tiếng với sự trào lộng, hài hước tạo nên nhiều giai thoại nên trong dân gian vẫn thường gọi ông là Trạng Quỳnh dù ông không đỗ Trạng nguyên. Ông còn có tên Thưởng, hiệu Ôn Như, thụy Điệp Hiên, quê tại làng Bột Thượng, xã Hoằng Lộc, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Năm 1696, Quỳnh thi đỗ Giải nguyên. Về sau, triều đình bổ nhậm ông làm giáo thụ các huyện Thạch Thất, Phúc Lộc (Sơn Tây), tiếp đến làm huấn đạo phủ Phụng Thiên ở kinh thành Thăng Long. Năm 1718, đỗ khoa Sỹ vọng được bổ làm tri phủ Thái Bình, rồi về làm Viên ngoại lang ở Bộ Lễ; sau bị giáng xuống chức Tu soạn ở Viện Hàn lâm. Đương thời đã có câu: "Nguyễn Quỳnh, Nguyễn Nham, thiên hạ vô tam" (nghĩa là thiên hạ không có người thứ ba giỏi như hai ông).

  • Nhà ông Bảng Nhãn Đoàn Doãn Nghi - cha Đoàn Thị Điểm - dạy học trò đông lắm. Trạng Quỳnh ngày ngày giả vờ đến xem bình văn, để ngấp nghé cô Ðiểm. Học trò biết ý, vào thưa với quan Bảng, ngài bắt vào hỏi. Quỳnh thưa: "Tôi là học trò, thấy trường quan lớn bình văn, tôi đến nghe trộm". Quan Bảng nói: "Ta biết hết rồi, anh đừng giả danh học trò mà bắt chước tuồng chim chuột. Có phải học trò thì ta ra cho một câu đối, không đối được thì đánh đòn!"
vế ra: Thằng Quỷ ôm cái Đấu, đứng của Khôi nguyên
vế đối: Con Mộc tựa cây Bàng, dòm nhà Bảng nhãn
vế trên: chữ Quỷ (鬼) ghép với chữ Đấu (斗) thành chữ Khôi (魁), vế dưới chữ Mộc (木) bên cạnh chữ Bàng (旁) là chữ Bảng (榜). Quan Bảng thấy Quỳnh xuất khẩu thành chương có bụng yêu, giữ Quỳnh lại nuôi ăn học. Có thuyết khác cho rằng vế ra là của Bảng Nhãn Phạm Quang Trạch (1653 - 1716) người xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, Hà Nội (ông Trạch đỗ Bảng nhãn năm 1684, đời Lê Hi Tông) chớ không phải của Đoàn Doãn Nghi.
  • Trạng Quỳnh biết bọn quan thị và quan võ trước giờ không ưa nhau, bèn nghĩ cách cho chúng tỉ võ với nhau một bữa, đồng thời để xem cái dốt nát của chúng đến mức nào. Một hôm, Quỳnh đến nhà viên quan hoạn giữ chức giám ban, đọc cho nghe một câu đối như sau: Thị vào chầu, thị đứng, thị trông, thị muốn ấy, thị không có gậy. Trạng giải thích cho hắn hiểu chữ “thị” đây có nhiều nghĩa, gồm cả: chầu, đứng, trông, ấy, gậy…rồi nói kháy rằng mình đọc thấy ở bên dinh quan đề đốc.
Quỳnh nói xong thì kiếu ra về rồi đi ngay đến nhà quan đề đốc. Gặp quan, Quỳnh khoe rằng vừa đọc được một câu đối hay ở dinh quan giám ban như sau: Vũ ỷ mạnh, vũ ra vũ má, vũ bị mưa, vũ bện xoắn lông! Đọc xong, Quỳnh lại còn ra vẻ xuýt xoa thán phục: "Chữ vũ tai ác thật. Một từ mà đồng âm, diễn được bốn, năm nghĩa: mạnh, ra, múa, mưa, lông… Thế thì có thánh hoá mới đối lại được!"
Từ hôm đó trở đi, quan đề đốc và quan giám ban kình nhau ra mặt. Cho đến một hôm, Quỳnh nghe đám gia nhân kháo nhau: hai nhà quan kia kéo “quân” hỗn chiến một trận kịch liệt. Xong trận, cả hai đều tơi tả.
vế đối khác: Đình không dừng, đình thế thì thôi, đình gặp sét, đình tung cả nóc
  • Một ông quan huyện vào quán ngồi bệ vệ lắm, Quỳnh giả làm học trò xác, mon men đến đứng bên, hễ thấy quan ăn miếng trầu nào nhả bã ra thì lại cúi xuống nhặt. Quan hỏi: "Mày là ai". Quỳnh đáp: "Bẩm, tôi là học trò". Quan lại hỏi: "Học trò sao lại lẩn thẩn thế?". Quỳnh thưa: "Bẩm, chúng tôi thấy phương ngôn thường nói: Miệng kẻ sang có gang có thép!, chúng tôi nhặt xem gang thép như thế nào.
Quan thấy Quỳnh có ý xược, ra oai thét: "Ðã xưng là học trò, thì phải đối ngay câu phương ngôn ấy đi, đối được thì tha cho, không sẽ đánh đòn!" Quỳnh chỉ chờ có vậy đọc luôn: Ðồ nhà khó vừa nhọ vừa thâm.
Gần đây có một nhân vật (khuyết danh) đối thêm 1 câu như sau: Lời thiên hạ là bạc là vàng
  • Câu đối vịnh Đồng Cô:
Cô lô cô lốc, ốc…
Nhẩy lên nhẩy xuống, ong
  • Năm đó, nhà chúa mừng sinh được con trai, các quan trường bèn nảy ra ý nịnh hót chúa, bàn nhau ra đề thì nói về điềm lành của đất nước. Đoán được ý ấy, Trạng Quỳnh nghĩ ra cách làm đôi câu đối phải hàm được hai nghĩa: bề ngoài, đọc lên nghe như lời ca ngợi công đức của Chúa và sự an vui của mọi người, nhưng ẩn ý của nó lại là một sự phủ định. Nội dung câu đối như sau:
Quan tắc cổ, dân tắc cổ, đái hàm quan Nghiêu Thuấn chi dân (Nghĩa là: Quan cũng theo phép xưa, dân cũng theo phép xưa, đội ơn quan, dân được sống đời Nghiêu Thuấn)
Thượng ung tai, hạ ung tai, ỷ đầu lai Đường Ngu chi đức (nghĩa là: Trên cũng vui thay, dưới cũng vui thay, dựa vào đám đầu lại có đức độ thời Đường Ngu)
Mới nghe đọc lần đầu, chúa Trịnh đã khen: "Hay quá! Xứng đáng cho giải nhất!" Quan chủ khảo liền đứng lên tâu với Chúa: "Khải chúa! Trong hai câu ấy, thần thấy có cái ẩn ý không thuận". Chúa Trịnh nói: "Quan thật đa nghi quá. Ca tụng công đức của chúa như vậy mà còn gì không thuận?" Viên quan thưa: "Khải chúa, cứ theo cái nghĩa chữ Hán thì hai câu ấy đúng là hay thật, nhưng Quỳnh là loại thâm nho, từng đã dùng chữ nghĩa chơi khâm nhiều người, và chắc hắn không bao giờ bằng lòng thứ văn chương một nghĩa. Theo sự hiểu biết cạn hẹp của thần, thì hai câu ấy xướng theo nghĩa đồng âm trực tiếp nghe ra ngại lắm, không dám đọc lên để chúa thưởng lãm". Chúa nói: "Ta cho phép, quan cứ nói". Quan phân tích: "Quan tắc cổ, dân tắc cổ" có nghĩa là "trên cũng câm, dưới cũng câm," thưa tắc cổ là câm không dám nói đấy ạ! Còn "đái hàm quan Ngiêu Thuấn chi dân" tức là "đái vào hàm bọn quan dám bảo rằng dân chúng đang sống dưới thời Nghiêu Thuấn". Vế dưới: "Thượng ung tai, hạ ung tai" có nghĩa là "đứa trên thối tai, đứa dưới cũng thối tai", là cả trên dưới, ai ai cũng là một lũ điếc đấy ạ. Vì điếc hết nên không biết rằng "ỷ đâu lai Đường ngu chi sĩ" nghĩa là "ỉa vào đầu lũ nha dám bảo rằng kẻ sĩ đang mở mặt giữa đời Đường Ngu". Nhà Chúa tức lắm nhưng không có cớ gì để trừng trị Quỳnh ngay được, tuy lần ấy Quỳnh bị đánh hỏng nhưng lại có cơ hội đả kích vào thói xu nịnh của đám quan trường và "chọc" nhà chúa một trận nên thân, còn mình thì vẫn giữ tròn khí tiết.

Trần Văn Trứ[sửa]

Trần văn Trứ người làng Từ Ô, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương là người nổi tiếng thanh liêm và nhân hậu. Ông đỗ Hoàng giáp năm Quí Hợi (1743), nổi tiếng là con người công bằng chính trực, không hề thiên vị gì ai. Cuối cùng thấy chính sự trong triều quá đỗi mục nát, liền cáo lão về trí sĩ, ai nấy đều tiếc. Thời gian về nhà, ông biết viên tri huyện huyện mình (Thanh Miện) là kẻ rất hách dịch, hễ ai qua dinh mà không xuống ngựa, xuống cáng đều bị hắn đánh đòn. Một hôm, nhân đi chơi qua huyện, ông mượn một con bò cỡi đi, nghênh ngang không chịu xuống. Lính huyện lôi ông vào quan. Ông kêu là thầy đồ già đi dạy học ở tỉnh xa mới về nên không hay biết lệ này, vả lại lệ quan buộc phải xuống ngựa chứ không buộc xuống bò. Lão huyện thét lác một hồi, truy hỏi sách nọ, vặn sách kia để thử thách thầy đồ. Sau chừng như thấy ông đối đáp trôi chảy, ung dung, lại có tuổi tác, nên cũng có ý nể, lão huyện liền bảo ông: "Lý ra tội nhà thầy phải đánh đòn, nhưng ta nể cái bộ râu của thầy nên tha đòn cho. Vậy thầy phải đối câu đối ta ra để tạ ơn nghe!"

Rồi lão huyện ra vế đối rằng: Huyện quan Thanh Miện kiến vô lễ nhi dục công (Quan huyện Thanh Miện thấy kẻ vô lễ nên muốn đánh)
Ông nghè Từ Ô thấy nói "nể cái bộ râu" bèn cười khẩy và đọc: Tiến sĩ Từ Ô hạnh hữu tu nhi đắc thoát (Tiến sĩ Từ Ô may nhờ có râu mà thoát đòn)
Lão huyện nghe xong, biết ngay đó là tướng công họ Trần, sợ toát mồ hôi, vội sụp xuống lạy lục van xin rối rít. Ông nghiêm sắc mặt, chỉnh cho một hồi về đạo đức khiêm tốn, chăn dân ... rồi bỏ đi. Thế là cái lệ "hạ mã" hống hách, vô lý kia cũng bị hạ luôn từ đó.

Một năm kia, ông phụ trách khoa thi hương thuộc trấn quê nhà. Bà vợ nói riêng với ông: “năm nay có thằng cháu đi thi, mong được ông rộng tay cho nó đặng mở mày mở mặt. Tên nó là Hi...” Ông gật đầu biết vậy. Bà vợ lại dặn riêng người theo hầu để ý, khi nào ông duyệt đến quyển văn của người cháu thì làm hiệu: hi hi, nhắc cho ông nhớ. Đúng vào buổi ông chấm văn, người hầu nhận ra dấu hiệu đã dặn, liền đứng cạnh vờ đằng hắng: "hi hi". Ông sực nhớ lại lời vợ, liếc qua lời văn dưới mắt mình thì thấy lời lẽ bất thông. Ông cầm ngay bút son sổ dài lên mặt quyển mà nói: "Này hi hi! Này hi hi!" Người hầu tái mặt, vội vàng trốn ra ngoài. Khi Trần Văn Trứ mất, các bạn đồng liêu và khoa mục có câu đối viếng:

Tọa học sĩ ư xuân phong, diện mệnh nhi đề huấn, hối nhược gia nhân phụ tử.
Lập lại tư ư băng tuyết, từ trực khí tráng, lẫm liệt như lôi điện quỉ thần.

Nghĩa là:

Dạy học như gió xuân, thước ngọc khuôn vàng, răn bảo tựa cha con ruột thịt.
Làm quan như băng tuyết, lời ngay khí mạnh, trang nghiêm như sấm sét quỉ thần.

Nguyễn Quý Đức[sửa]

Nguyễn Quý Đức húy là Tộ, tự Thể Nhân hiệu Đường Hiên, ông sinh tại làng Thiên Mỗ, thuộc Thăng Long (tức làng Đại Mỗ, huyện Từ Liêm, Hà Nội ngày nay). Xuất thân trong một gia đình nho nghèo, cha ông là người khai khoa của họ Nguyễn Quý làng Thiên Mỗ. Trước khi về quê dưỡng lão, ông được gia phong Thái phó Quốc lão, vẫn được tham dự chính sự, được chúa ban 2 bài thơ tiễn, lại cấp cho xe ngựa và ruộng lộc (lộc điền). Thường ngày, ông dạo chơi quanh vùng, dựng đình Lạc Thọ để có chỗ họp bạn xướng họa thơ văn. Cuối năm Kỷ Hợi (1719), chúa Trịnh Giang nhân lên chơi Sài Sơn, có ghé ông thăm và mời ông cùng đi, sau khi mất ông được truy tặng là Thái tể, ban tên thụy là Trịnh Mục. Sau lại truy tặng ông là Đại tư không, sắc phong làm Cung thần tuấn đạt định sách Đại vương, và được dân làng thờ làm Phúc thần thưởng đẳng. Ngay từ nhỏ, Nguyễn Quý Đức đã nổi tiếng là người thông minh, hay chữ, có tài ứng khẩu linh hoạt hơn người. Chuyện rằng một hôm sau buổi học sáng, lúc trở về qua một quán nước, Đức ghé vào chơi. Chợt có ông quan huyện đi qua cũng vào nghỉ. Ông huyện thấy Đức mặt mũi sáng sủa, bèn hỏi: "Cậu đã học sách gì rồi?" Đức đáp đã đọc hết sách Luận ngữ.

