Bước tới nội dung

Thư thứ hai gửi tín hữu Têsalônica

Bộ sưu tập danh ngôn mở Wikiquote
Câu Kinh Thánh II Têsalônica 3:16 trên tường nhà tại Latvia

Thư thứ hai gửi tín hữu Têsalônica (tiếng Hy Lạp cổ: Προς Θεσσαλονικεις Β΄) hay gọi đơn giản II Têsalônica là sách thứ 14 trong Kinh Thánh Tân Ước. Theo truyền thống, thư do sứ đồ Phaolô viết cho Hội thánh tại Têsalônica (Θεσσαλονίκη) với Timôthê là đồng tác giả, tuy vậy có văn phong và thần học khác biệt nhất định với Thư thứ nhất gửi tín hữu Têsalônica. Thư được viết khoảng năm 51-52, ngay sau thư thứ nhất.

Nguyên tác chép bằng chữ Hy Lạp Koine.

Kinh Thánh[sửa]

Các câu trích dẫn lấy từ bản văn Kinh Thánh Tiếng Việt 1926 (Wikisource) trừ khi có ghi chú khác.

  • ἔνδειγμα τῆς δικαίας κρίσεως τοῦ Θεοῦ, εἰς τὸ καταξιωθῆναι ὑμᾶς τῆς βασιλείας τοῦ Θεοῦ, ὑπὲρ ἧς καὶ πάσχετε,
    Đó đủ chứng cớ về sự đoán xét công bình của Đức Chúa Trời, Ngài muốn khiến anh em nên xứng đáng cho nước Ngài, và vì nước đó mà anh em chịu khổ. (II Têsalônica 1:5)
  • μή τις ὑμᾶς ἐξαπατήσῃ κατὰ μηδένα τρόπον· ὅτι ἐὰν μὴ ἔλθῃ ἡ ἀποστασία πρῶτον καὶ ἀποκαλυφθῇ ὁ ἄνθρωπος τῆς ἁμαρτίας, ὁ υἱὸς τῆς ἀπωλείας,
    Mặc ai dùng cách nào, cũng đừng để họ lừa dối mình. Vì phải có sự bỏ đạo đến trước, và có người tội ác, con của sự hư mất hiện ra, (II Têsalônica 2:3)
  • Αὐτὸς δὲ ὁ Κύριος ἡμῶν Ἰησοῦς Χριστὸς καὶ ὁ Θεὸς καὶ πατὴρ ἡμῶν, ὁ ἀγαπήσας ἡμᾶς καὶ δοὺς παράκλησιν αἰωνίαν καὶ ἐλπίδα ἀγαθὴν ἐν χάριτι,
    Nguyền xin chính Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta, và Đức Chúa Trời Cha chúng ta, là Đấng đã yêu thương chúng ta, và đã lấy ân điển mà ban cho chúng ta sự yên ủi đời đời và sự trông cậy tốt lành, (II Têsalônica 2:16)
  • Ὑμεῖς δέ, ἀδελφοί, μὴ ἐκκακήσητε καλοποιοῦντες.
    Hỡi anh em, phần anh em chớ nên chán mệt làm sự lành. (II Têsalônica 3:13)
    • Thưa anh em, chớ nản lòng khi làm việc thiện. (Bản Truyền Thống Hiệu Đính 2010 -RVV11)
    • Phần anh chị em, thưa anh chị em, xin đừng nản lòng làm việc thiện. (Bản Dịch 2011 -BD2011)
    • Riêng phần anh chị em, thưa anh chị em, chớ mệt mỏi làm việc thiện. (Bản Dịch Mới -NVB)
    • Anh chị em chớ mệt mỏi khi làm việc lành. (Bản Phổ Thông -BPT)
    • Phần anh em, đừng bao giờ chán làm điều thiện. (Bản Diễn Ý -BDY)
    • Còn anh em, đừng quản ngại làm lành! (Bản dịch của Linh mục Nguyễn Thế Thuấn)
    • Phần anh em, hãy làm việc thiện, đừng sờn lòng nản chí! (Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ)
  • αὐτὸς δὲ ὁ Κύριος τῆς εἰρήνης δῴη ὑμῖν τὴν εἰρήνην διὰ παντὸς ἐν παντὶ τρόπῳ. Ὁ Κύριος μετὰ πάντων ὑμῶν.
    Nguyền xin chính Chúa bình an ban sự bình an cho anh em trong mọi khi, đủ mọi cách! Lại xin Chúa ở cùng anh em hết thảy! (II Têsalônica 3:16)

Danh ngôn liên quan[sửa]

  • As he is writing about such matters, Paul takes advantage of the opportunity to give further encouragement to the believers in their continuing difficulties, to request their prayers, and to give general counsel. - Leon Morris, The First and Second Epistles to the Thessalonians, Wm. B. Eerdmans Publishing, 2009, tr. 12
    Khi viết về những vấn đề như vậy, Phaolô tận dụng cơ hội để khích lệ thêm các tín hữu đang liên tục gặp khó khăn, nhắn họ cầu nguyện và khuyên dạy chung.
  • It deals more fully and urgently with two important points raised in the former letter, as they present themselves in their further development. - George Gillanders Findlay, The Epistles to the Thessalonians, University Press, 1908, tr. 26
    Thư này giải quyết đầy đủ và cấp thiết hơn hai điểm quan trọng được nêu ra trong thư trước, khi trình bày sự phát triển kế tiếp của các điểm này.
  • The Epistles to the Thessalonians are doubly interesting. - R. V. Dunlop, Lectures on St. Paul's First Epistle to the Thessalonians., R. Grant & Son, 1882, tr. xvii
    Các thư gửi cho tín hữu Têsalônica thú vị gấp đôi.
  • The report showed that while there was much to call forth thanksgiving, there was that also which seemed to necessitate Apostolic intruction and exhortation, and in certain quarters reproof. - George Watts Garrod, The Second Epistle to the Thessalonians: Analysis and Notes, Macmillan, 1900, tr. 24
    Nội dung cho thấy dù có nhiều điều để tạ ơn thì cũng có những việc khác cần các sứ đồ chỉ dẫnkhuyên nhủ, thậm chí trong số đó đáng bị khiển trách.
  • It has been supposed by a few commentators of recent times that this so-called Second Epistle to the Thessalonians is in reality the First, having had assigned to it the second place simply on the ground that it is the shorter of the two. - John Hutchison, Lectures chiefly expository on st. Paul's first and second Epistles to the Thessalonians, T. & T. Clark, 1884, tr. 255
    Vài nhà bình luận gần đây cho rằng Thư thứ hai gửi tín hữu Têsalônica trên thực tế là thư thứ nhất, thư được xếp phía sau chỉ vì ngắn hơn mà thôi.

Xem thêm[sửa]

Liên kết ngoài[sửa]