Ông huyện liền ra một vế đối, dùng toàn chữ của Luận ngữ: Thực vô cầu bão, cư vô cầu an, quân tử chí (Ăn không cần no, ở không cầu yên, say đạo học, đúng chí quân tử)
Cậu bé Đức lập tức ứng khẩu đối ngay cũng bằng các chữ trong sách ấy: Chiêu nhi bất lai, huy nhi bất khứ, xã tắc thần (Vẫy không chịu lại, xua không chịu đi, phò xã tắc, đáng mặt bầy tôi)
  • Lại một hôm trâu của Đức bị lính quan phủ bắt giữ bởi cậu bé mải chơi để trâu xổng xuống phá một khu ruộng trồng khoai của làng Cầu Đơ.
Thấy cậu bé láu lỉnh, quan phủ ra vế đối: Khoai Đơ xanh tốt nhờ về Phủ
Đức nghe xong đối luôn: Lĩnh Mỗ vàng trơn bởi có Nghè
Ông phủ thấy đối nhanh, lại có khẩu khí hơn người, bèn trao trả trâu cho Đức

Câu đối về vua Quang Trung[sửa]

Những dấu tích lịch sử và câu đối của Hoàng đế Quang Trung trên đất Bỉm Sơn: Thị xã Bỉm sơn là vùng đất địa linh nhân kiệt, nơi đây còn lưu lại nhiều dấu tích Lịch sử và những huyền thoại dân gian. Năm Mậu Thân (1788) vua Lê Chiêu Thống cầu viện 29 vạn quân Thanh kéo sang nước ta. Trong thời gian Tướng quân Ngô Văn Sở, Ngô Thì Nhậm và Hoàng đế Quang Trung ở trên đất Tam Điệp - Bỉm Sơn đã sử dụng đình làng Gạo để chứa quân lương. Những địa danh như: Đồi Ông Tập, Đập chắn Voi, đồng càn Chuối, …Bài bia, Đồng cắm cờ, Đồi Ông Đùng Đền Cây vả (Trà sơn miếu)…Tại nơi đây, Quang Trung đã được Tiên Nữ báo mộng phải hành quân thần tốc ra Bắc Hà tiêu diệt giặc Thanh. Quả nhiên như báo mộng, khi thắng trận trở về Nhà Vua đã không quên giấc mộng đó và đã phong tặng đôi câu đối:

“Sắc lệnh bao phong thế phúc thần
Ân phá mạt tướng Thiên Tiên Nữ”

Những câu đối do hậu thế tưởng niệm

  • Bốn câu đối khóc vua Quang Trung của các sĩ phu Bắc Hà:

Câu thứ nhất:

Hoàng thiên cổ hạ dân, tác chi quân, tác chi sư, nam bắc đông tây giai cộng khánh;
Thánh nhân hữu đại đức, thực kỳ danh, thực kỳ vị, cổ kim khí số khước nan tề.

Nghĩa là:

Ông trời đo lường được lòng dân ban cho một ông vua, một vị thầy mà nam bắc đông tây đều mừng rõ;
Là bậc thánh nhân có đức lớn, danh đã thực mà vị cũng thực, từ xưa đến nay, vận khí và số mệnh nào có ai cũng như ai đâu!

Câu thứ hai:

Hách hách phục huỳnh Việt, tập thiên mệnh, oanh lôi chế diễn, thời bạc kiến hùng uy;
Phiêu phiêu thừa bạch vân, chí đế hương, cùng cốc thâm sơn phi hào giai nhũ mộ.

Nghĩa là:

Vâng mệnh trời giúp nước Việt da vàng, công tích chói ngời, sấm giăng chớp giật, trong giờ phút mong manh thấy rõ uy lực của đấng anh hùng;
Nương mây trắng đến chốn quê vua, trong chơi vơi, từ ngõ hẻm đến hang cùng không hề kêu gọi mà ai nấy đều mến mộ.

Câu thứ ba:

Phân vân lộc dã giác phương hưu, hốt nhĩ, thần qui nhật nguyệt, quang liễm vi tiên, tùng kỷ nhĩ triền thiên lý mộng;
Trù (võng) trướng long hồ nhiêm mạc vãn, tuy nhiên, trạch tại sinh linh, uy lưu hải vũ, cương điền vĩnh thoát ức niên mưu!

Nghĩa là:

Quá đỗi rối ren! Công cuộc phòng vệ đất nước mới vừa xong, thì bỗng chốc vị thần đã về cõi mặt trăng, ánh sáng gom tụ nơi đền đài, từ bấy giấc mộng ngàn dặm quanh quẩn đâu đây;
Chao ôi buồn thảm! Cái râu rồng không bao giờ quay lại, tuy vậy, ơn cứu vớt sinh linh còn đó, uy danh khắp biển trời còn đó, mưu đồ xây dựng đất nước thịnh trị lâu dài thì không thể nữa rồi!
hai cụm từ “lộc dã giác phương hưu” của vế trước đối với “long hồ nhiêm mạc vãn” của vế sau. Sở dĩ từ những chữ “lộc dã giác phương hưu” dịch thành “công cuộc phòng vệ đất nước vừa mới xong” vì rằng, theo như sách Từ Hải (NXB Trung Hoa thư cục - Vĩnh Ninh - tái bản năm Trung Hoa dân quốc thứ 37) trang 1548 chép: “Ngày xưa, vật liệu bố phòng các doanh trại quân đội người ta dùng cây, gỗ vạt nhọn làm chông cắm hoặc trồng trên mặt đất chung quanh doanh trại để chống kẻ địch đến gần. Vật liệu bố phòng này có hình sừng nai (chắc là con tùng lộc-ND) vì vậy mới có tên gọi “lộc giác”. Sách Nam sử, truyện Vĩ Nhuệ (cũng đọc là Duệ, hoặc Tuấn) chép: “Ban đêm đào hào (rãnh) dài, dùng sừng nai bằng gỗ làm thành”. Sách Tam dư chuế bút thì chép: “Tính con nai hay cảnh giác, lúc tập hợp cả bầy nghỉ ngơi thì nằm vòng tròn, đầu sừng chỉa ra chung quanh như một trận địa để đề phòng người và vật lạ đến sát hại. Cho nên hàng rào bố phòng các doanh trại quân đội chôn chông chỉa ra bên ngoài mới có tên gọi là lộc giác”. Như vậy, “lộc dã giác” có nghĩa là loại sừng nai bằng gỗ để bố phòng. Còn cụm từ vế sau “Long hồ nhiêm mạc vãn” chúng tôi buộc phải dịch thành “cái râu rồng không bao giờ quay lại” vì rằng, cũng theo sách Từ Hải trang 1575 (chữ “hồ” trong Từ Hải không có bộ chấm thủy) chép: “Thiên Phong thiền thư sách Sử ký nói rằng, vua Huỳnh Đế lấy đồng ở núi Thủ sơn đúc đĩnh dưới chân núi Kinh Sơn, khi đĩnh đúc xong, có con rồng xủ râu xuống rước vua Huỳnh Đế. Nhà vua cưỡi rồng, bầy tôi và cung tần cùng cưỡi rồng theo vua đến 70 người. Rồng chuẩn bị bay, các quan nhỏ không lên lưng rồng được bèn bám lấy râu rồng, rồng rút râu lên làm rơi người và cây cung của vua. Trăm họ ngước cổ nhìn nhà vua lên trời bèn ôm lấy cây cung mà kêu gào với râu rồng”. Như vậy, “long hồ nhiêm mạc vãn” là ý nói nỗi đau lòng của trăm họ đối với cái chết của vua Quang Trung.

Câu thứ tư:

Thê lương thu nguyệt ngũ canh, thanh điểu man man, ngọc vũ quỳnh lâu đồ cực vọng;
Thiều đệ xuân kinh thiên lý, bạch vân diểu diểu, Lô giang Tản lĩnh tự thê sầu!

Nghĩa là:

Đêm trăng thu năm canh thê thảm làm sao! Chim xanh mờ mịt, điện ngọc lầu quỳnh vòi vọi ngóng trông;
Kinh đô Phú Xuân ngàn dặm xa vời! Mây trắng lững lờ, núi Tản sông Lô đau buồn chi xiết!
  • Câu đối ở thượng điện đền thờ Hoàng đế Quang Trung trên núi Quyết - thành phố Vinh:
敦本國無遊民野無曠土 Đôn bản quốc vô du dân dã vô khoáng thổ (Phải coi trọng nghề nông thì nước không có dân du cư đồng không bị bỏ hóa)
抑末人都務業社不荒田 Ức mạt nhân đô vụ nghiệp xã bất hoang điền (Cần hạn chế sự yếu kém thì dân sẽ chăm lo nghề nghiệp làng xã không còn ruộng hoang)
Đây là đôi câu đối có ý nghĩa khuyến nông của thời Quang Trung.
  • Đền thờ vua Quang Trung ở Làng Do Xuyên xã Hải Thanh huyện Tĩnh Gia tỉnh Thanh Hóa là một di tích lịch sử rất qúy báu. Đền mới đuợc trùng tu, nhưng trong đền còn giữ đuợc bài vị của Nguyễn Huệ khi ông lên ngôi vua và một chuông đồng khắc bốn chữ Hán “Thuợng Trung Tự Đẳng” có niên đại vào năm tự Đức thứ 10 (1857) chứng tỏ đền đuợc lập từ thời Nguyễn, ngòai cổng đền có hai câu đối cổ:
“Anh hùng thanh sất Bân Sơn cổ
Miếu mạo quang lưu Bạch Hải kim”
Nội dung nhắc lại sự kiện cuối năm 1788, nguyễn Huệ nghe tin 20 vạn quân Thanh kéo vào xâm lược chiếm đóng kinh đô Thăng Long . Ông cho lập đàn tế trời trên núi Bân (Bân sơn) ở Huế lên ngôi vua lấy niên hiệu là Quang Trung, thét mắng (Thanh sắt) kẻ thù rồi kéo quân thần tốc ra Bắc đánh tan 20 vạn quân Thanh xâm luợc và vào thành Thăng Long ăn tết nguyên đán (1779).
  • Các câu đối ở Đàn Tế Trời Đất trên núi Ấn Sơn tỉnh Bình Định:

Đàn tế trời đất được UBND tỉnh Bình Định xây dựng trên núi Ấn Sơn (thuộc xã Bình Tường, huyện Tây Sơn), khởi công từ ngày 26-11-2011 trên diện tích 46ha. Câu liễn thứ nhất được đặt ở cổng đón:

Ngàn thu vượng khí anh linh, một dải non sông kỳ tuyệt
Ba vị anh hùng cái thế, bốn phương trời bể tung hoành

Câu thứ hai đặt ở trước cổng đền ấn:

Công đức ngàn năm ghi bia đá
Truyền thống muôn đời tạc tâm can

Câu thứ ba đặt ở cổng chính “Bảo sơn thiên ấn”:

Trăm họ lầm than, nổi trống Tây Sơn trừ bạo chúa
Bốn phương loạn lạc, giương cờ Bình Định cứu lương dân
  • Ðiện Tây Sơn được xây dựng trên đền thờ cũ ở thôn Kiên mỹ, xã Bình thành. Gian giữa thờ vua Quang Trung. Gian bên tả thờ hai vua Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ và gian bên hữu thờ tướng tá bộ thuộc. Hai bên cửa vào điện có câu đối:
Tây Khê thảo thụ lưu kỳ tích
Nam quốc sơn hà ký võ công

Đặng Trần Thường đối đáp với Nguyễn Huệ và Ngô Thì Nhậm[sửa]

Ngô Thì Nhậm còn gọi là Ngô Thời Nhiệm, tự là Hy Doãn, hiệu là Đạt Hiên, người làng Tả Thanh Oai, ngày nay thuộc huyện Thanh Trì - Hà Nội. Năm 1788, Ngô Thì Nhậm ra làm quan cho nhà Tây Sơn. Khi vua Lê Chiêu Thống cầu viện 29 vạn quân Thanh kéo sang Đại Việt, Ngô Thì Nhậm đã có kế lui binh về giữ phòng tuyến Tam Điệp - Biện Sơn (Ninh Bình) góp phần làm nên chiến thắng của nhà Tây Sơn. Năm 1790, vua Quang Trung đã giao cho Ngô Thì Nhậm giữ chức Binh bộ thượng thư.

Đặng Trần Thường người huyện Chương Đức (nay là huyện Chương Mỹ, Hà Nội). Tương truyền Ngô Thì Nhậm và Đặng Trần Thường quen biết với nhau, lúc Ngô Thì Nhậm được vua Quang Trung trọng dụng thì Đặng Trần Thường đến xin Nhậm tiến cử. Nhậm đưa Thường đến gặp Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ, sau một hồi nói chuyện, Nguyễn Huệ xét thấy con người này có dáng điệu luồn cúi khép lép liền ra vế đối:
vế ra:Trần tục, tầm thường như Đặng Trần Thường, kẻ tiểu nhân làm gì nên đặng
Đặng Trần Thường nhăn trán chau mày suy nghĩ sợ đà sởn gai ốc, đổ mồ hôi hột mà vẫn chưa tìm ra vế đối. Trong cơn nguy khốn chợt nghe Ngô Thì Nhậm nói: "Người thượng quân từ sánh bằng cây trúc, người trung quân tử sánh với cây ngô đồng. Nhậm tôi thời đến được Chúa công trọng dụng cho nhậm chức, sự quân tử chỉ đáng sánh với cây ngô đồng mà thôi".
Đặng Trần Thường chợt bừng tỉnh mà đối rằng: Thời đến, chức nhậm như Ngô Thì Nhậm, người quân tử đáng sánh cây ngô

Nguyễn Huệ tức giận nói: "Ngươi lấy oán trả ân Ngô Thì Nhậm. Nhậm nhắc ý cho ngươi đối được câu đối của ta. Đó là thượng quân tử đáng sánh bằng cây trúc, sao bảo rằng chỉ sánh bằng cây ngô." Bèn hạ lệnh cho quân đánh 20 roi rồi đuổi đi, Thường hổ thẹn ra về, vào Nam theo phò Nguyễn Phúc Ánh. Sau khi nhà Tây Sơn mất, các võ tướng và quan văn bị giải về Hà Nội để bị xử phạt đánh bằng roi, trong đó có Ngô Thì Nhậm. Chủ trì cuộc phạt đánh đòn đó lại chính là Đặng Trần Thường. Đặng Trần Thường kiêu hãnh ra vế câu đối cho Ngô Thì Nhậm:

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai

(Vế đối hiểm hóc vì có 5 chữ ai và có chữ trần là tên đệm của Đặng Trần Thường)

Ngô Thì Nhậm khảng khái đáp: Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thì phải thế

(Vế đối lại cũng có 5 chữ thế, nói lên được hoàn cảnh và khí phách của người anh hùng. Và vế đối cũng có chữ thời là tên đệm của Ngô Thời Nhiệm)

Hai câu đối nhau chan chát, cực kỳ chỉnh không sai trật một ly, quả là lời lẽ và từ ngữ của bậc quốc sĩ. Đặng Trần Thường bắt ông phải sửa lại "thế đành theo thế". Ngô Thì Nhậm không nói lại, Thường tức giận sai người đánh ông đến chết...

Dân đến xem lớp trong lớp ngoài đều được Thường cho giấy bút gọi là làm gương cho kẻ sĩ. Xong việc, Thường vuốt râu ngồi uống trà trước án. Buổi chiều quân sĩ lo thu hồi hình cụ, chùi dọn máu me. Văn miếu lại trở về uy nghi thanh vắng. Gió lùa qua, bốc lên tờ giấy không biết ai đã làm rơi sót lại. Tuồng như có chữ viết bằng đất vàng theo lối thảo, một đôi vế đối theo cách y như Nhiệm và Thường đã ứng đối với nhau:

Quân gian tặc, quân vô đạo! Toàn hôn quân, quân mấy là quân...
Khổ ác bá, khổ tham quan! Rập khuôn khổ, khổ đâu hết khổ...
Kẻ tả hữu xu phụ đón ý Thường, quyết một hai do người nhà Nhiệm làm ra cốt nhục mạ triều đình. Thường căm tức liệng xuống đất, nạt tràn: "Ngu thế? Chả cứ một tân triều, trước sau triều nào đều chưởi tất...Sao ghép tội nhà Nhiệm được? Đây đích thị thằng dân đen láo xược." Quân hầu hùng hổ nhảy ra xin gông ngay thằng ấy về tra khảo. Thường nổi điên hắt tách trà vào mặt hắn: "Dân đen mấy vạn đứa mầy gông hết cả chăng?" Về sau, Thường đang đắc thời từ một công thần bỗng trở thành tội đồ nhà Nguyễn, bị tống ngục và - thay vì chém - được đặc ân thắt cổ.
  • Gần đây có 1 số nhân vật đối thêm vài câu như sau:
vế đối khác 1: Thời Hưng Vương, thời Thể Chế, ngẫm thế thời, thời thế theo thời (Nguyễn Hữu Quyến)
vế đối khác 2: Phận yếu liễu , phận đào thơ, nữ nhi phận, phận thôi đành phận (khuyết danh)
vế đối khác 3: Tôi đốt lò, tôi nung đá, cuộc đời tôi, tôi luyện luyện tôi (khuyết danh)
vế đối khác 4: Người quân tử, người anh hùng, giữa biển người, người sẽ gặp người (khuyết danh)

Nguyễn Hữu Chỉnh[sửa]

Nguyễn Hữu Chỉnh người xã Đông Hải, huyện Chân Lộc (nay là huyện Nghi Lộc, Nghệ An). Khi nhà Lê suy vi, Nguyễn Hữu Chỉnh vượt biển chạy vào Quy Nhơn đầu hàng Nguyễn Nhạc. Ông có công lớn trong việc đập tan cơ đồ mấy trăm năm của họ Trịnh. Họ Trịnh khởi binh mưu nối lại ngôi Chúa, vua Lê gọi Nguyễn Hữu Chỉnh về kinh thành bảo vệ, uy quyền của Nguyễn Hữu Chỉnh từ đấy lên đến tột đỉnh; Nguyễn Huệ e ngại, sai Vũ Văn Nhậm đánh ra Bắc, Nguyễn Hữu Chỉnh thua trận, bị bắt.

  • Tương truyền, năm 10 tuổi Nguyễn Hữu Chỉnh đi học, thầy đồ bảo viết đôi câu đối Tết dán ngoài cổng, Chỉnh viết như sau:
Mở khép càn khôn có ra tay mới biết
Ra vào tướng tướng thử liếc coi
  • Câu đối dán ở của phủ Đại Hưng:

Cuối năm 1786, khi quân Tây Sơn rút hết về Nam. Bấy giờ, Nguyễn Hữu Chỉnh ở Nghệ An, thế lực ngày một mạnh. Chúa Trịnh Bồng liền hạ lệnh cho các tướng đưa quân đi đánh Nguyễn Hửu Chỉnh nhưng tất cả đều lần lượt bị thất bại. Sau Trịnh Bồng lại sai em là Kỳ Quận Công đem quân đi đánh Nguyễn Hữu Chỉnh lần nữa, nhưng quân của Kỳ Quận Công không thể đối đầu với lực lượng của Nguyễn Hữu Chỉnh. Được thể, Nguyễn Hữu Chỉnh bèn ồ ạt cho tiến quân ra. Trịnh Bồng hoảng sợ chạy trốn khỏi kinh thành Thăng Long. Kể từ đó, uy danh của Nguyễn Hữu Chỉnh nhờ vậy mà nhanh chóng nổi như cồn. Chỉnh nhân đó làm đôi câu đối mỉa mai Tự Hoàng như sau:

Thiên hạ thất tự chung, chung thất nhi đỉnh an tại (Thiên hạ mất chuông chùa, chuông mất thì vạc dựa vào đâu)
Hoàng thượng phần vương phủ, phủ phần tức điện diệc không (Hoàng Đế đốt phủ chúa, phủ cháy hỏi điện còn được chăng)
Chuông đã mất thì vạc là thứ tượng trưng cho vương quyền cũng không còn. Vua Lê dựa vào chúa Trịnh và chúa Trịnh cũng dựa vào vua Lê để cùng tồn tại nhưng nay vua đốt phủ chúa thì cung điện của vua cũng trơ. Câu đối nhận thức về mối tương quan chính trị đương thời chưa rõ rệt lắm, nhưng chính nhờ nó mà hành vi của Tự Hoàng khiến cho đời đời không quên.

Nhữ Trọng Thai[sửa]

Nhữ Trọng Thai (cũng đọc là Nhữ Trọng Đài) người làng Hoạch Trạch, huyện Đường An. Nay quê ông thuộc xã Thái Học, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Sau khi đỗ Bảng nhãn, Nhữ Trọng Thai được bổ dụng làm quan, trải phong dần tới chức Hiến sát sứ. Sau trận Ngọc Hồi - Đống Đa, năm 1790 Nhữ Trọng Thai được vua Quang Trung cử đi cùng đoàn với người đống giả ngài là Phạm Công Trị sang Trung Quốc mừng thọ vua Càn Long và thụ phong làm An Nam quốc vương, tại Yên Kinh ông đã viết đôi câu đối mừng như sau:

Long phi ngũ thập hữu ngũ niên, ngũ số hợp thiên, ngũ số hợp địa, ngũ sự tu, ngũ hành thuận, ngũ đại đồng đường, linh lung ngũ phụng lâu tiền, ngũ sắc côn hoàng huy thể thụ (Rồng bay năm chục lẻ năm năm, số năm hợp với trời, số năm hợp với đất, năm sự trau dồi, năm hành xuôi thuận, năm đời chung sống cùng nhà, trước lầu năm chim phụng long lanh, năm sắc đan xen chói rực cây màu lộng lẫy)
Thánh thọ bát tuần phùng bát nguyệt, bát thiên vi xuân, bát thiên vi thu, bát nguyên tiến, bát khải đăng, bát phương hướng hóa, cổ vũ bát loan điện lý, bát tiên phiêu miểu tấu nghê thường (Lễ thọ nhà vua tám tuần vào dịp tháng tám, tám ngàn năm là mùa xuân, tám ngàn năm là mùa thu, tám nguyên hiền tài đến, tám khải kẻ sĩ chầu, tám cõi đổi đời, cổ vũ tám chim loan trong điện. Tám nàng tiên thăm thẳm dâng điệu múa nghê thường)

Câu đối này treo ở trụ trong ngôi điện mừng thọ vua Càn Long nhà Thanh 80 tuổi, có thuyết khác lại cho rằng câu này của Bành Văn Cẩn, nội dung có hơi khác 1 vài từ ngữ:

龙飞五十有五年庆一时五数合天五数合地五事修五福备五世同堂五色斑斓辉彩服

鹤算八旬逢八月祝万寿八千为春八千为秋八元进八恺登八音从律八方缥缈奏丹墀

Long phi ngũ thập hữu ngũ niên, khánh nhất thời, ngũ sổ hợp thiên, ngũ sổ hợp địa, ngũ sự tu ngũ phúc bị, ngũ thế đồng đường, ngũ sắc ban lan huy thái phục
Hạc toán bát tuần phùng bát nguyệt, chúc vạn thọ, bát thiên vi xuân, bát thiên vi thu, bát nguyên tiến bát khải đăng, bát âm tòng luật, bát phương phiếu miểu tấu đan trì

Lại có thuyết khác khẳng định đôi câu đối này, vế xuất của vua Càn Long còn vế đối của Lê Quý Đôn nhưng nội dung ngắn hơn:

Long phi cửu ngũ, ngũ thập ngũ niên, ngũ số hợp thiên, ngũ số hợp địa, ngũ đức tu, ngũ hành dụng, ngũ phúc lung linh hàm phượng liễn.
Thánh thọ bát tuần, bát phùng bát nguyệt, bát thiên vi xuân, bát thiên vi thu, bát nguyên tiến, bát khải đăng, bát tiên cổ vũ hạ nghê thường.

Vua Càn Long cao hứng có ra 1 bài thơ Đường Luật như sau:

Doanh phiên nhập cận trị thời tuần
Sơ kiến hồn như cựu thức thân
Y cổ vị văn lai Tượng quốc
Thắng triều vãng sự bỉ kim nhân
Cửu kinh nhu viễn chi trùng dịch
Gia hội ư kim miễn thể nhân
Võ yển văn tu thuận thiên đạo
Đại Thanh tộ vĩnh vạn thiên xuân

Dịch nghĩa:

Bề tôi phên dậu vào chầu thiên tử đúng lúc thiên tử đi tuần thú
Mới gặp đây mà ngỡ như người thân quen đã biết rồi
Theo như xưa thì chưa nghe việc người Tượng Quốc đến
Chuyện bắt cống nạp người bằng vàng của triều trước thật đáng khinh bỉ
Theo như Cửu Kinh trong sách “Trung dung” phải “nhu viễn” (đối đãi mềm mỏng với chư hầu phương xa) vì chịu qua nhiều tầng phiên dịch
Nay hội tốt lành, ta cố gắng thể điều nhân
Võ im văn sửa thuận theo thiên đạo
Vận nước Đại Thanh mãi muôn ngàn xuân

Bài họa của vua Quang Trung (ở đây là Quang Trung giả)

Thượng tái cung chiêm ngọc lộ tuần
Khuynh quỳ nhất niệm hiệu tôn thân
Ba trừng quế hải tuân hầu độ
Nhật noãn minh giai kiến thánh nhân
Vạn lí thê hàng quy hữu cực
Cửu trung vũ lộ mộc đồng nhân
Càn hành cảnh ngưỡng vô cương thọ
Phổ suất tư đào Đế thế xuân

Dịch nghĩa:

Lên ải cung kính trông vết xe tuần thú của thiên tử
Một niềm ngưỡng vọng cung kính như việc tôn kính cha mẹ mình vậy
Sóng nước biển Nam tuân theo chế độ của chư hầu
Mặt trời ấm áp dưới thềm minh thấy Thánh Nhân
Muôn dặm thang thuyền đều quy về cực
Cửu trùng mưa móc đều được tắm gội cùng điều nhân
Sự vận hành của trời là thế, xin ngước vọng ngài vạn thọ vô cương
Khắp trời đất này đều được hun đúc dưới mùa xuân của đời Đế Nghiêu Đế Thuấn

Ngô Văn Sở[sửa]

Ngô Văn Sở là người có công đối với nhà Tây Sơn, nhưng không may bị tội, phải dìm xuống nước sông Hương cho đến chết, thi hài chôn ở gần chùa Linh Mụ. Sau đó hai năm, ông được triều đình phục chức và cho cải táng đưa ra chôn ở làng Hà Lỗ gần Mỹ Chánh bên bờ sông Ô Lâu. Từ đó đến nay, năm nào con cháu cũng đi chạp ngôi lăng mộ này. Ông sinh tại làng Thuận Nghĩa, ở Hóc Môn, thuộc tỉnh Gia Định. Khi quân Tây Sơn vào đánh Gia Định thì ông Ngô Văn Sở ra hưởng ứng và từ đó phục vụ dưới trướng của Nguyễn Huệ - Quang Trung. Câu đối ở hai bên khám thờ:

Khai thác giang sơn thủ.
Huy hoàng miếu mạo quang.

Tạm dịch:

Người có công mở mang đất đai thì đứng đầu cả sông núi
Dáng vẻ ngôi miếu này thật là sáng sủa huy hoàng.

Câu đối ở mặt tiền ngôi miếu:

Địa tịch Thuận giang Ngô phái diễn,
Nhân tuyền Gia quận tướng môn lai.

Tạm dịch:

Đất đai mở mang ra ở (hai bờ) con sông (Vĩnh Định) chảy qua làng Thuận Nhơn để cho dòng dõi họ Ngô sinh sôi nẩy nở.
Người tại đây đã xuất phát từ con nhà võ tướng ở cố hương Gia Định mà ra.

Câu đối và giai thoại về nhân vật lịch sử Trần Công Xán (1731-1787)[sửa]

Trần Công Xán còn có tên là Trần Công Thước người làng Yên Vĩ huyện Đông Yên phủ Khoái Châu (nay là thôn An Vĩ, xã An Vĩ huyện Khoái Châu). Ông đỗ tiến sĩ khoa Nhâm Thìn, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 33 đời Lê Hiển Tông (1772), được bổ làm quan chức Hiến sát, Tham chính. Năm Đinh Mùi (1787) ông vâng lệnh vua Chiêu Thống vào Phú Xuân điều đình với nhà Tây Sơn xin chuộc lại đất Nghệ An. Đến Phú Xuân, ông dâng trình quốc thư. Nguyễn Huệ xem xong giận vất xuống đất, sai bắt bỏ ngục. Trong ngục ông vẫn cười nói như thường, lại còn đề lên tường ngục đôi câu đối:

Đạt đức hữu tam, túng vị năng chi nguyện học
Tiểu tâm vô nhị, hành kỳ tố dã hà vưu

Nghĩa:

Đức thường có ba điều, nếu chưa đủ, xin học
Lòng mọn không hai, làm theo ý mình, còn oán hận gì

Quần thần Tây Sơn thấy vậy, tâu với Nguyễn Huệ đem giết đi. Nguyễn Huệ mến tài ông muốn thu dụng, ông bảo rằng: “Tôi từng nghe kẻ bề tôi nguyện chết, sự ấy xưa nay đều vẫn thế, ngoài ra, không dám nghe điều gì khác”. Nguyễn Huệ thấy không thể thu phục được ông, sai đô đốc Võ Văn Nguyệt sắp đặt thuyền bè đưa ông về Bắc. Thuyền ra đến giữa bể, Nguyệt ngầm sai người đục thuyền rồi phao tin thuyền bị bão đắm, ông và cả đoàn sứ bộ 18 người đều bị chết. Vua biết tin, thương tiết, truy phong cho ông là Trung liệt và phong làm phúc thần, truyền cho lập đền thờ tại quê nhà.

Câu đối khắc ở đình Tượng Sơn liên quan đến danh tướng Nguyễn Dụng[sửa]

Đình Tượng Sơn nằm ngay trung tâm xã Quảng Long, trên một thế đất tương đối cao, phía trước có dòng sông Mai (sông Kênh Kịa) chảy qua, sau dựa vào triền cát như ôm trọn lấy làng Tượng Sơn. Cách đình Tượng Sơn khoảng 1 km về hướng Bắc là phần lăng mộ của danh tướng Nguyễn Dụng. Trên đường tiến quân đại phá quân Thanh (1789), tướng Nguyễn Dụng luôn đi đầu trong đội quân tiên phong thiện chiến, mang tính tiền trạm, mở đường cho Nguyễn Huệ cùng binh sĩ tiến công. Với công lao đó, ông được phong chức Chưởng Võ. Để tưởng nhớ đến công lao của Nguyễn Dụng và đội quân voi trận của Quang Trung, dân làng Đại Đan lấy tên đình làng là Tượng Sơn và Đình cũng được vua Quang Trung - Nguyễn Huệ phong tặng hai câu đối:

"Đệ nhất nghè thổ vương miếu vũ
Kim ấn ban phong Tượng Sơn thôn"

Câu đối liên quan đến Thoại Ngọc Hầu Nguyễn Văn Thoại (1861 - 1829)[sửa]

Nguyễn Văn Thoại hoặc Nguyễn Văn Thụy, sinh tại huyện Diên Phước, tỉnh Quảng Nam. Từ năm 1787 đến năm 1789, ông đã có công trong việc thu lại thành Gia Định nên được phong chức Cai cơ. Năm 1800, Thoại Ngọc Hầu được phong Khâm sai Thượng đạo Bình Tây tướng quân. Năm 1821, Minh Mạng sắc chỉ cho ông là Thống chế Bảo hộ Cao Miên, kiêm Quản quân vụ Trấn Hà Tiên - Châu Đốc. Năm 1827, ông lập các đội quân An Hải và Châu Đốc để bảo vệ lãnh thổ phía Nam. Ngoài chăm lo việc đào kênh, lập làng, khẩn hoang Ông còn cho xây dựng nhiều tuyến đường bộ quan trọng nối liền nước ta và Cao Miên. Trên án thờ Thoại Ngọc Hầu ở đình làng An Hải có đôi câu đối:

Nhất sinh công nghiệp truyền biên tái
Thiên tải tinh thần nhiên cố hương

Dịch nghĩa:

Một đời công nghiệp truyền biên tái
Muôn thuở tinh thần rạng cố hương

Lê Văn Duyệt (1763 - 1832)[sửa]

Lê Văn Duyệt sinh tại vàm Trà Lọt, thuộc làng Hòa Khánh (nay thuộc xã Hòa Khánh, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang). Lê Văn Duyệt người thấp bé, nhưng lại có sức mạnh hơn người, từng được coi là một trong "ngũ hổ tướng" ở Gia Định. Tháng 11 (âm lịch) năm 1793, Lê Văn Duyệt được Nguyễn Ánh phong làm Thuộc nội Vệ úy, vì "tuy sinh ra là người (thái) giám, (nhưng là) người mạnh dữ mà đánh giỏi, có công tùng chinh". Kể từ đó, chúa Nguyễn thường bàn việc binh với Lê Văn Duyệt. Năm 1802, chúa Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi vua. Lê Văn Duyệt được phong làm “Khâm sai Chưởng Tả quân dinh Bình tây tướng quân, tước Quận công”. Lê Văn Duyệt phản đối việc nối ngôi của vua Minh Mạng và bảo vệ các tín đồ Công giáo Việt Nam khỏi chính sách bế quan tỏa cảng và trọng Nho giáo của nhà vua. Những việc này đã khiến ông thường xuyên xung đột với nhà vua và dẫn đến việc triều đình đã hạch tội và cho phá hoại lăng mộ sau khi Lê Văn Duyệt mất. Dưới đây là mấy câu đối được khắc trên bia mộ của ông:

天光生俊傑 Thiên quang sanh tuấn kiệt (Trời sáng sinh tuấn kiệt)
地好出英才 Địa hảo xuất anh tài (Đất tốt tạo anh tài)
四時花不落 Tứ thời hoa bất lạc (Bốn mùa hoa chẳng rụng)
八節鳥無飛 Bát tiết điểu vô phi (Tám tiết chim không bay)
  • Những câu đối ghi trong Gia Phả dòng họ Lê ở làng Bồ Đề - Quảng Ngãi liên quan đến Tả Tướng Lê Văn Duyệt:

Phần đầu Gia Phả là lời tựa, nêu tông tích của họ Lê từ khi về định cơ ở làng này. Trong bài tựa, công trạng của hai anh em Lê Văn Duyệt và Lê Văn Phong được đề cập đến nhiều nhất qua đôi câu đối:

Huynh nam, đệ bắc oai danh chấn;
Tử hiếu, thần trung tiết nghĩa cao.

Nghĩa là:

Anh trấn trong Nam, em trấn ngoài Bắc, lừng lẫy uy danh;
Con tròn đạo hiếu, tôi vẹn lòng trung, nêu cao tiết nghĩa.

Sau nhiều lần đề bạt của Thọ Xuân công, cùng các quan đình thần hợp nghị tâu lên, Tự Đức chính thức ban “dụ” phục chức cho Lê Văn Duyệt. Trong bài “dụ”, Tự Đức đã tỏ ra mình là một vị “anh quân” phân tích công, tội từng người có cân nhắc, thấu lý đạt tình. Đây là nguồn động viên lớn đối với con cháu họ và phần nào an ủi, giảm nhẹ nỗi oan hờn của những người đang nằm sâu trong lòng đất, chẳng khác nào như một luồng gió trong lành xua tan đám mây đen cho bầu trời thêm sáng rạng. Đúng như một câu đối khác của quyển gia phả họ Lê ở làng Bồ Đề đã ghi:

Tễ nguyệt, quang phong hoàn phục cựu
Lan tôn, quế tử phát sinh tân

Câu đối liên quan đến Hoàng Phi Tiết Nghĩa Nguyễn Thị Kim (1765 - 1804)[sửa]

Hoàng Phi Tiết nghĩa Nguyễn Thị Kim húy Nguyễn Thị Cố, sinh tại thôn Thượng xã Tỳ Bà huyện Lương Tài phủ Thuận An xứ Kinh Bắc. Năm 16 tuổi, Tiểu thư được tuyển vào Cung sắc phong Hoàng phi của vua Lê Chiêu Thống. Năm 1084, quân thần đi theo Lê Chiêu Thống làm sớ tấu lên vua Thanh xin được chuyển hài cốt Vua, Hoàng Thái hậu, Nguyên tử,… về nước và được vua Thanh chiếu chuẩn cho. Ngày 15/8 năm đó, đoàn phục dịch đưa hài cốt Vua về tới ải Nam Quan, triều Nguyễn cử quan Hiệp Trấn Bắc Thành Đặng Trần Thường đi tiếp nhận di hài cốt của vua Lê, Hoàng phi cũng theo đoàn đi đón hài cốt của chồng và con. Từ ngày nhìn thấy di hài cốt của chồng con, bà Nguyễn Thị Kim mỗi ngày chỉ uống hai chén nước cháo rồi túc trực bên quan tài. Ngày 10/10 thì cải khâm hài cốt sang quách mới, Hoàng phi liền uống thuốc độc tự tử. Hiệp Trấn Bắc Thành Đặng Trần Thường, sau khi hoàn tất công việc được giao đã có câu đối khóc bà:

“Tiết nghĩa tàn đăng hạ
Cương thường nhất chước trung”

Dịch nghĩa:

“Tiết nghĩa dưới ngọn đèn tàn
Cương thường nhất chỉ có chết”

Tại xã Tỳ Bà, vua Gia Long cho lập đền thờ và dựng bia khắc chữ: “Khâm tử An trinh tuẫn tiết Nguyễn Thị Kim chi môn”. Nghĩa: “Kinh ban cho cửa nhà Nguyễn Thị Kim là người An trinh chết theo tiết”. Một tấm bia dựng giữa ban thờ khắc câu đối Hán tự nội dung như sau:

Nguyễn Triều Gia Tặng Thiên Thu Tạo
Cố Lý Anh Phong Vạn Cổ Tồn

Nguyễn Huy Lượng[sửa]

Nguyễn Huy Lượng người làng Phú Thụy, huyện Gia Lâm (Hà Nội). Làm quan nhà Tây Sơn với chức Hữu thị lang Bộ Hộ (nên thường gọi là Hữu hộ Lượng), tước Chương Lĩnh Hầu. Tây Sơn sụp đổ, ông được nhà Nguyễn thu dụng, làm Tri phủ Xuân Trường, sau đó ông bị bức tử. Hồi còn trẻ, Lượng có một người quen cũng được học hành tử tế nhưng phải cái hơi... “tối dạ”. Hôm ấy, anh này được ông bố vợ tương lai nhắn gọi đến nhà dự bữa tiệc chiêu đãi các bậc văn nhân thành Thăng Long! Anh chàng biết mình thể nào cũng bị ông bố vợ “thử tài” trước mặt các quan khách. Chẳng còn hồn vía nào, anh ta chạy sang cầu cứu “cậu Lượng”! Lượng cười nói: "Thôi, anh đừng lo! Hôm ấy, tôi sẽ cùng đi với anh, nếu có gì bí tắc, tôi sẽ gà cho!" Anh chàng giẫy nẩy: "Trước hàng trăm cặp mắt quan chiêm như vậy thì cậu gà cháu làm sao được?" Lượng đáp: "Gà được chứ? Nghe tôi dặn đây: Nếu ông nhạc hỏi anh bất luận câu gì mà anh tự thấy không trả lời được thì cứ thản nhiên nói một câu...ba lăng nhăng gì đó, rồi tôi sẽ tán vào cho thành ý tứ hẳn hoi..." Quả nhiên giữa đông đủ khách khứa, ông bố vợ đưa cho anh con rể tương lai một tờ giấy viết một vế đối:

vế ra: Giậu rào mắt cáo, mèo chui lọt (Một vế đối rất khó: Hai cặp có nghĩa tương đồng là “giậu - rào” và “cáo - mèo”, lại nữa, “mắt cáo” là từ dùng theo nghĩa bóng: đan mắt cáo...)
Chẳng những chàng rể mà cả cử tọa xung quanh cũng đều bí như bị gặp trời mưa trước vế đối hiểm hóc ấy. Cậu Lượng đột ngột lên tiếng giục chàng rể: "Ông ra “cái giậu” đấy, đối đi thôi còn chờ gì nữa!" Chàng rể đưa mắt nhìn quanh, chợt trông thấy một cái rổ ở góc nhà, sực nhớ lời cậu đã dặn, bèn nói liều một câu rất chi là vu vơ: "Chậc! Hãy xem cái rổ kia kìa!" Thấy vế đối chẳng ra đầu cua tai nheo gì, mọi người bò ra cười. Ông nhạc tương lai sửng sốt nhìn chòng chọc vào mặt rể. Song, cậu Lượng bỗng cất tiếng: "Tuyệt! Đối thế là cực chỉnh!" Mọi người thôi cười, dán hết cả mắt vào cậu. Ông bố vợ cũng lấy làm lạ hỏi: "Bác nói anh ta đối hay ở chỗ nào? Sao tôi tịnh không thấy tăm hơi gì? Lúc bấy giờ cậu Lượng mới từ tốn đứng dậy phân tích rạch ròi: "Xin phép cụ và chư huynh! Anh bạn tôi đây vốn từ lâu đã học được câu các cụ ta xưa dạy rằng: “Người khôn ăn nói nửa chừng!”. Anh ấy lấy “cái rổ” để đối lại “cái giậu”, là chí phải: Vế ra là “Giậu rào mắt cáo, mèo chui lọt”"
Anh ấy chỉ vào cái rổ có nghĩa là: Rổ nứt lòng tôm, tép nhảy qua thì thử hỏi còn chê bai bắt bẻ vào chỗ nào?!
Bấy giờ mọi người mới “ồ” lên một tiếng đầy thán phục với tài đối của chàng rể! Chữ “lòng”–”tâm” và “tôm”,”tép” cũng đều là từ cùng nghĩa vậy. Buổi tiệc hôm ấy vui hẳn lên, ông cụ cũng thỏa mãn vì kiếm được rể hay chữ, xứng đôi với con gái mình, đám cưới không bao lâu được tổ chức và cậu Lượng cố nhiên được đền ơn xứng đáng.

Câu đối của Hiệp Trấn Trịnh Hoài Đức (1765 - 1825)[sửa]

Trịnh Hoài Đức thuở nhỏ tên An, tự Chỉ Sơn, hiệu Cấn Trai, người gốc Trung Quốc, một trong ba nhà thơ nổi tiếng của đất Gia Định. Ông cùng Nhữ Sơn Ngô Nhân Tĩnh, Tri Chỉ Lê Quang Định được đời tôn vinh là Gia Định tam gia. Tổ tiên của Trịnh Hoài Đức ở làng Phúc Hồ, huyện Trường Lạc, tỉnh Phúc Kiến, đời đời làm quan. Cuối đời Minh đầu đời Thanh, ông nội ông là Trịnh Hội, hiệu Sư Khổng di cư sang Việt Nam (vì không chịu cắt tóc theo kiểu nhà Thanh), ngụ cư tại xã Thanh Hòa, thuộc huyện Bình An, phủ Phước Long, trấn Biên Hòa. Đình Minh Hương Gia Thạnh hội quán tọa lạc tại 380 đường Trần Hưng Đạo, phường 11, quận 5, thành phố Hồ Chí Minh. Đình là nhà việc của xã Minh Hương, một xã được thành lập vào năm 1698, tập hợp con cháu người Hoa ở dinh Phiên Trấn. Năm 1808, vua Gia Long ban cho tên "Gia Thạnh đường" nên đình còn có tên Minh Hương Gia Thạnh. Câu đối của Trịnh Hoài Đức làm năm Minh Mạng thứ 2 (1821):

MINH đồng nhật nguyệt diệu NAM thiên, phượng chử lân tường GIA cẩm tú
HƯƠNG mãn càn khôn binh VIỆT địa, long bàn hổ cứ THẠNH văn chương

Dịch nghĩa:

"Sáng cùng nhật nguyệt rạng trời Nam, lân múa, phượng bay thêm gấm vóc
Hương khắp đất trời thơm cõi Việt, rồng chầu hổ phục thịnh văn chương"

Đinh Hồng Phiên[sửa]

Đinh Hồng Phiên sinh năm 1764 tại làng Ông La Giáp, tổng Kim Nguyên, huyện Chân Lộc, phủ Đức Quang (nay là xã Nghi Long, huyện Nghi Lộc, Nghệ An). Ông được bổ Toản tu Quốc sử quán triều Lê. Thời Nguyễn, vua Gia Long đã vời ông ra làm bổ Đốc học Quảng Nam. Năm Kỷ Mão, Gia Long thứ 18 (1819) ông được bổ Đông Các học sĩ, sung vào đoàn đi sứ nhà Thanh. Ông có 1 câu đối rất hay nội dung như sau:

燕 翼 貽 謀 溪 水 遠
鳳 毛 濟 美 錦 山 高
Yến dực di mưu khê thuỷ viễn (Tổ tiên lo cho con cháu đời sau như nước khe từ xa chảy về (nuôi giòng sông ở hạ lưu), ý nói đời trước lo cho đời sau)
Phụng mao tế mỹ cẩm sơn cao (Con cháu tạo công nghiệp sáng lạn, làm rạng rỡ tổ tiên như núi gấm ngày càng cao, ý nói đời sau làm rạng danh đời trước)

Câu đối này treo trong nhà thờ gia tộc vô cùng phù hợp, vừa ca tụng công lao của ông cha vừa nhắc nhở bổn phận của con cháu. Ai cũng là con cháu của các thế hệ trước, và rồi trở thành ông cha của các thế hệ sau. Vậy các điều trên, “yến dực di mưu” và “phụng mao tế mỹ” là bổn phận của mỗi con người.

  • Tại nhà thờ họ Đinh thuộc làng Kế Võ (xã Vinh Xuân, huyện Phú Vang, Thừa Thiên - Huế) có câu đối cũng dùng cặp thành ngữ trên:
燕 翼 貽 謀 觀 世 德 Yến dực di mưu quan thế đức
鳳 毛 濟 美 振 家 聲 Phụng mao tế mỹ chấn gia thanh

Tạm dịch:

Nhìn vào phước đức của gia đình hiện nay ta biết sự an bài của ông cha cho đời sau
Làm rạng tiếng tăm của gia tộc ấy do nỗ lực của con cháu biết phát dương quang đại công nghiệp của cha ông

Vũ Như Thụy[sửa]

Người sáng lập Mậu Hòa thục là Tú tài Vũ Tông Cửu, thời gian sáng lập là khoảng 1807/08. Tộc phả gọi ngôi trường này là “Mậu Hòa thục” (chữ “thục” trong các từ tư thục, nghĩa thục), thơ văn của các thầy đồ họ Vũ-tông và môn sinh của họ thì gọi trang trọng là “Mậu Hòa giảng thất”. Ông Tú Cửu còn tiếp tục dạy ở Mậu Hòa chí ít là đến đầu những năm 30, chứng cớ là năm 1829 trên đường từ kinh đô Huế ra Bắc nhậm chức Tham hiệp Thái Nguyên, khi đi đến Mai Dịch, Nghè Phan có rẽ về Mậu Hòa vấn an song thân và thăm vợ con. Mậu Hoà thục được ông trao lại cho con trai thứ ba là Vũ Như Thụy, suốt ba chục năm Như Thuỵ làm sự nghiệp khai hoá của ông đồ Hướng Thiện theo những phương châm mà Tú tài Vũ Tông Cửu đã khởi xướng: “trung với dân” và “lo cho dân”. Phả ghi ông đồ Thụy qua đời tại ở Mậu Hòa thục và chép lại một câu đối viếng của môn sinh có nhắc đến cả hai ngôi trường của các ông đồ họ Vũ - ở thôn Tự Tháp ven hồ Gươm và ở làng Mậu Hoà:

Tự Tháp xuân viên tiên phu tử phương di đào lý
Mậu Hoà giảng thất Thái phong công trạch tại thi thư

Dịch nghĩa:

Tại vườn xuân ở thôn Tự Tháp vị thầy tiền bối (ý nói ông Nghè Phan với ngôi trường đại tập trong thôn) còn lưu đệ tử (nổi tiếng như các Hoàng giáp Thượng thư Nguyễn Tư Giản, Đốc học Hà Nội Lê Đình Diên, Phó bảng Phạm Hy Lượng…)
Ở nhà giảng trong làng Mậu Hoà ông Thái Phong (ý nói cụ đồ Cửu, vì dạy các con thành đạt nên được vua Thiệu Trị phong chức tước) để phúc lại là sách vở thơ văn

Thân Văn Quyền[sửa]

Nguyên quán của Thân Văn Quyền là làng An Lỗ, Quảng Điền, bắc sông Bồ. Thân Văn Quyền hay Thân Trọng Quyền, tự là Dụng Trung, sinh ở Cửa Sĩ. Thời Tây Sơn, Thân Văn Quyền ở Phú Xuân ẩn dật. Tây Sơn suy tàn, Nguyễn Ánh trở lại Phú Xuân thành Gia Long hoàng đế. Nhà vua đã cùng các quan văn võ bắt tay xây dựng Việt Nam. Bên kia sông, trường” Đại học Quốc gia” bề thế hoạt dộng, nơi đào tạo nhân tài phục vụ đất nước với triều đại mới, thì bên này sông, ở bến đò Cửa Sĩ, cũng có lớp học kiểu nhà tranh vách ván của thầy đồ nghèo Thân Văn Quyền, vẫn âm thầm khiêm tốn đào tạo nhân tài. Với tài năng và đức độ, hữu xạ tự nhiên hương, nhân dân vùng Thuận Quảng rất nễ trọng bậc đại ẩn họ Thân. Vì thế về sau, có người mừng ông câu đối:

“Nguyệt Biều Nhất Đái Thuỷ, Bắc Lai Chi Cuồng Lãng Nan Diêu
Hoa Ốc Kỷ Gian Sương, Tây Hạ Chi Mê Trần Bất Nhiễm“

nghĩa là:

Một dãi nước Nguyệt Biều, dẫu sóng phương Bắc dữ dội thế nào cũng không đục
Mấy gian nhà hoa ốc, dù bụi phương Tây dơ bẩn thế nào cũng khó lây

Năm 1828, Thân văn Quyền giữ chức Hữu Tham Tri bộ Hộ. Nghĩ đến phúc ấm của tổ tiên, Thân Văn Quyền xây dựng nhà thờ họ Thân ở Cửa Sĩ. Trong nhà thờ ông có đôi câu đối như sau:

“Đạo Vị Tiên Sinh Thủ
Danh Tòng Hậu Bối Khoa”

nghĩa là:

Đạo đức thì tiên sinh giữ
Danh tiếng thì hậu bối suy tôn

Ngô Huy Tuấn (1773 - 1837)[sửa]

Ngô Huy Tuấn sinh ở Mão Điền có nguồn gốc phát sinh từ họ Ngô khoa bảng ở Tả Thanh Oai. Năm 1821, cụ thi đỗ cử nhân khi đã ngót 50 tuổi. Trải nhiều chức quan, từ Viên ngoại lang bộ Lễ cụ được thăng chức Thự tham hiệp Hưng Hoá. Do thành tích kinh lí biên giới mà Ngô Huy Tuấn liên tục được thăng lên Án sát sứ rồi Thự bố chính, suốt những năm ở chức, Ngô Huy Tuấn đều khéo trị dân, giảm thuế ở nơi có khó khăn, khi tự làm tướng, khi điều binh đi dẹp yên những nơi có biến loạn, được vua phong lên chức Tham tri bộ Binh, Phó Đô ngự sử kiêm quản hạt Hưng Hoá. Hiện nay di tích nhà thờ họ Ngô và lăng mộ Quan Trấn đã được xếp hạng là Di tích lịch sử văn hoá. Ngôi nhà thờ gỗ lim dựng từ năm 1835 nay vẫn còn nguyên trạng. Trong nhà thờ còn giữ được nhiều câu đối:

“Nhị phẩm trấn thần tiên ấm cựu
Ngũ niên châu kí quốc ân long”

nghĩa là:

Quan trấn nhị phẩm để lại phúc dài lâu
Năm năm giữ đất biên viễn được hưởng lộc nước cao dày

Lại có bức:

“Gia thanh Tân Tị ân khoa thuỷ
Quốc điển hiền lương miếu tế trường”

nghĩa là:

Tiếng tăm gia đình được bắt đầu từ khoa thi Tân Tị
Điển chương nhà nước kê rõ là tướng tài để thờ phụng mãi mãi

Phạm Thái (1777 - 1813)[sửa]

Phạm Thái còn gọi Phạm Đan Phượng, Phạm Phượng Sinh, hiệu Chiêu Lì (hoặc Chiêu Lỳ); ông sinh tại làng Yên Thị, xã Yên Thường, huyện Đông Ngàn, trấn Kinh Bắc (nay thuộc Gia Lâm, Hà Nội). Ông từng khởi chống Tây Sơn nhưng thất bại bị truy nã, ông cắt tóc, đội lốt nhà sư, vào tu ở chùa Tiêu Sơn (tức chùa Thiên Tâm nằm trên lưng chừng núi Tiêu, nay thuộc xã Tương Giang, huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh), đặt đạo hiệu là Phổ Chiếu Thiền sư.

  • Câu đối tự vịnh:
Một và tuần chén trắng lấy làm vui thuở trước có thờ chi thánh rượu
Ba mươi sáu tàn vàng cùng vậy, về sau không lễ giáng thần cơm
  • Câu đối viết tặng chùa Kim Sơn ở thành phố Huế:
Khách hồng trần lơ láo kiếp phù hư, lối kim cổ ra vào sinh tử mãi
Thợ huyền tạo khéo khôn tay ảo diệu, then càn khôn đóng mở tịch triêu mau
Câu đối này vế trên là của Phạm Kim lúc đó đang tu tại chùa, còn vế dưới là của Thụy Châu, bấy giờ đang cải dạng là một đạo sĩ đến thăm chùa, cả hai đều là nhân vật chính trong tác phẩm "Sơ Kính Tân Trang" của Phạm Thái.
  • Những câu đối Tết:
Xuân mới gọi là Xuân, Xuân thiều quang thục úc, Xuân xướng mậu huyên hòa, ai chẳng mong Xuân mãi để vui đời, kìa xem nơi kia đình, nơi nọ đáo, nơi ấy điếm đua cờ người, kéo hội, bắt chạch, gieo đu, Xuân năm ngoái vui lắm, năm nay lại vui ghê, muốn Xuân mãi để nhẩn nha ngày tháng Bụt
Tuổi cũng thì là tuổi, tuổi phú quí vinh hoa, tuổi công danh sự nghiệp, ai chẳng muốn tuổi dài cho sướng kiếp, nhưng mà ngày nay cờ, ngày mai bạc, ngày kia chè rượu, quay đất, bài phu, tổ tôm, xóc đĩa, tuổi ngày trước dại vừa, ngày rày còn dại mãi, nhiều tuổi chi cho tổn ải nước non Trời
Bật cần nêu đem mới lại cho mau, già trẻ gái trai đều sướng kiếp
Đùng tiếng trúc đuổi cũ đi đã đáng, cỏ hoa non nước cũng mừng Xuân

Câu đối liên quan đến danh nhân Trần Lê Hoán (1789 - 1857)[sửa]

Trần Lê Hoán tự là Hồi Văn, hiệu là Bảo Xuyên, sinh ở thôn Quan Nhân, xã Nhân Mục Môn, tổng Khương Đình, huyện Thanh Trì, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông (nay là phố Quan Nhân, phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội). Sau khi đỗ một năm (1822) ông được sang Hành tẩu bộ Hộ đi sơ khảo trường Thừa Thiên và trường Bắc Thành. Khi Thiệu Trị lên ngôi (1841) ông được thăng Thự Lang trung, được sung Bồi tự giao tế, quyền Án sát tỉnh Nam Định, rồi quyền Tổng đốc Nam Định. Vì cha con, ông cháu, chú bác, anh em nối nhau đỗ đạt làm quan, nên gia đình ông Hoán được Hội Tư văn làng tặng đôi câu đối:

“Thúc bá, đệ huynh bản sinh đa sĩ
Tổ phụ, tử tôn thế xuất anh hùng”

Tạm dịch:

Chú bác, anh em vốn sinh tài giỏi
Ông cha, con cháu nối tiếp anh hùng

Câu đối liên quan đến Tổng đốc Hà Nội - Ninh Bình Đặng Văn Hòa[sửa]

Đặng Văn Hòa, hiệu Lễ Trai, sinh năm Tân Hợi (1791) tại làng Thanh Lương, xã Hương Xuân, huyện Hương Điền, tỉnh Thừa Thiên, đỗ hương cống khoa thi hương đầu tiên đời Gia Long (1813), ra làm quan từ năm 1814. Năm 1830, ông giữ việc Hộ (coi sổ sách quân dân) ở Bắc Thành. Năm 1831, ông cầm quân lên Lai Châu đánh quân Thanh xâm phạm biên giới và lấy lại đồn Phong Thổ. Khi Vua Minh Mạng đổi tên Bắc Thành thành tỉnh Hà Nội, bãi bỏ chức Tổng trấn, đã bổ nhiệm ông làm Tổng đốc Hà Nội. Ngày ấy, nhà cửa ở Hà Nội thường làm bằng tre gỗ, ông đã cho sắp xếp lại đường phố. Mỗi khi nhà dân bị cháy, ông cưỡi voi đốc thúc binh lính và cùng dân chữa cháy, lại tổ chức cứu trợ ngay cho các gia đình bị nạn. Năm 1838, ông xin lập miếu Hỏa thần ba gian ở thôn Yên Nội, huyện Thọ Xương (nay ở 30 phố Hàng Điếu). Tại đây còn bút tích của Đặng Văn Hòa với bốn chữ “Vị dân chí kế” và đôi câu đối nói lên ý chí và trách nhiệm của mình trước vua và trước dân:

Túc hỏa lương trù khâm thánh doãn
Vị dân chí kế tự thần tri

Những câu đối liên quan đến Ngụy Khắc Tuần, Ngụy Khắc Đản và Ngụy Khắc Kiều[sửa]

  • Ngụy Khắc Tuần (1799 – 1854) tên tự là Thiện Phủ, hiệu là Châu Phong, sinh trưởng tại xã Xuân Viên, tổng Xuân Viên, huyện Nghi Xuân, phủ Đức Thọ, tỉnh Nghệ An (nay là xã Xuân Viên, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Đỗ Thám hoa năm Minh Mệnh thứ 7 (1826). Sau khi thi đỗ được bổ làm Hàn lâm, rồi thăng chức Lang trung bộ Hộ, trải làm Tham hiệp hai tỉnh Ninh Bình và Thanh Hóa. Thời Tự Đức có sứ Thanh tên là Lao Sùng Quang tặng Ngụy Khắc Tuần đôi câu đối:
Bạch vân thanh chướng vô triêu mộ
Thương cối đan phong hữu họa đồ

Dịch nghĩa:

Mây trắng rừng lam vờn sớm tối
Thông xanh phong đỏ rực họa đồ

Qua câu đối trên chứng tỏ Lao Sùng Quang rất hiểu sự gian lao vất vả và sự thành công của Ngụy Khắc Tuần trong việc tổ chức dân cư và biên phòng, đồng thời tỏ lòng khâm phục ông, ví ông như cây tùng bách, cây phong đỏ mà ta thường thấy trong các bức tranh thủy mặc

  • Ngụy Khắc Đản (1817 - 1873) tự Thản Chi, cháu gọi Ngụy Khắc Tuần bằng chú, đỗ cử nhân khoa Tân Sửu, được bổ làm huấn đạo huyện Can Lộc (nay thuộc tỉnh Hà Tĩnh). Năm 1856, Ngụy Khắc Đản thi đỗ Đình nguyên Thám hoa. Sau đó, ông nhập ngạch Hàm lâm, rồi thăng dần lên Án sát Quảng Nam. Năm 1864, Ngụy Khắc Đản được thăng làm Bố chánh sứ Nghệ An, rồi lần lượt trải các chức: Khâm sai Kinh lý Trấn Ninh, sung Tuyên phủ sứ, thự Hữu tham tri bộ Hộ, Thượng thư bộ Binh, Thượng thư bộ Công, sung tham biện viện Cơ mật. Sau vì bệnh, Ngụy Khắc Đản xin cáo về rồi mất tại quê nhà. Vua Tự Đức chuẩn cho ông thực thụ hàm Tham tri và sai quan đến tế, tương truyền ông từng có câu đối phê phán các đại thần đương đại như sau:
Chú đại thần, cháu đại thần, đại thần gì, thần lằn (thằn lằn tiếng Nghệ Tĩnh đọc là Thần Lần)
Nay sĩ khí, mai sĩ khí, sĩ khí chi, khí gió
  • Ngụy Khắc Kiều (?-?) con ông Ngụy Khắc Huy, cháu ông Ngụy Khắc Tuần. Vì cha và ông có công, nên được ấm thụ chức Kiểm thảo sau được bổ làm Tri huyện huyện Văn Giang, rồi Tri huyện Kim Anh. Năm 1885, Hàm Nghi xuất bôn với Tôn Thất Thuyết, ông được phong Phó sứ sơn phòng Quảng Trị. Đến khi Hàm Nghi bị bắt (1888), ông chạy vào rừng hoạt động cùng với nhóm văn thân giúp đỡ cung cấp vũ khí cho phong trào Cần vương. Nghe tin mẹ ốm, ông về thăm bị bắt. Hoàng Cao Khải khuyên ông ra làm quan, nhưng ông một mực từ chối. Ông bị quản thúc cho đến chết. Năm Ngụy Khắc Kiều 70 tuổi, Đông các đại học sĩ Cao Xuân Dục có câu đối mừng thọ ông như sau:
Đình giáp môn cao, văn mạch kế kim khai thọ mạch
Tùy thời nghĩa đại, tu danh tự cổ yếu hoàn danh

Dịch nghĩa:

Tột đỉnh cửa cao, văn mạch, đến nay truyền mạch thọ
Tùy thời nghĩa lớn, danh tu tự ấy vẹn danh thơm

Giai thoại đối đáp liên quan đến Hoàng Giáp Nguyễn Đăng Huân (1804 - 1837)[sửa]

Nguyễn Đăng Huân sinh tại xã Hương Ngãi, huyện Thạch Thất, tỉnh Sơn Tây (nay là Hà Tây). Từ bé đã nổi tiếng học giỏi, có tài ứng đối. Tương truyền, khi còn nhỏ có vị quan họ Bùi, bạn của cụ thân sinh đến thăm thầy Đăng Huân thông minh lanh lợi liền ra một câu đối như sau:

Nhị thân cư đồng hương, hà địa bất sinh tài, hà tài bất tư thế

Nghĩa là: Hai người ở cùng làng, đất nào chẳng sinh người tài, người tài nào chẳng giúp đời

Đăng Huân liền đối lại ngay: Nhất cử đăng khoa đệ, tự Hương dĩ cập Hội, tự Hội dĩ chí Đình

Có nghĩa là: Một lèo thi đều đỗ, từ thi Hương rồi thi Hội, từ thi Hội đến thi Đình

Vị quan họ Bùi khen ngợi Đăng Huân là người rất có khẩu khí. Quả nhiên sau đó Nguyễn Đăng Huân đã thi một mạch đến Hoàng Giáp Tiến sỹ. ngày nay trên cổng cũ của gia đình vẫn còn dòng chữ “Nguyễn Đình nguyên - đệ nhất bộ”. Nguyễn Đăng Huân được nhận chức Hàn lâm viện ty soạn, sau bổ là Tri phủ Điện Bàn (Quảng Nam).

Thân sinh của cụ Hoàng Giáp là Nguyễn Đình Thực cũng là người thông minh, nhân hậu. Năm Tân Dậu (1801), niên hiệu Bảo Hưng, cụ thi trúng Quốc tử giám thượng đường giám sinh. Sau khi ở Quốc tử giám về quê, cụ mở trường dạy học. Vợ cụ Hoàng Giáp là cụ bà Nguyễn Thị Chuyên cũng là người có học và có tài ứng đối. Theo ghi chép thì trong thời gian cụ Hoàng Giáp còn đi học và đi thi, lý dịch đã bắt cụ bà đi phu thay chồng đắp đê sông Tích, một con sông chảy qua huyện Thạch Thất. Quan tri huyện thấy vậy có hỏi, cụ trình bày lý do, quan huyện ra một vế đối và yêu cầu nếu đối được sẽ miền cho việc phu dịch.

Câu đối như sau: “Phu là chồng, Phụ là vợ, vì chồng nên vợ phải đi phu”
Cụ bà đối lại: “Mẫu là mẹ, Tử là con, thờ mẹ sao con còn nói mẫu”
Quan huyện đỏ bừng mặt, nhưng rất phục, liền tặng cụ một nén bạc và miễn cho việc đắp đê, đồng thời yêu cầu lý dịch về sau không được làm phiền cụ bà nữa. Sau này khi cụ Hoàng Giáp được vinh quy bái tổ, số lý dịch trước đây thường có những hành vi nhũng nhiều, gặp khó khăn cho gia đình, đến lạy cụ tha tội. Cụ không truy cứu, chỉ khuyên bọn chúng từ nay không được quấy nhiễu dân chúng nữa.

Về giai thoại này trong dân gian còn lưu truyền 2 vế đối khác do Nguyễn Đình Thực trực tiếp đối đáp với viên quan nọ như sau:

vế đối 1: Ngã là ta, nhĩ là mày, tại mày nên ta mới ngã
vế đối 2: Phụ là cha, tử là con, công cha con không dám phụ
Những vế đối này cũng rất chuẩn, các cặp cùng nghĩa đã được nêu trực tiếp. Các cặp cùng âm: “phụ” (cha) 2 ”phụ” (phụ bạc); “mẫu” (mẹ) 2 ”mẫu” (nói mẫu: nói bông lơn, nói mỉa mai).
Các cặp cùng nghĩa đã được nêu trực tiếp. Các cặp cùng âm như sau: “phu” (chồng) 2”phu” (phu phen, lao dịch); “ngã” (ta) 2”ngã” (té ngã)

Nghe xong, viên quan lẩm bẩm nhắc lại từng chữ: "Ngã ta, nhĩ... mày, tại mày... ta... ngã... Chậc! Cũng Hán cũng Nôm ... hay thật". Rồi truyền tha cho cả hai vợ chồng. Nhưng về sau, ngẫm nghĩ lại, viên quan mới cảm thấy choáng váng như người vừa bị một cái tát. Nhẩm nhiều lượt: "Tại mày... ta... ngã", đến bây giờ mới thấy chỗ xỏ lá của vế đối, ấy là lời Nguyễn Đình Thực nói với vợ, nhưng cũng chính là lời Nguyễn Đình Thực chửi vào mặt viên quan.

Giai thoại đối đáp của Bảng Nhãn Vũ Duy Thanh (1807 - 1859)[sửa]

Vũ Duy Thanh tên thật là Vũ Văn Tân, tự Trừng Phủ, hiệu Mai Khê, Vĩ Nhân, được gọi là "Trạng Bồng" vì đỗ thủ khoa triều Nguyễn tương đương với Trạng nguyên thời Đại Việt. Đương thời ông được ca tụng bởi đôi câu đối:

"Quế tiên nơi bình địa
Trạng nguyên chốn dân gian

Kim Bồn, nay là làng Vân Bồn, huyện Yên Khánh, Ninh Bình. Năm Tân Hợi (1851), đỗ phó bảng. Khoa này, Phạm Thanh người Thanh Hóa đỗ bảng nhỡn. Kéo bảng xong, vua Tự Đức nằm mơ thấy có người bảo: "Khoa này còn bỏ sót lại người tài", và đưa một cái bảng ra, trong có hai chữ Thanh. Khi tỉnh dậy, vua lấy làm phân vân, sau cho mở thêm ngày ân khoa, cho các tú tài củ nhân và phó bảng đã đồ từ trước đến nay đều được vào thi cả. Khoa hội ấy, Vũ Huy Dực đỗ 6 khoa tú tài, được chấm đỗ hội nguyên, Vũ Duy Thanh đứng thứ nhì. Khi vào thi đình, Vũ Duy Thanh được 8 phân, mà Vũ Huy Dực được có 6, thành ra Vũ Duy Thanh đỗ bảng nhỡn trị trạng nguyên, Vũ Huy Dực đỗ thám hoa; vì thế nên thường gọi Vũ Duy Thanh là cụ bảng Kim Bồng. Ngày con đi học, gặp năm nước sông lên to, tri phủ Yên Khánh về đốc dân hộ đê, ông đi ngang qua đó, lính bắt phải xuống khiêng đất, ông xin miễn lấy cớ là học trò yếu ớt. Tri phủ nói: "Nếu thực là học trò, ta ra cho câu đối":

Quan thị đắp đê Kim Bồng, chắn hồng thủy cho dân được cậy
Ông ứng khổi đối ngay: Nhà nho đỗ khoa bảng nhãn, quyết tranh khôi, thì chí mới cam
Câu ra dụng ý dùng bốn thứ quả: thị, hồng, bồng, cậy (chữ thị: tri phủ nguyên là hàm thị độc). Câu đối lại có bốn thứ quả: nho, nhãn, chanh, cam . Lúc đối là ngẫu nhiên, cốt đối cho đúng lệ mà thôi, ai ngờ về sau ông đỗ bảng nhãn, thành ra câu đối có vẻ ứng nghiệm như lời thi sấm, nên mới được truyền tụng. Giai thoại trên theo thuyết khác lại là của ông tổ nghề thêu Lê Công Hành thời Hậu Lê nhưng có khác 1 vài từ ngữ.

Gặp năm tế Nam Giao, ông xung vào chức bồi tự, phàm các quan dự tế, mỗi người phải nghĩ một câu đối để viết vào đàn giao. Câu của ông như sau:

Chí thành tùy địa hữu vu, như tại kỳ thượng, tại kỳ tả hữu
Thánh đức dữ thiên vô gián, nhi huống ư nhân, huống ư quỷ thần
Vế trên lấy chữ trong sách Trung dung: lòng thành tùy chốn nào, cũng có cảm tin như là thần minh ở trên,và ở tả hữu> Vế dưới lấy chữ trong Kinh Dịch: đức nhà vua đối với trời không xa cách (gián đoạn) huống chi người và quỷ thần

Lúc nhàn rồi ông cao hứng vịnh bài thơ "Phong Hoa Tuyết Nguyệt":

Thi đàn tế liễu lộng hoa hài
Khách bộ tùy sương, ấn bích đài
Kỳ cục đả phong thanh áp trận
Tửu biều nghinh tuyết bạch hòa bôi
Sơ liêm thấu nguyệt hương ly cúc
Yến tịch lăng hoa vị át mai
Phi phất lĩnh đầu chiêm tĩnh điếm
Thi đàn tế liêu lộng hoa hài

Dịch nghĩa:

Đi hài hoa đến thi đàn, qua dặng liễu nhỏ
Lốt giầy khách đi sớm, in trên rêu biếc
Nhân lúc gió mát đánh cuộc cờ
Có tuyết xuống nghiên bầu rượu uống
Vườn cúc bóng trăng soi qua rèm thưa
Mùi hương hoa mai đưa vào tiệc yến
Phất phơ gió thổi qua điếm vắng trên đỉnh núi
Đi hài hoa đến thi đàn, qua dặng liễu nhỏ
Bài này tài tình, đọc xuôi là thơ chữ Hán, đọc ngược từ dưới lên trên theo lối đọc chữ nôm thì lại thành thơ quốc văn
Giầy hoa lỏng lẻo tới đàn thơ
Điếm tạnh xem đầu núi phất phơ
Mai át mùi hoa lừng tiệc yến
Cúc lìa hương nguyệt thấu rèm thưa
Chén hoà bạch tuyết nghiêng bầu rượu
Trận áp thanh phong đánh cuộc cờ
Rêu biếc in sương theo bước khách
Giầy hoa lỏng lẻo tới đàn thơ

Một hôm vào khoảng thánh hai, có người khách tên Bình Sơn đến nhà, ông đi vắng, khách để lại mấy chữ:

Nhất giáp nhất danh kim bảng quý
Tứ nguyệt tứ nhật ngọc lâu thành

Từ đấy không thấy Bình Sơn trở lại. Đến ngày mồng 4 tháng 4 năm ấy ông từ trần, bấy giờ mới hiểu câu "Tứ nguyệt tứ nhật ngọc lâu thành" . Sau khi từ trần, giám thần dâng sớ lên, vua Tự Đức châu phê : Khả mẫn gia tuất tiền bách (khá thương gia ân cho 100 quan tiền), và cho đưa quan tài về quê ở Ninh Bình, tư cho đi qua tỉnh nào, các học quan tỉnh ấy đều phải phúng điếu. Các quan ở Kinh có câu đối viếng:

Cửu nguyên di hận Trà Sơn úc
Thiên lý quy hồn Thuý Lĩnh phong
Chín suối còn di hận ở vùng núi Trà sơn (thuộc Đà Nẵng): Lúc Pháp đánh cửa Đà Nẵng, ông có dâng sớ xin tòng quân, nhưng vua không cho. Du hồn về núi Thúy sơn, đường xa nghìn dặm (Thuý sơn thuộc Ninh Bình).

Câu đối của bảng nhãn Phạm Thanh:

Phạm Thanh (1821 - ? ) hiệu là Đạm Trai và Nghị Trai, tự là Di Khanh, người thôn Nội, xã Trương Xá, tổng Đăng Trường, huyện Hậu Lộc, phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa (nay là xã Hoa Lộ, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa). Ông đỗ Giải nguyên kì thi Hương năm Mậu Thân 1848, niên hiệu Tự Đức. 3 năm sau, ông đỗ Bảng nhãn. Phạm Thanh làm quan Tham tri Hộ bộ. Ông đã viếng Vũ Duy Thanh như sau:

Nhân bảo đương vi thiên hạ tích
Hoạn tình năng động cửu trùng lân
Người quý nay mất đi, thiên hạ đều tiếc
Tính làm quan thanh bạch, cửu trùng cũng thương

Câu đối của nội các Vũ Phạm Khải:

Đông canh đồng thuận, đồng tính thị châu lư, vãn bối suy quân tiêu vật vọng
Thử cảnh thử tình, thử giang sơn bi kiệt, tích hiền tiên ngã ký sầu ngâm
Cùng tuổi, cùng học, cùng họ lại cùng tỉnh, những học trò lớp sau đều tôn trọng ông là bực tiêu biểu: (ông Khải chỉ đỗ cử nhân nên mong học trò lớp sau, đỗ được cao như ông bảng ).
Tình ấy, cảnh ấy, núi sông ấy và bia đá ấy, người hiền xưa đã trước ta, gửi tiếng sầu ngâm: (người xưa, chỉ Trương Hán Siêu, vì Trương làm bài văn bia Linh Tế Tháp, ông Bảng có bài Bình Linh Tế Tháp, việc văn chương có can hệ đến mối sầu cảm.)

Những câu đối đề ở nhà thờ họ Vũ làng Kim Bồng:

Câu thứ nhất:

Vế phải : BảNG NHÃN THỊ TRạNG NGUYÊN KHOA DANH THUỶ THỬ.

Nghĩa: (đỗ Bảng Nhãn, coi như là đỗ Trạng Nguyên vậy, khoa Bảng và danh tiếng bắt đầu từ đây)

Vế trái : VĂN CHƯƠNG KIềM HẠNH ĐỨC HọC GIả NGƯỠNG CAO

Nghĩa: (Tài văn chương gồm luôn hạnh kiểm, đức độ, khiến giới có học phải ngưỡng mộ ông ở chổ trên cao).

Lùi vào phía trong, nơi đặt Ngai thờ Bài vị cụ Bảng và song thân, có câu khác nội dung như sau:

Vế phải: SĨ HOẠN HOÀNG LÊ SƠ ĐĂNG PHÚC

Vế trái: KHOA DANH Đế NGUYỄN KINH THốNG QUANG.

Những câu đối của Ông Nghè Nguyễn Quý Tân (1814 - 1858)[sửa]

  • Câu đối gà cho học trò:

Nguyễn Quý Tân hiệu Đình Trai, người làng Thượng Cốc, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương. Khi chưa đỗ ông Nghè, Nguyễn Quý Tân có mở trường dạy học. Một hôm thấy các trò lớn đều đến chậm, ông hỏi chuyên cớ thì được các trò cho biết như sau: Nguyên ở gần trường, ngay giữa lối học trò qua lại, có một cô gái nhà nọ người xinh đẹp mà lại giỏi chữ. Học trò qua lại thường buông lời chòng ghẹo, nhưng cô ta không trả lời. Một hôm có mấy anh chàng táo bạo, vào tận nhà làm thơ ghẹo cô ta. Cô ta tức khí mới ra một vế đối, bảo hễ đối được thì sẽ tiếp chuyện, bằng không thì đừng có qua lại trước cửa nhà cô ta. Mấy anh chàng không đối được. Thế là cả đám học trò từ đấy không dám vác mặt qua lối ấy nữa, mà phải đi vòng lối ven làng do đó đến chậm...Thầy đồ Tân thấy câu chuyện lý thú, bèn hỏi: "Câu ra thế nào?" Một học trò đứng dậy: Yêu nhau như bàu, như rót, như hót vào thúng, như búng con quay, như xoay thợ tiện, như bện hàng tơ

Thầy nghe qua nói: "Tưởng gì, câu tục ngữ ấy mà không đối được à? Các anh dốt thế chả trách được!"
Rồi thầy gà luôn cho các trò câu đối lại như sau: Lấy đây có bầu, có bạn, có ván cơm xôi, có nồi cơm nếp, có đệp bánh chưng, có lưng hũ rượu.
Các trò được thầy gà cho, mừng quýnh, tranh nhau học lấy làm lòng. Chiều về, cả bọn lại hiên ngang đi qua lối cũ và vào gặp cô gái để xin đối. Cô gái nghe câu đối rất phục, bằng lòng tiếp chuyện. Nhưng các trò đã bị một phen hú vía, nên đều bảo nhau bớt mồm bớt miệng, không dám giở thơ giở phú ra với cô ta nữa.
  • Câu đối viết hộ 2 chị em góa chồng:

Nghè Tân ở gần nhà một người có hai vợ, hai người vơ lại là hai chị em ruột nên ăn ở rất thuận hoà. Một hôm người chồng bị vu cao là tòng đảng với kẻ cướp nên phải đi tù mấy năm ròng, đến khi được tha không đầy một tháng thi mắc bệnh mà chết. Hai chị em xót thương chông mới sang xin ông Nghè câu đối về thờ, ông viết :

Nghĩ rằng rết khoẻ nhờ chân, chị ngã em nâng đành đã vậy!
Ai ngờ cóc chết hết chuyện, quan tha ma bắt biết làm sao?
  • Giai thoại xướng họa cùng Uy Viễn Tướng Công Nguyễn Công Trứ:

Tương truyền, khi Nguyễn Công Trứ về lĩnh chức Tổng đốc vùng Hải An thì Nguyễn Quý Tân vừa mới thi đậu cử nhân. Nghe tiếng quan Tổng đốc là bậc tài hoa, Nguyễn Quý Tân muốn gặp. Thế rồi từ chỗ mến tài nhau, nên tuy hơn tới ba giáp nhưng Nguyễn Công Trứ và Nguyễn Quý Tân đã trở thành bạn tri âm tri kỷ. Công Trứ xin cho Nghè Tân được bổ đi làm Giáo thụ ở Bình Giang, vì nể quan Tổng đốc nên Nghè Tân nhận lời, nhưng vẫn tìm cách “gây sự” bằng cách sai con trai đem một bức thư sang dinh cụ Trứ xin cầm lấy chút tiền làm lộ phí. Nguyễn Công Trứ mở thư xem thì thấy đó là một bài thơ đường luật:

vế ra: Có nghề mà lại cậy chi nghề/ Nghề thế ai ngờ lại hóa nghê/ Vạn sự bất như thân cũng hổ/ Nhất văn vô hữu nợ còn bê/ Công danh chỉ tổ đồ khoe mã/ Cờ biển còn hơn của ướt sề/ Bôn tẩu làm chi cho rách gấu/ Thà rằng ngồi đó vuốt râu dê
Nguyễn Công Trứ đọc xong tuy giận nhưng không nói gì, chỉ sai người lấy tiền, cho cậu con trai của Nghè Tân mang về. Và lẽ tất nhiên là cụ Nguyễn Công Trứ cũng không quên gửi kèm thêm bài thơ họa nguyên vần, mà số từ chỉ thú vật trong đó còn nhiều hơn những...3 con so với 1 trong bài thơ của Nghè Tân!
vế đối: Tám vạn nghìn tư thứ ngỗng nghề/ Thứ nghề áo mũ thứ nghề nghê/ Mày râu ngẫm lại lòng thêm hổ/ Thư kiếm sao đành dạ bỏ bê/ Xanh đỏ rẻ cùi khoe tốt mã/ Phong lưu khỉ gió hót đầy sề/ Xin đừng giở thói văn chương nữa/ Bán chó sao ngoài lại thủ dê?
  • Năm 70 tuổi, Nguyễn Công Trứ làm bài thơ chữ Hán để mời các bạn cùng hoạ nhân dịp “thất thập cổ lai hi”. Cụ Thượng Trứ lại thích nhất bài của của ông Nghè Nguyễn Quý Tân. Sở dĩ như vậy là vì trong khi mọi người đều hoạ bằng chữ Hán thì duy nhất một Nghè Tân viết bằng tiếng Nôm:
Bài thơ "Thất thập tự thọ" của Nguyễn Công Trứ nội dung như sau: 日對兒曹自解頣,今吾不似故吾時,隨機塊儡供人笑,逐驥年花屆古希,老實不堪粧面目,英華安用染鬚髭,自慚毫末渾無狀,怪殺鴻山有是非 Nhật đối nhi tào tự giải di, kim ngô bất tự cố ngô thì, tùy cơ khối lỗi cung nhân tiếu, trực ký niên hoa giới cổ hy, lão thực bất kham trang diện mục, anh hoa an dụng nhiếm tu tỳ, tự tàm tiên liệt hào vô trạng, quái sát Hồng Sơn hữu thị phi (Hằng ngày ta sẽ cùng chơi đùa với trẻ con, ta hôm nay không còn giống ta ngày xưa nữa, ta theo thời mà làm con rối mua cười cho thiên hạ, thấm thoát nay đã đến tuổi cổ lai hi, cái chân chất không cần trau tria mày mặt nữa, vẻ tốt tươi đem nhuộm cho râu tóc để làm gì, ta tự lấy làm thẹn chẳng có chút công trạng gì, thôi hãy phó mặc cho núi Hồng hạ lời khen chê). Bản dịch ra thơ Đường Luật của Lê Thước: "Ngày cùng lũ trẻ cợt đùa chơi, quả thực ta nay khác trước rồi! Múa rối mấy hồi rằng giúp nước, sống lâu bảy chục cũng ơn trời! Thật thà bao quản khoe mình đẹp, tóc bạc xin đành kém vẻ tươi! Những thẹn bất tài không báo bổ, non Hồng thôi mặc tiếng trên đời!"

1 - Bài họa bằng thơ Nôm của Nghè Tân: Bẩy mươi tuổi tác vẫn nhường ri, mới biết xưa kia buổi thiếu thì, rượu tỉnh thơ say hồn Lí Bạch, trúc cười hoa cợt thú Vương Hi, giang sơn nắm lại đôi tay khẩu, văn võ buông ra một ngón tì, cùng kiếp phù sinh hay dở sạch, dẫu ai tiếng thị với lời phi!

Lấy vần Nôm họa lại vần chữ Hán là một việc rất khó, vì đó thực chất là hai ngôn ngữ, một âm vần nhưng ở hai trường nghĩa khác nhau, nhưng ông bạn trẻ Nghè Tân (lúc đó mới 34 tuổi) tài hoa đã tài tình chọn được những từ, những ý rất đắt, rất hợp tâm hợp ý của người bạn già: không gợi đến cái thời “làm con rối mua cười cho thiên hạ”, màchỉ nhắc lại “buổi thiếu thì” xưa kia với những thú vui của cầm kì, thi tửu; còn bây giờ lại vẫn cuộc chơi “ngoài vòng cương toả”, bất chấp miệng thế gian thị phi hay dở.

2 - Bài của Cao Bá Quát: 群山南望獨支頤,遙想先生未老時,自古英雄遇常異,即今齒德見眞稀,飽嘗世味终須酒,斷禁霜花不上髭,聞道鴻峰欲回首,豈應六十九年非 Quần sơn nam vọng độc chi di, dao tưởng tiên sinh vị lão thì, tự cổ anh hùng ngộ thường dị, tức kim xỉ đức kiến chân hy, bão thường thế vị chung tu tửu, đoạn cấm sương hoa bất thướng tỳ, văn đạo Hồng phong dục hồi thủ, khởi ưng lục thập cửu niên phi! (Một mình ngồi chống tay vào cằm, nhìn về các núi phía nam, xa tưởng đến hồi tiên sinh còn chưa già, sự gặp gỡ của bậc anh hùng từ xưa vẫn khác thường, những người tuổi cao đức cả (như tiên sinh) ngày nay thật hiếm thấy, mùi đời đã nếm đủ rồi rốt cuộc vẫn cần đến rượu, cấm ngặt hoa sương không cho bén vào râu, nghe nói tiên sinh muốn quay về ngọn núi Hồng, vậy lẽ nào cách xử thế năm sáu mươi chín tuổi của tiên sinh là không phải sao?) Trúc Khê dịch ra thơ Đường Luật: "Non nam một dải ngó xa xa, nhớ lại tiên sinh lúc chửa già, từ trước anh hùng nhiều chuyện lạ, đời nay xỉ đức thấy ai chưa? Mùi đời nếm chán cần thêm rượu, râu mép phun nhiều cấm điểm hoa, nghe nói non Hồng sắp trở lại, lẽ nào lầm cả những năm qua?"

Những câu đối của Tri Phủ Hán Dương Ngải Tuấn Mĩ tặng đoàn sứ bộ Đại Nam[sửa]

Năm 1868, vua Tự Đức cử đoàn sứ bộ sang triều cống nhà Mãn Thanh. Cầm đầu là Kinh Lược Sứ Bắc Kỳ Lê Tuấn, phó sứ là Nguyễn Tử Giản, phó sứ thứ 2 là Hoàng Tịnh. Sau 125 ngày họ đến huyện thành Hà Dương tỉnh Hồ Bắc, ở đó đoàn Sứ bộ Việt Nam được viên tri phủ Hán Dương là Ngải Tuấn Mỹ đón tiếp và tặng mỗi người một đôi câu đối:

  • Câu đối tặng chánh sứ Lê Tuấn ( ? - 1884):
Hữu khẩu tu ngôn thiên hạ sự (Có miệng nên nói việc thiên hạ)
Kháng hoài bất nhượng cổ chi nhân (Nghị lực không chịu nhường người xưa)
Lê Tuấn là người huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh, thi đậu Hoàng giáp khoa thi Đình Quý Sửu - 1853. Ông từng làm Thượng thư bộ Hình, Kinh lược sứ Bắc Kỳ. Hòa ước năm Giáp tuất 1874 do Lê Tuấn, Nguyễn Văn Tường và toàn quyền đại thần làm khâm sai cho quốc trưởng Pháp là Dupré, tổng thống Nam Kỳ thủy lục quân dân đại nguyên soái, cùng bàn định và kí tên. Lê Tuấn qua đời năm 1884 ở Gia Định. Krantz đưa tàu thủy hộ tống linh cữu và sứ bộ về Huế. Vua ra dụ thương tiếc, truy tặng chức hàm và sai hoàng tử trưởng Ưng Chân đến tế linh cữu Lê Tuấn.
  • Câu đối tặng phó sứ Nguyễn Tư Giản (1823 - 1890):

Nguyễn Tư Giản trước có tên: Văn Phú, Địch Giản, sau mới đổi lại là Tư Giản, tự: Tuân Thúc, Hy Bật, hiệu: Vân Lộc và Thạch Nông. Nguyễn Tư Giản sinh tại làng Du Lâm, huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh (nay là thôn Du Lâm, xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội). Dưới đây là đôi câu đối do Ngải Tuấn Mĩ tặng ông lúc đi sứ Trung Quốc:

Thập tải luân giao cầu cổ kiếm (Mười năm chọn bạn như tìm thanh kiếm cổ)
Nhất sinh đê thủ bái mai hoa (Một đời chỉ biết cúi đầu lạy hoa mai)
Đôi câu đối này được hậu thế gán cho Cao Bá Quát sáng tác, rước đó 14 năm, Cao Bá Quát đã hy sinh trong cuộc khởi nghĩa Mỹ Lương (Giáp Dần 1854)... phải chăng người đời do quá yêu mến Chu Thần Tiên Sinh nên cứ thích tương truyền câu “nhất sinh đê thủ bái mai hoa” là của ông như một giai thoại để đời?
  • Câu đối tặng phó sứ Hoàng Tịnh:
Truyền thần cổ hữu Lý Tư Huấn (Truyền thần xưa có Lý Tư Huấn)
Vấn tự kim vô Dương Tử Vân (Hỏi chữ nay không Dương Tử Vân)
Những câu đối này được chép trong “Yên thiều bút lục” của Nguyễn Tử Giản sách viết tay của thư viện khoa học Trung ương, số A.852 tờ 18a-b; Cứ liệu trên đã được các học giả Tảo Trang và Hoa Bằng đưa ra trên tạp chí văn học số 2-Hà Nội năm 1972, trang 61 và 64.

Giai thoại đối đáp của thầy Võ Tử Văn và các học trò[sửa]

Triều Tự Đức có một vị thầy nổi danh cả một vùng đó là Ông Võ Tử Văn người làng Nại Cửu, phủ Triệu Phong (nay là huyện Triệu Phong) tỉnh Quảng Trị. Ông học rất giỏi nhưng chỉ có số làm thầy nhưng không có số làm quan. Học trò ông rất đông, trong số đó có ba môn sinh xuất sắc :Lê Cảnh Trinh, Lê Bá Thoại và Ông đốc Tham Triều. Một hôm, thầy Văn bảo học trò làm câu đối cho ông xem tướng, đề tài nói về cái đình làng Nại Cửu, đình làm trong một khu đất đẹp , rộng rải, thoáng mát ở đầu làng, trước có một cái hồ, sau có một cái hồ và chung quanh có tường bao bọc. Sau một hồi suy nghĩ ông Lê Cảnh Trinh đọc trước:

Thành như trung, Hình như ngoại
Giựt hồ hậu, Dẩn hồ tiền
Văn phong thanh thoát, ý văn oai vệ thầy Văn khen hay đoán rằng sau nầy Ông Trinh sẽ làm quan to, vinh hiển làng nước, bà con được nhờ.

Kế đến ông Đốc Tham Triều đọc đôi câu đối như sau::

Khí khái bình sinh thiên địa
Sương thê hạ vũ xuân thu

Lời văn cao ngạo, dũng mãnh nhưng buồn. Ông thầy Văn đoán rằng ông đốc về sau cũng đổ đạt làm quan to nhưng kết cục buồn. Câu đối của Ông Lê Bá Thoại cũng rất hay (hiện đã thất truyền), về sau đổ đạt rất cao.

Thật vậy, khoa thi năm đó ông Lê Bá Thoại đổ Tiến Sĩ bổ nhiệm Tham Tri, Ông Lê Cảnh Trinh đổ phó bảng bổ nhiệm thượng thơ đầu triều.Ông Đốc Tham Triều cũng trúng khoa và được bổ nhậm đốc học. Trong khi làm đốc học, ông đốc Tham Triều thấy thói ngang ngược của bọn thưc dân ông ngăn không được, buồn tình ông từ quan về Tham Triều cất chòi tranh để ở ,làm thơ ngâm vịnh, vui chơi quên ngày tháng. Không lâu sau trong một đêm tối trời căn chòi tranh của ông Đốc Tham Triều bốc cháy và hỏa thiêu ông luôn, người ta nói rằng ông Đốc đã tự vẫn. Thế là ứng với câu đối buồn:…"Sương thê hạ vũ xuân thu".

Ông Trinh đổ thấp hơn ông Thoại nhưng lại làm quan lớn hơn, điều gây ra sự hục hặc, đau đầu cho ông tiến sĩ. Một dạo nọ, quan tri phủ Triệu Phong người quê Nghệ An về trấn nhậm, ông đổ tiến sĩ nên coi thường quan Thượng chỉ là phó bảng. Không lâu, quan tri phủ vì một tội gì đó mà bị cách chức và bị đục bia tiến sĩ, không biết có phải do quan thượng hay không? Họ Lê Bá có làm mới nhà thờ, Ông quan Thượng có làm hai câu đối rất nổi tiếng, tặng họ ngoại, được treo vào hai cột ở tiền điện:

Nội ngoại thù nguyên giai vọng tộc
Thi thơ dư khánh hữu văn tôn
Hai câu đối ngoài việc ca tụng uy danh họ hàng, còn đoán rằng trong họ sau nầy có con cháu đổ đạt cao và làm quan to.

Ông quan Tham Tri chẳng chịu thua, ông làm hai câu đối cũng tài hoa và phải treo ở cửa Tam quan:

Giang hữu thu lai lưu thủy diễu
Đương triều vũ thế viễn sơn thanh

Tuy có phần hục hặc nhau lúc sanh tiền là cả hai nhân tài sinh ra cùng một nơi và cùng thời , nhưng cả hai người đều tương kính. Bằng chứng là khi quan thượng qua đời, quan tham đi hai câu đối thể hiện sự kính trọng và tình cảm thân thương của mình;

Dư thế tâm bình tố liễu công danh hoàn thế cuộc
Đồng hương nghị thuyết tưởng vô ngôn mạo xúc tâm hoài